Thực trạng và một số kiến nghị đẩy mạnh ứng dụng thanh toán diện tử ở Trung tâm Thông tin Thương mại - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thương mại điện tử
( TMĐT) ra đời là kết quả hợp thành của nền “ kinh tế số hóa” và “ xã hội thông
tin”. TMĐT bao trùm một phạm vi rộng lớn các hoạt động kinh tế và xã hội, nó
mang đến lợi ích tiềm năng và đồng thời cả thách thức cho người sử dụng.
TMĐT đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu, tuy hiện nay đang áp
dụng chủ yếu ở các nước công nghiệp phát triển nhưng các nước đang phát triển
cũng đã bắt đầu tham gia. Toàn cầu đang hướng tới giao dịch thông qua TMĐT .
Thanh toán điện tử là yêu cầu cấp thiết cần được nghiên cứu và ứng dụng để
phát triển hoàn thiện các hoạt động TMĐT. Tuy cơ sở hạ tầng phục vụ cho TMĐT
của Việt Nam còn chưa hoàn thiện, song cùng với xu hướng hội nhập quốc tế, Việt
Nam cũng đã bước đầu tham gia và từng bước thử nghiệm các công cụ thanh toán
điện tử.
Thời gian qua Trung tâm Thông tin Thương mại- Bộ Thương mại đã thực hiện
dự án chạy thử nghiệm chương trình thanh toán trong TMĐT và cũng đạt được một
số thành tựu nhất định.
TMĐT đưa lại lợi ích tiềm tàng giúp người tham gia thu được thông tin về thị
trường và đối tác, giảm chi phí, mở rộng quy mô doanh nghiệp, rút ngắn chu kỳ
kinh doanh và đặc biệt với nước đang phát triển đây là cơ hội tạo bước tiến nhảy
vọt, rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến.
Xuất phát từ thực tế này, em đã chọn đề tài: “Thực trạng và một số kiến nghị
đẩy mạnh ứng dụng thanh toán diện tử ở Trung tâm Thông tin Thương mại ”
làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình. Mục đích của luận văn là thông
qua việc nghiên cứu hoạt động thanh toán điện tủ, trên cơ sở những lý luận đã được
học để đưa ra những biện pháp thiết thực góp phần đẩy mạnh hoạt động thanh toán
điện tử ở Trung tâm Thông tin Thương mại, nơi em thực tập tốt nghiệp.
Nội dung dự kiến bài viết của em gồm 3 phần:
Chương I: Vấn đề thanh toán điện tử và môi trường cho hoạt động thanh
toán điện tử ở Việt Nam.
Trang 1
Chương II: Mô hình thanh toán trong TMĐT ở Trung tâm Thông tin

dữ liệu của các giao dịch từ website của người bán sang trung tâm thanh toán thẻ tín
dụng để hợp thức hóa quá trình thanh toán thẻ tín dụng.
1.1.4/ Các hình thức thanh toán điện tử:
Trang 3
Thanh toán là một khâu không thể thiếu được trong các cuộc giao dịch buôn
bán và ngày nay khi thương mại điện tử phát triển thì vai trò của thanh toán cũng
không thể mất đi và nó càng cần thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, để bắt kịp xu thế
của thời đại – xu thế thương mại hoá điện tử toàn cầu – thì một yêu cầu mới nảy
sinh đòi hỏi hệ thống thanh toán cũng phải phát triển theo, phù hợp với những giao
dịch mua bán trong thương mại điện tử. Vì thế thanh toán điện tử đã ra đời để phục
vụ cho thương mại điện tử và nó ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức thanh
toán mới, linh động, tiện lợi.
- Thanh toán bằng thẻ tín dụng điện tử: Nếu xét trong lĩnh vực ngân hàng thì
hệ thống thanh toán trên thế giới đang ngày được hoàn thiện và đổi mới nhưng khi
so sánh với nhịp độ phát triển ngày càng cao của thương mại điện tử toàn cầu thì
thanh toán được xem là mặt ít phát triển nhất. Tất cả các hàng hoá và dịch vụ được
mua bán qua mạng Internet đều thanh toán qua hình thức thẻ tín dụng cổ truyền. Thẻ
tín dụng điện tử truyền thống và phổ biến nhất hiện nay là Mastercard và
Visacard…
- Thanh toán điện tử qua máy di động kỹ thuật số nối mạng toàn cầu: Đây là
hình thức thanh toán ra đời trong nền “kinh tế số hoá”. Để đáp ứng những đòi hỏi
ngày càng cao của thanh toán trong các giao dịch thương mại điện tử, các nhà sản
xuất điện thoại di động nổi tiếng trên thế giới như Erricsion, Motorola, Nokia,
Siemen… và các ngân hàng khổng lồ như ABN AMRO Bank, Banco Santardard,
Citi Group, Deutsche Bank, HSBC… đã cùng nhau cộng tác để phát triển hình thức
thanh toán điện tử bằng công nghệ điện thoại di động, công nghệ số nối mạng trên
phạm vi toàn cầu.
- Thanh toán qua Homebanking: Ngày nay, các dịch vụ thanh toán điện tử qua
các homebanking đã có ở hầu hết các ngân hàng lớn trên thế giới. Vừa qua, hãng
TVN Entertainment Corporation liên kết cùng hãng Digital Evolution thành lập một

Những ưu điểm trên của tiền mặt điện tử sẽ là những lợi thế để thanh toán
bằng tiền mặt điện tử tồn tại và phát triển trong nền kinh tế số hoá trong tương
Trang 5
lai.Tóm lại, tuy là mặt ít phát triển nhất trong thương mại điện tử nhưng thanh toán
điện tử trên thế giới hiện nay cũng đã có những thay đổi nhất định và thật nổi bật.
Những thay đổi đó đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của hệ thống thanh
toán điện tử trong các ngân hàng nói riêng và sự phát triển của thương mại điện tử
trên thế giới nói chung.
1.2/ HẠ TẦNG CƠ SỞ CHO TMĐT Ở VIỆT NAM
1.2.1/ Hạ tầng pháp lý:
Hiện nay Chính phủ giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ làm đầu mối xây
dựng Luật giao dịch điện tử, dự kiến thông qua vào cuối năm 2005. Đến nay dự thảo
Luật giao dịch điện tử cơ bản đã hoàn thành, Luật giao dịch điện tử sẽ được Uỷ ban
thường vụ quốc hội thông qua vào 2005. Đây sẽ là một khung pháp lý cơ bản tạo cơ
sở cho việc triển khai và phát triển TMĐT tại Việt Nam và là cơ sở để ra các văn
bản dưới luật quy định các vấn đề chi tiết liên quan đến TMĐT.
1.2.2/ Hạ tầng kỹ thuật:
1.2.2.1/ Hạ tầng công nghệ thông tin
• Phần cứng: Hiện nay toàn quốc có 200 máy tính mini Servers, 700.000 máy
vi tính PC. Công suất sử dụng bình quân chưa cao, hiệu quả sử dụng còn
thấp.
• Phần mềm, các cơ sở dữ liệu và dịch vụ CNTT: Hiện nay toàn quốc có
khoảng 3.000 phần mềm hệ thống và 10.000 phần mềm ứng dụng.
1.2.2.2/ Hạ tầng viễn thông:
Tổng công ty Bưu chính viễn thông hiện đang triển khai cung cấp các dịch vụ
Internet qua mạng điện thoại nội hạt trong cả nước. Mặc dù hiện nay cước phí thuê
bao vẫn còn cao so với mặt bằng chung trên thế giới mặc dù đã giảm so với
trước.Có thể nói hạ tầng viễn thông của ta vãn còn nhiều bất cập để chuẩn bị cho
việc phát triển ứng dụng TMĐT.
1.2.2.3/ Hạ tầng Internet:

Trang 7
Thực trạng của các Ngân hàng Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ cho TMĐT:
Bốn ngân hàng trong thương mại quốc doanh lớn chiếm 80% tổng khối lượng
giao dịch và có tới 70% tổng số tài khoản khách hàng trong đó có nhiều khách hàng
lớn là các tổng công ty 90/91. Phương tiện thanh toán bằng tiền mặt tuy đã giảm
dưới 12% tổng khối lượng thanh toán và không còn giữ vai trò là phương tiện thanh
toán chủ yếu nữa. Các phương tiện thanh toán bằng chứng từ như séc, lệnh thanh
toán được uỷ quyền v.v…càng ngày càng chiếm vị trí chủ yếu (85% trong khối
lượng thanh toán qua các hệ thống ngân hàng). Đến nay Ngân hàng Nhà nước và
bốn ngân hàng thương mại quốc doanh đều có hệ thống bù trừ và thanh toán liên
ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước. Ngoài ra các ngân hàng còn tham gia hệ thống
thanh toán S.W.I.F.T với hàng ngàn lượt bức điện thanh toán đi/đến.
Mặc dù vậy các ngân hàng lớn trong nước chưa chuyển đổi được các mô hình
giao dịch cũ sang mô hình ngân hàng hiện đại có các sản phẩm dịch vụ TMĐT được
cung cấp trên Internet, đến từng khách hàng và cho phép các khách hàng có thể đặt
hàng và thanh toán qua mạng đáp ứng nhu cầu của nhiều khách hàng đòi hỏi các
khoản thanh toán qua mạng đáp ứng nhu cầu thực hiện ngay lập tức. Mặt khác ngân
hàng trong nước còn phải chịu sức ép cạnh tranh từ phía các ngân hàng nước ngoài
với cách thức hoạt động chuyên nghiệp.
1.2.6/ Bảo vệ sở hữu trí tuệ:
Pháp luật Việt Nam bảo vệ các đối tượng sở hữu trí tuệ sau: Quyền tác giả;
sáng chế; giải pháp hữu ích; nhãn hiệu hàng hóa; kiểu dáng công nghiệp; tên gọi
xuất xứ hàng hóa. Ngoài ra, các qui định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, tên thương mại và chống cạnh tranh không
lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp cũng vừa mới được ban hành.
1.2.7/ Bảo vệ người tiêu dùng:
Giao dịch TMĐT mang tính toàn cầu, không giới hạn trong phạm vi một quốc
gia, một vùng lãnh thổ, người bán và người mua không giao dịch trực tiếp; sự rủi ro,
bất trắc trong giao dịch cao hơn hình thức thương mại truyền thống. Những đặc
Trang 8

Sự ra đời và phát triển của TMĐT là xu thế tất yếu, khách quan của quá trình
số hoá, là kết quả của sự nỗ lực của từng nước và toàn thế giới trong việc tạo môi
trường pháp lý và đường lối chính sách cho nền kinh tế số hoá.
Trong tổng doanh số của TMĐT, buôn bán giữa các doanh nghiệp chiếm
khoảng 50%, dịch vụ tài chính và các dịch vụ khác 45%, dịch vụ bán lẻ 5%. Như
vậy, tuy mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ trong khoảng chưa đầy 10 năm qua nhưng
TMĐT đã chứng tỏ là một lĩnh vực ẩn chứa khả năng phát triển tiềm tàng.
Thực tế TMĐT đã đem đến những lợi ích thiết thực, giúp người tham gia
TMĐT thu được thông tin phong phú về thị trường và đối tác, giảm chi phí tiếp thị
và giao dịch, rút ngắn chu trình sản xuất, tạo dựng và củng cố quan hệ bạn hàng, tạo
điều kiện dành thêm nguồn nhân lực để mở rộng quy mô và công nghệ sản xuất.
Xét trên bình diện quốc gia, trước mắt TMĐT sẽ kích thích sự phát triển của
lĩnh vực CNTT, đồng thời TMĐT sẽ tạo điều kiện cho việc sớm tiếp cận với nền
kinh tế số hoá (digital economy). Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
các nước đang phát triển. Sớm chuyển sang nền kinh tế số hoá sẽ giúp các nước
đang phát triển tạo ra bước nhảy vọt, tiến kịp các nước đi trước trong một thời gian
ngắn hơn.
1.4/ Tình hình hoạt động thanh toán điện tử ở Việt Nam.
Nếu xem xét tình hình thanh toán điện tử ở Việt Nam theo các cấp bậc đã phân
chia trước thì thanh toán điện tử ở Việt Nam mới chỉ ở mức độ sơ đẳng nhất, có
nghĩa là thanh toán điện tử này không khác mấy so với giao dịch qua điện thoại -
phone banking - và giao dịch với một máy rút tiền tự động ATM. Vì vậy, để đánh
giá tình hình và triển vọng thanh toán điện tử của các ngân hàng ở Việt Nam thì chỉ
có thể xem xét dựa trên các hoạt động thanh toán bằng thẻ thanh toán điện tử hay
thanh toán bằng hình thức chuyển tiền điện tử.
• Thẻ thanh toán điện tử
Mặc dù phương thức thanh toán bằng thẻ đã trở nên phổ biến trên hầu hết các
nước trên thế giới nhưng ở Việt Nam hình thức này dường như vẫn hoàn toàn mới
Trang 10
mẻ và rất ít người biết đến. Năm 1990, hợp đồng làm đại lý chi trả thẻ Visa giữa

thể trong năm 1998 Vietcom bank đã thực thực hiện 76,258 điện chuyển khoản đi
.ước ngoài, trong đó có 43905 bức điện chuyển tiền cho các tổ chức cá nhân, 13115
bức chuyển tiền cho các tổ chức tín dụng (Nguồn: Báo cáo cuối năm của Ngân hàng
Ngoại thương)
Như vậy, chuyển tiền điện tử đã ngày một phát triển ở các ngân hàng. Tuy
nhiên, hình thức chuyển tiền điện tử mới chỉ được áp dụng thanh toán trong từng hệ
thống ngân hàng. Do đó việc thanh toán giữa các hệ thống ngân hàng khác nhau và
khác địa bàn cũng chưa thực sự nhanh chóng.
- Chuyển tiền nhanh- moneygram: Dịch vụ này chủ yếu phục vụ chuyển tiền
kiều hối. Chuyển tiền qua dịch vụ này nhanh, thuận tiện, thu hút được khách hàng.
Năm qua, ngân hàng Ngoại Thương đã thực hiện được 12989 món với số tiền 8228
triệu USD (Nguồn: Phòng thanh toán thuộc ngân hàng Ngoại Thương).
Tóm lại, trong thực tế giao dịch ngân hàng mới chỉ được tiến hành tại các chi
nhánh, qua thư tín, điện thoại hoặc hệ thống máy giao dịch tự động. Tuy nhiên, một
vài năm qua, nhiều ngân hàng Việt Nam đã đổi mới, bắt đầu sử dụng Internet như
một kênh cung cấp các sản phẩm truyền thống cho người tiêu dùng cũng như bắt
đầu nghiên cứu các sản phẩm phục vụ riêng cho thương mại điện tử.
• Khả năng tiếp cận và phát triển thanh toán điện tử tại các ngân hàng ở Việt
Nam
Để thanh toán điện tử có khả năng đi vào cuộc sống và phát triển, chúng ta
phải tạo vị thế cho thanh toán điện tử cũng như thương mại điện tử và triển khai các
cơ sở cần thiết cho việc phát triển hệ thống thanh toán trong nền kinh tế số. Vì vậy,
ta cần xem xét các cơ sở hạ tầng cho thanh toán điện tử như cơ sở công nghệ, cơ sở
kinh tế, cơ sở chính trị- xã hội với những thuận lợi cũng như khó khăn để từ đó đánh
giá khả năng tiếp cận và phát triển hình thức thanh toán này ở các ngân hàng Việt
Nam trong xu thế điện tử hoá thương mại điện tử toàn cầu.
Trang 12
CHƯƠNG 2
MÔ HÌNH THANH TOÁN ĐIỆN TỬ Ở TRUNG TÂM THÔNG TIN
THƯƠNG MẠI.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status