Tìm hiểu R-plasmid ở một số chủng Salmonella typhi phân lập tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 12

TCNCYH 23 (3) 2003
Tìm hiểu R-plasmid ở một số chủng Salmonella typhi
phân lập tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Đắc Trung
1
, Lê Văn Phủng
2

và Lê Huy Chính
2

1
Đại học Y Thái Nguyên
2
Đại học Y Hà Nội

Các chủng Salmonella typhi đa đề kháng hiện đã lan tràn tới hầu hết các vùng trong cả nớc.
Nghiên cứu đã dùng 90 chủng Salmonella typhi phân lập từ Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí
Minh để nghiên cứu về các plasmid của chúng. Kết quả cho thấy:
Đã tìm thấy hai plasmid 120 Kb và 102 Kb ở các chủng kể trên, plasmid 120 Kb có 2 copy.
Plasmid 120 Kb là một R-plasmid lớn, có khả năng tự truyền cho chủng khác và mang ít nhất 5
gene kháng kháng sinh: chloramphenicol, tetracycline, ampicillin, trimethoprim và
sulphamethoxazole.
Phân tích bằng enzyme hạn chế EcoR I cho thấy, các R-plasmid từ các chủng Salmonella phân
lập ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh đều giống nhau.

I. đặt vấn đề
Thơng hàn là một bệnh truyền nhiễm hay
gây thành dịch, do một số loài thuộc giống
Salmonella gây nên, trong đó hay gặp nhất là

nghiên cứu
1. Đối tợng nghiên cứu
90 chủng S. typhi đợc phân lập từ các bệnh
nhân thơng hàn:
- Hà Nội : 30 chủng

32
TCNCYH 23 (3) 2003
- Huế : 30 chủng
- Tp Hồ Chí Minh : 30 chủng
Những chủng S. typhi đợc nghiên cứu đều
đã đợc xác định mức độ nhạy cảm với 4
kháng sinh: chloramphenicol (CHL), ampicillin
(AMP), tetracycline (TET) và co-trimoxazole
(SXT). Những chủng kháng CHL đều là những
chủng đa kháng thuốc (kháng với 2 kháng sinh
trở lên).
2. Vật liệu
* Chủng vi khuẩn mẫu: Do trờng đại học
Gifu, Nhật Bản cung cấp (40-Tsukasa-machi,
Gifu, Japan), gồm E.coli V517 (mang 8
plasmid mẫu, đã biết trớc kích cỡ) và E.coli
GGS 75 (nhạy cảm với CHL, kháng với
Nalidixic axit).
* Enzyme hạn chế EcoR I (BioRad, Pháp)
* Kháng sinh bột và khoanh giấy kháng
sinh (Meiji, Nhật Bản).
3. Phơng pháp nghiên cứu
3.1. Xác định lại các chủng S. typhi:
Theo thờng quy chuẩn của WHO [9]

% 28,8 35,6 35,6
- 64/ 90 chủng S. typhi (71,1%) có plasmid.
- 63/ 69 chủng S. typhi kháng CHL (91,3%)
có plasmid.
- 6/ 69 chủng S. typhi kháng CHL (8,7%)
không tìm thấy plasmid, 6 chủng này là những
chủng đặc biệt. Chúng đa kháng thuốc (theo hồ
sơ) nhng lại không tìm thấy plasmid nào, vì
vậy, chúng đã đợc kiểm tra lại mức độ nhạy
cảm với 4 kháng sinh CHL, AMP, TET và
SXT. Kết quả cho thấy có 1 chủng trở nên nhạy
cảm với các kháng sinh đợc thử, 5 chủng còn
lại vẫn giữ nguyên khả năng đề kháng.
2. Số lợng và độ lớn plasmid
Sau khi tiến hành tách chiết plasmid theo
quy trình của Kado và Liu và quan sát trên
điện di gel agarose chúng tôi đã xác định đợc
sự xuất hiện của 2 loại plasmid ở các chủng S.
typhi đợc nghiên cứu (Hình 1).

33
TCNCYH 23 (3) 2003

Hình 1 : Hai loại plasmid ở Salmonella typhi

và chromosome tơng ứng qua phép đo mật độ
màu hai thành phần này, kích cỡ plasmid và
chromosome của chủng S. typhi đã biết, cho
phép chúng tôi xác định đợc số bản sao đặc
trng so với chromosome của plasmid 120 Kb
là 2.
4. R-plasmid tự truyền ở S. typhi đa
kháng thuốc
Sự xuất hiện phổ biến của plasmid 120 Kb ở
đa số những chủng S. typhi đa kháng thuốc
phân lập tại Hà Nội, Huế và Tp Hồ Chí Minh,
cũng nh kích cỡ và số lợng bản sao của
plasmid này cho phép hiểu rằng đây có thể là
một plasmid tiếp hợp mang một số gen kháng
thuốc của vi khuẩn (R-plasmid tự truyền).
Để xác định vai trò của plasmid này trong
cơ chế đề kháng cũng nh sự lan truyền của
một số gen kháng kháng sinh ở S. typhi, chúng
tôi đã tiến hành thực nghiệm tiếp hợp giữa một
chủng S. typhi kháng CHL (mang 1 plasmid
120 Kb) nhng nhạy cảm NAL với chủng

34
TCNCYH 23 (3) 2003
E.coli GGS 75 nhạy cảm CHL (không mang
plasmid) nhng kháng NAL.
Kết quả thực nghiệm tiếp hợp cho thấy tính
kháng thuốc của S. typhi đã đợc truyền sang
cho chủng E.coli GGS 75 thông qua R-plasmid
120 Kb. Các gen đề kháng với những kháng

Trong số 69 chủng S. typhi đa đề kháng
đợc nghiên cứu, đã tìm thấy 2 loại plasmid.
Có 63 (91,3%) chủng có mang ít nhất 1
plasmid còn 6 chủng không tìm thấy plasmid
nào.
Hiện tợng vi khuẩn đề kháng trở nên nhạy
cảm với các kháng sinh sau một thời gian dài
lu giữ và cấy chuyển đã đợc y văn ghi nhận
từ lâu. Trong nghiên cứu này, 1 chủng S. typhi
đã có hiện tợng nh vậy, hiện tợng này đợc
giải thích là do chúng đã mất các gen đề kháng
với những kháng sinh đó khi giữ chúng trong
những điều kiện không có áp lực chọn lọc. Còn
hiện tợng không tìm thấy plasmid và giữ
nguyên khả năng đề kháng với các kháng sinh
thông thờng (nghĩa là các gen kháng thuốc

35
TCNCYH 23 (3) 2003
vẫn tồn tại trong tế bào vi khuẩn) ở 5 chủng S.
typhi còn lại có thể do các plasmid đã bị phân
ly thành những thành phần có kích cỡ nhỏ hơn
[2], nên với kỹ thuật tách chiết plasmid đã sử
dụng, không phát hiện đợc; hoặc có thể do các
transposon mang các gen kháng thuốc đã
chuyển vị trí từ R-plasmid vào nhiễm sắc thể
của vi khuẩn [3, 5].
2. Đặc điểm của các plasmid:
Plasmid lớn thờng có cấu tạo gồm đầy đủ
các thành phần cần thiết để có thể tự truyền cho

băng (mảnh cắt) với số lợng và vị trí giống
nhau. Tuy cha có điều kiện xác định chính
xác kích cỡ của các mảnh cắt, song có thể thấy
rõ trên Hình 3: 3 plasmid ở 3 chủng S. typhi đa
kháng thuốc phân lập tại ba khu vực khác nhau
đều giống nhau.
Các R-plasmid tự truyền, giống nhau là một
chỉ điểm dịch tễ học phân tử quan trọng để coi
chúng có cùng một nguồn gốc. Nh vậy, với
việc bùng phát dịch thơng hàn kháng thuốc từ
Kiên Giang năm 1993, có thể coi Kiên Giang
đã là nguồn gốc của các chủng S. typhi đa đề
kháng và từ đó, chúng lan tràn ra cả nớc.
Phân tích nh trên, một lần nữa, nhắc nhở
chúng ta phải dùng kháng sinh thận trọng, phải
giữ vệ sinh môi trờng tốt để tránh sự xuất hiện
và lan tràn các chủng vi khuẩn kháng thuốc,
gây ra những hậu quả trầm trọng.
V. Kết luận
1.
2.
3.
Hai plasmid với kích cỡ khoảng 120
Kb và 102 Kb đã đợc tìm thấy ở các chủng S.
typhi phân lập tại ba khu vực đợc nghiên cứu.
Plasmid 120 Kb có 2 bản sao.
Plasmid 120 Kb là một R- plasmid tự
truyền, mang ít nhất các gen đề kháng với
chloramphenicol, ampicillin, tetracycline và
trimethoprim/sulfamethoxazole. Qua tiếp hợp,

(1998): Community-acquired septicaemia in
southern Viet Nam: the importance of
multidrug- resistant Salmonella typhi. Trans R
Soc Trop Med Hyg. 92 (5): 503-508.
Holmes R. K. (1986): Genitics. In:
Medical microbiology. 2
nd
ed. Edit. by Baron S.
California: Addison-Wesley. 243: 261-264.
Kado C. I., Liu S. T. (1981): Rapid
procedure for detection and isolation of large
and small plasmids. J Bacteriol. 145: 1365-
1373.
Sambrook J., Fritsch E. F., Maniatis T.
(1989): Molecular cloning. A laboratory
manual. 2nd ed, Vol 1. New York: Cold Spring
Harbor Laboratory Press.
Roy Curtiss (1981): Gene Transfer,
Mannal of Methods for General Bacterilogy,
American Society for Microbiology, 14: 243-
265.
WHO (1991). Blood culture. In: Basic
Laboratory Procedures in Clinical
Bacteriology. 21-25.
C¶m ¬n: C«ng tr×nh nµy ®−îc thùc
hiÖn t¹i labo Trung t©m Y sinh häc vµ bé
m«n Vi sinh Y häc tr−êng §¹i häc Y Hµ
Néi.

Summary


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status