Một số giải pháp phát triển đội tàu biển nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam pot - Pdf 12

Một số giải pháp phát triển đội tàu biển
nhằm nâng cao sức cạnh tranh của
ngành Vận tải biển Việt Nam
Nhóm Lớp Anh 2 QTKD K44A
05 - Hoàng Thị Ngọc Bích
06 - Lê Hùng Cường
17 - Đặng Trung Kiên
18 - Nguyễn Tùng Lâm
22 - Trịnh Thị Luyến
23 - Nguyễn Nhật Ly
32 - Lê Huy Quyết
35 - Vũ Văn Thiên
36 - Nguyễn Thị Thúy
39 - Vũ Thị Xen
Nội dung
I. Tổng quan về đội tàu biển VN
II.Vai trò của đội tàu biển đối với
vận tải biển VN
III.Một số giải pháp phát triển đội
tàu biển nhằm nâng cao sức
cạnh tranh của ngành vận tải
biển VN
I. Tổng quan đội tàu biển VN
1. Những quy định chung về tàu biển
2. Quá trình hình thành và phát triển
3. Đội tàu biển Việt Nam
4. Thực trạng đội tàu biển Việt Nam:
5. Triển vọng phát triển
1. Những quy định chung về tàu biển

Theo luật Hàng hải Việt Nam 2005, tàu biển là tàu hoặc

1. Những quy định chung về tàu biển
Các loại tàu biển sau phải đăng kí vào sổ đăng kí
tàu biển quốc gia Việt Nam:

Tàu biển có động cơ với công suất máy chính từ
75KW trở lên.

Tàu biển không có động cơ, nhưng có tổng dung
tích từ 50 GT trở lên hoặc có trọng tải 100 T trở lên
hoặc có chiều dài đường nước thiết kế từ 20m trở
lên.

Tàu biển nhỏ hơn các loại tàu biển quy định ở a và
b, nhưng hoạt động tuyến nước ngoài.
2. Quá trình hình thành và phát triển

Điều kiện tự nhiên đã giúp ngành hàng hải Việt Nam phát
triển khá sớm so với các phương thức vận tải khác.

Đội tàu biển ra đời cùng với sự phát triển của ngành vận
tải đường biển.

Ngành Công nghiệp vận tải biển và đóng tàu của Việt
Nam đã không ngừng trưởng thành và phát triển.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đang gấp rút
hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để
hoàn thiện hơn cả về chất lượng lẫn số lượng.
3. Đội tàu biển Việt Nam


-
Một thế mạnh nữa là đóng tàu cỡ trung, nhỏ chuyên dụng
4. Thực trạng đội tàu biển VN
Một số kết quả:

trong giai đoạn 2001-2005, Cục HHVN đã
hoàn thành Đề án Quy hoạch và phát triển
đội tàu vận tải biển quốc gia đến năm 2010

Về thị phần: Thị phần vận tải hàng hóa
XNK của đội tàu biển VN đã tăng từ 13.5%
năm 2000 lên 21% vào năm 2005
4. Thực trạng đội tàu biển VN
Một số kết quả:

Về sản lượng
Trước cánh cửa hội nhập WTO, các doanh
nghiệp đóng tàu VN đã mạnh dạn đầu tư, ứng
dụng máy móc thiết bị công nghệ cao, những
phần mềm thiết kế và công nghệ đóng tàu hiện
đại đưa vào sản xuất để có thể đáp ứng được
những yêu cầu khắt khe, bắt kịp với thế giới.
4. Thực trạng đội tàu biển VN
4.2. Khó khăn và thách thức
4.2.1 Lợi thế so sánh của đội tàu biển VN:
- lợi thế của VN gần như rất hạn chế:
* Tuy giá nhân công ở VN rẻ nhưng không bằng được Trung
Quốc.
* Nhà nước không thể tiếp tục “trợ cấp lộ liễu” đối với vận tải
biển Việt Nam.

450-500 USD/container hàng khô và 750 USD/container
hàng đông lạnh.
- Nguyên nhân: do ko có cảng nào đủ tiêu chuẩn để tàu mẹ
vào xếp hàng nên phải chuyển tải qua 1 số cảng trung gian
và chủ tàu phải chịu thêm chi phí.
4. Thực trạng đội tàu biển VN
4.2. Điểm yếu
4.2.2.Những tồn tại của đội tàu VN
Đội tàu biển VN là “đội tàu già”:
- 85 tàu hoạt động tuyến quốc tế trên 25 tuổi, 34 tàu từ 30 đến 40 tuổi. do chất
lượng kỹ thuật và quản lý kém nên số lượt tàu bị lưu giữ tại cảng nước ngoài ngày
càng nhiều
- Theo Cục đăng kiểm Việt Nam, tàu biển Việt Nam đang nằm trong danh sách
"đen" của Tổ chức hợp tác kiểm tra nhà nước tại các cảng biển khu vực châu Á -
Thái Bình Duơng.
- Hiện Việt Nam đứng thứ 9 trong số các quốc gia có tỉ lệ tàu bị lưu giữ do vi phạm
các quy định về an toàn hàng hải và bảo vệ môi trường quốc tế.
=> Uy tín, thương hiệu của đội tàu biển VN đã bị giảm.
- Nguyên nhân:
+ việc bảo hộ bằng thuế đối với việc NK tàu biển nước ngoài gây khó khăn cho việc đầu tư
các tàu lớn
+ các công ty đóng tàu VN quá tập trung vào đóng tàu XK mà quên đi vấn đề chất lượng
+ Bất cập về đội ngũ thuyền viên
+ Thiếu kinh nghiệm trong quản lý và khai thác
+ Hiện trạng đội tàu:
+ Thiếu cơ sở vật chất ngành và công tác quản lý
4. Thực trạng đội tàu biển VN
4.2. Điểm yếu
4.2.2.Những tồn tại của đội tàu VN
* Đội tàu biển VN phải nhường tới 85% thị phần trong nước


Đóng mới và mua thêm 73 tàu các loại bao gồm:

18 tàu container (bao gồm 6 tàu với tổng trọng tải trên 2.000 TEU)

47 tàu hàng khô và rời (cỡ tàu từ 20.000 đến 35.000 DWT)

8 tàu chở dầu (cỡ tàu từ 30.000 đến 100.000 DWT)

Tổng trọng tải đầu tư đóng mới và mua thêm lên đến 1.850.000 DWT

Đến năm 2010, Vinalines sẽ vận hành khai thác 136 tàu với tổng trọng
tải đạt 2.600.000 DWT

Tổng số hàng hoá vận chuyển của đội tàu Vinalines sẽ chiếm 40-50%
tổng lượng vận chuyển hàng hoá của đội tàu quốc gia .
5. Triển vọng phát triển
- Một điều đáng mừng là Việt Nam sẽ tự sản xuất
container. Nhà máy sản xuất container – TGC (VTC)
đầu tiên này được đặt tại Cụm công nghiệp Tàu thuỷ
Hải Dương.
- Việc Việt Nam tự sản xuất container sẽ có đầu ra
khả quan là nhu cầu của các đội tàu biển Việt Nam và
quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam. Đồng thời, việc
chủ động container giúp các hãng tàu trong nước
nâng cao hiệu quả và cải thiện giá cước vận tải biển,
tăng khả năng cạnh tranh, cũng như góp phần giảm
chi phí đầu vào cho nền kinh tế thông qua cắt giảm chi
phí nhập khẩu. Đồng thời, giúp ngành vận tải biển Việt
Nam tăng tốc và chiếm lại thị phần vận tải biển mà

- Bước đầu hiện đại hoá phương tiện xếp dỡ, qui hoạch và sắp xếp lại kho bãi,
xây dựng và nâng cấp thêm các cầu cảng nên năng lực xếp dỡ được nâng cao,
giải phóng tàu nhanh.
- Một số cảng đã và đang được nâng cấp và mở rộng như Hải Phòng, Cái Lân,
Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ. So sánh với quốc tế, nhìn
chung quy mô cảng còn nhỏ nhưng thời gian qua hệ thống cảng biển Việt Nam
đã đảm nhiệm thông qua hầu hết lượng hàng ngoại thương của ta và hỗ trợ một
phần việc trung chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của Lào, góp phần đưa nước
ta từng bước tiếp cận và hội nhập với khu vực và thế giới.
1. Hiện trạng ngành vận tải biển VN
Trong những năm tới, lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu sẽ tăng với tốc độ cao, đặc biệt là
lượng hàng hoá XNK với các nước trong khu
vực bởi thuế suất XNK ở khu vực này sẽ được
cắt giảm mạnh theo lộ trình đã cam kết.
=>khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu nói
chung và khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu
bằng đường biển nói riêng sẽ tăng đáng kể.
Đây là một điều kiện thuận lợi, một cơ hội tốt
cho ngành vận tải biển Việt Nam lớn mạnh và
phát triển.
2. Vị thế của vận tải biển VN
trên trường quốc tế
Đội tàu biển Việt Nam thua toàn diện
Ngành vận tải biển Việt Nam thu ngoại tệ chủ yếu ở dịch vụ vận
chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Vận tải thuê và cho thuê các dịch vụ vận tải biển, thuyền
viên, thuỷ thủ, dịch vụ sửa chữa tàu, dịch vụ bến bãi thu ngoại tệ

Hiện nay vận chuyển bằng đường biển chiếm tới 80% tổng nhu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status