Chuyên đề tốt nghiệp 1 Trường ĐH KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Tốc độ đô thị hóa trong những năm gần đây của Việt Nam tăng lên rất
nhanh chóng. Kể từ sau năm 1990 cùng sự chuyển biến tích cực về mặt kinh
tế - xã hội, mạng lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và pgats triển cả về số
lượng và chất lượng. Về số lượng đô thị, năm 1990 cả nước có khoảng 500 đô
thị lớn nhỏ đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị và đến năm 2003 thì số đô thị
trên lãnh thổ Việt Nam đã lên đến con số 656 đô thị trong đó có 4 Thành Phố
loại I, 10 đô thị loại II, 13 đô thị loại III, 59 đô thị loại IV và 570 đô thị loại V.
Theo quy hoạch phát triển đô thị đến 2010 tỷ lệ dân số đô thị sẽ đạt 56
– 60% và đến năm 2020 sẽ là 80%. Quá trình đô thị hóa đã góp phần thúc đẩy
nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng nâng cao đời sống của người dân, giải
quyết tốt hơn các vấn đề xã hội. Bên cạnh đó những tác động tiêu cực của vấn
đề đô thị hóa đến môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng đòi hỏi cần có
sự giải quyết một cách hài hòa giữa phát triển kinh tế đô thị và giải quyết các
vấn đề môi trường.
Thành Phố Hà Đông nằm ở phía tây nam Hà Nội với mục tiêu phát triển
thành đô thị xanh – sạch – Đẹp và đến 2020 sẽ trở thành Thành Phố tiêu chuẩn
thì việc giải quyết các vấn đề môi trường đô thị càng trở nên bức thiết hơn.
Do tốc độ phát triển đô thị tại Thành Phố Hà Đông phát triển quá nhanh
cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, sinh hoạt gia tăng với tốc độ nhanh chóng
trong khi đó tình trạng các công trình công cộng ngày càng xuống cấp. Đến
năm 2003 Thành Phố liên tục phải chịu cảnh ngập úng vào mùa mưa, mùa
khô thì lại phải chịu cảnh mùi hôi thối bốc lên từ hệ thống cống cũ đã được
xây dựng từ rất lâu và xuống cấp nghiêm trọng.
Trước tình hình đó Thành Phố Hà Đông đã quyết định thực hiện việc
cải tạo hệ thống thu gom nước thải và nước mưa trên toàn Thành Phố nhằm
khắc phục tình trạng trên phấn đấu thực hiện mục tiêu đến năm 2020 trở thành
Chuyên đề tốt nghiệp 2 Trường ĐH KTQD
một Thành Phố tiêu chuẩn.
Chính vì vậy nên em chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả của việc cải tạo
kinh tế thì các vấn đề môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng và sức ép
của phát triển kinh tế - xã hội lên môi trường ngày càng gia tăng
Nguyên nhân bắt nguồn từ nhiều vấn đề cụ thể:
1.1.1 Sự gia tăng về quy mô dân số
Quy mô dân số Việt Nam rất lớn đứng thứ ba Đông Nam Á, thứ 14 trên
thế giới và là một trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới. Trong
hơn một thập kỉ trước đây ta đã khống chế được tốc độ gia tăng dân số quá
nhanh. Tuy nhiên từ sau năm 2000 đến nay tốc độ này lại có chiều hướng gia
tăng, đặc biệt tình trạng sinh con thứ ba tăng mạnh ở các địa phương.
Nguy cơ tái bùng nổ dân số đang đe doạ sự phát triển bền vững của đất
nước. Dân số cả nước đến nay là hơn 82 triệu dân và hàng năm liên tục tăng
mỗi năm thêm khoảng 1 triệu người. Đây cũng là một áp lực rất lớn đối với
Chuyên đề tốt nghiệp 4 Trường ĐH KTQD
những nỗ lực giải quyết việc làm, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, phát triển
kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường.
Việc phân bổ dân số là yếu tố quan trọng của phát triển. Theo số liệu
điều tra về biến động của dân số và kế hoạch hoá gia đình 1/4/2004, dân số
phân bố không đều và có sự khác biệt rất lớn theo vùng địa lý kinh tế cụ thể:
Đồng bằng sông hồng và đồng bằng Sông Cửu Long là hai châu thổ
sông lớn, nơi có đất đai màu mỡ và điều kiện canh tác thuận lợi chỉ chiếm
17% đất đai nhưng lại có dân số sinh sống chiếm 43% dân số cả nước. Trong
khi đó Tây Bắc và tây nguyên có diện tích đất chiếm đến 27% nhưng chỉ có
8.7% dân số sinh sống. Chính vì vậy hiện tượng di dân tự do từ đồng bằng lên
miền núi,từ vùng núi phía bắc vào phía nam và từ nông thôn vào Thành Phố
vẫn đang diễn ra rất mạnh và rất khó có thể kiểm soát được.
Bên cạnh đó quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ điều này sẽ làm cho
dân số sinh sống ở các vùng nông thôn giảm cùng với đó là việc dân số thành
thị tăng lên rất nhanh theo thống kê của Liên Hợp Quốc thì dân số sống ở
nông thôn trên toàn thế giới sẽ giảm xuống còn 2.8 tỉ người vào năm 2050 so
chế biến và sản xuất hàng xuất khẩu đang được chú ý phát triển cụ thể ở một
số nghành như: Cơ khí chế tạo máy, điện tử, may mặc, giày dép, chế biến
thực phẩm, thủy sản… Tuy nhiên các sản phẩm trên đây tiêu thụ nhiều năng
lượng, nguyên liệu và quá trình sản xuất thường gây ô nhiễm môi trường ở
mức độ cao.
Đồng thời nhiều khu công nghiệp tập trung được phát triển rất nhanh.
Năm 2002 có 80 khu và năm 2005 đã có trên 120 khu công nghiệp phân bố
chủ yếu ở các vùng đông nam bộ, Đồng bằng Sông Hồng và ven biển miền
Trung. Phát triển công nghiệp tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân
Chuyên đề tốt nghiệp 6 Trường ĐH KTQD
đồng thời nâng cao chất lượng của các sản phẩm trong nước nhưng bên cạnh
đó thì vấn đề ô nhiễm môi trường công nghiệp cũng ngày càng gia tăng và trở
nên đáng báo động nguyên nhân gây ra tình trạng này là do việc quy hoạch
các khu công nghiệp vẫn chưa thực sự hợp lý, hành lang pháp lý quy định cho
vấn đề này chưa được hoàn thiện và chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.
Kinh tế phát triển kéo theo các nghành phát triển như Xây dựng, giao thông
vận tải đây cũng là những ngành gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
1.1.3 Nông nghiệp
Với đặc thù nền kinh tế Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp lạc
hậu đến nay khi kinh tế phát triển với tốc độ khá cao thì vẫn có khoảng 74%
dân số sống ở nông thôn. Sản xuất nông nghiệp cung cấp việc làm cho 60%
lực lượng lao động, đóng góp khoảng 24%GDP và gần 30% giá trị hàng hóa
xuất khẩu. Mặt khác hoạt động nông nghiệp cũng gây ra những tác động tiêu
cực đến môi trường do việc sử dụng phân bón hóa học của nông dân ngày
càng nhiều và không tuân thủ theo các yêu cầu kỹ thuật canh tác đang diễn ra
khá phổ biến theo thống kê của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt
Nam thì năm 2005 tỷ lệ sử dụng phân hóa học trong nông nghiệp tăng so với
năm 1995 được biểu diễn như sau:
Hình 1.2 - Tỷ lệ tăng lượng phân bón vô cơ (N,P
1.1.5 Mặt trái của hội nhập kinh tế
Nền kinh tế nước ta đã và đang hội nhập một cách sâu rộng và hiệu quả
với nền kinh tế khu vực và trên thế giới: Thiết lập quan hệ thương mại với
gần 160 nước và vùng lãnh thổ; thu hút FDI từ các đối tác của gần 70 nước và
vùng lãnh thổ tranh thủ ODA của 45 nước và các định chế tài chính quốc tế;
Ký 90 hiệp định thương mại song phương; 46 hiệp định khuyến khích và bảo
hộ đầu tư; 40 hiệp định chống đánh thuế hai lần.
Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế, thương mại khu vực
và quốc tế như Hiệp Hội các nước đông nam Á (ASEAN); Diễn đàn hợp tác
Châu Á - Thái Bình Dương (APEC); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB) và đến hiện nay thì Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ
chức thương mại Thế Giới (WTO).
Quá trình hội nhập đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước ta.
Hội nhập kinh tế góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói giảm
nghèo, công ăn việc làm, bảo vệ môi trường, Củng cố an ninh quốc phòng.
Bên cạnh đó quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng bộc lộ những
khuyết điểm hết sức to lớn đặc biệt là đối với vấn đề môi trường cụ thể:
Hình 1.3 – sự thay đổi diện tích đất đô thị so với diện tích đất tự
nhiên qua các năm
Nguồn: Niên giám thống kê 2004
Chuyên đề tốt nghiệp 9 Trường ĐH KTQD
Thứ nhất : Hội nhập kinh tế quốc tế gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường từ bên ngoài ( Ô nhiễm môi trường xuyên quốc gia ). Nếu không được
kiểm soát một cách chặt chẽ thì các nước kém phát triển và đang phát triển sẽ
trở thành bãi rác cho các nước phát triển gây ra những tác động to lớn đến
môi trường.
Thứ hai : Việc mở rộng thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay có
nguy cơ làm tăng suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên. Vì
hiện nay các hàng hóa xuất khẩu của nước ta vẫn dựa chủ yếu vào khai thác
các loại tài nguyên đặc biệt là các tài nguyên không thể tái tạo.
mạnh tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng hơn 7%. Song song với những
mục tiêu tăng trưởng kinh tế thì tốc độ đô thị hóa ở nước ta cũng diễn ra mạnh
mẽ thu nhập của người dân được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện.
Cùng với những mặt tích cực của quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế đó
cũng còn tồn tại những vấn đề tiêu cực chưa được giải quyết như còn tồn tại
một số các tệ nạn xã hội hay như vấn đề môi trường còn nhiều bất cập chưa
được giải quyết đặc biệt với mục tiêu phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước thì cơ sở hạ tầng ở các khu đô thị mặc dù đã được quan tâm đầu tư
nhiều hệ thống mới, việc cải tạo và phát triển khá nhanh nhằm đáp ứng nhu
cầu sống và làm việc của người dân tuy nhiên hệ thống hạ tầng kĩ thuật đô thị
vẫn còn thiếu và yếu các công trình này xuống cấp nghiêm trọng và không thể
đáp ứng được nhu cầu của cư dân đô thị cụ thể theo thống kê của những
nghiên cứu gần đây cho thấy thực trạng hạ tầng kĩ thuật đặc biệt là hệ thống
công ích thì đang thiếu nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng được thể
hiện trong nghiên như sau:
Chuyên đề tốt nghiệp 11 Trường ĐH KTQD
STT Loại hạ tầng đô thị Đáp ứng Thiếu hụt Nguồn
1 Hệ thống thu nhận rác thải 82.5% 17.5% JICA,2002
2 Hệ thống xử lý rác thải 75% 25% Website bộ
xây dựng
3 Hệ thống cấp nước sạch 70% 30% Website bộ
xây dựng
4 Hệ thống thoát nước thải 60% 40% JICA,2001
5 Hệ thống giao thông nội thị
55% 45%
Website bộ
xây dựng
6 CV cây xanh & khoảng
không
30% 70% Phỏng vấn và
thương mại kết hợp phát triển công nghiệp – nông nghiệp với cơ cấu phù hợp.
Trong môi trường phát triển đất nước hội nhập WTO để Thành Phố Hà
Đông phát huy hết lợi thế của tỉnh nằm liền kề thủ đô Hà Nội và để Hà Tây
trở thành vùng kinh tế trọng điểm của các tỉnh phía bắc với những cơ hội đầu
tư thuận lợi do hiệu ứng từ cú huých của công tác cải cách, sửa đổi các thủ tục
hành chính về đầu tư của các tỉnh và các sở, ban, ngành lãnh đạo tỉnh.
Thành Phố Hà Đông đã thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư nước
ngoài và mạnh dạn thực hiện các dự án trong thời gian qua trong đó có các dự
án trọng điểm tất cả các dự án cần thu hồi 684ha đất với tổng số tiền bồi
thường để giải phóng mặt bằng là hơn 1800 tỷ đồng và số tiền đầu tư xây
dựng còn gấp nhiều lần.Với sự chú trọng đầu tư từ các nguồn vốn trong nước
và nước ngoài như hiện nay Thành Phố Hà Đông đang từng bước chuyển
mình quyết tâm trở thành Thành Phố tiêu chuẩn quốc gia.
Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều bất cập chưa được giải quyết triệt để đặc
biệt là vấn đề môi trường của Thành Phố Hà Đông đang trong giai đoạn hoàn
thiện nên cần được giải quyết triệt để nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Chuyên đề tốt nghiệp 13 Trường ĐH KTQD
cho người dân Thành Phố và phát huy hết tiềm năng của một Thành Phố thủ
phủ của tỉnh Hà Tây. Một trong những vấn đề môi trường nổi cộm của Thành
Phố Hà Đông là vấn đề nước thải và thoát nước thải đã được Thành Phố quan
tâm và đầu tư giải quyêt.
Do hệ thống thoát nước thải được xây dựng từ rất lâu nên hầu hết các hệ
thống cống thoát nước của Thành Phố không đạt tiêu chuẩn và không đáp ứng
được nhu cầu của người dân Thành Phố và không đáp ứng được nhu cầu tiêu
thoát nước vào mùa mưa gây ra những tình trạng như ô nhiễm môi trường, dịch
bệnh bùng phát, ngập lụt trong đô thị… Chính những vấn đề này đặt ra một bài
toán cần được giải quyết đó là làm thế nào để khắc phục tình trạng trên.
Sau rất nhiều nghiên cứu thực tế ở nhiều nơi Th.S Nguyễn Thị Kim
Sơn – Phó Phòng tài nguyên môi trường Thành Phố Hà Đông đã nghiên cứu
và thiết kế hệ thống thu gom nước thải và nước mưa vào lòng hè cho hiệu quả
Đường ống thoát nước đường phố đặt dọc theo các đường phố thu nước
từ ống thoát nước tiểu khu hay ống thoát nước ngoài sân nhà, xí nghiệp công
Chuyên đề tốt nghiệp 15 Trường ĐH KTQD
nghiệp, trường học, bệnh viện, cửa hàng…
Đường ống thoát nước đường phố là phần đầu của mạng lưới
thoát nước có rất nhiều nhánh mở rộng khắp Thành Phố chiếm phần
lớn trong tổng số chiều dài của cả mạng lưới thoát nước.Trong
những nhánh này nước tự chảy theo độ dốc. Muốn đạt được như
vậy ta chia địa phận khu dân cư thành những lưu vực thoát
nước,giới hạn các khu vực là đường phân thuỷ. Ống thoát nước
đường phố đặt từ đường phân thuỷ đến phía trũng của lưu vực thoát
nước.
Ống góp lưu vực đặt dọc theo triền đất thếp thu nước từ nhiều ống
thoát nước đường phố trong phạm vi lưu vực
Ống góp chính thu nước từ hai ống góp lưu vực trở lên
Ống chuyển đưa nước ra khỏi Thành Phố đến trạm bơm hay có
công trình làm sạch trong suốt đường ống chuyển lưu lượng nước
thoát sẽ không thay đổi
Trên mạng lưới đường ống chỗ ngoặt, chỗ nối nhánh … xây dựng
Những giếng thăm để kiểm tra, tẩy rửa và thông cống khi cống bị tắc.
Trên đây là những bộ phận những đường ống trong đó nước tự chảy do
tác động của trọng lực không cần áp lực. Trong thực tế không phải bao giờ
việc vận chuyển nước thải bằng cơ chế tự chảy cũng diễn ra một cách dễ dàng
đặc biệt là những khu vực có địa hình bằng phẳng độ dốc thấp hoặc đường
ống tự chảy gặp gò cao. Gặp những trường hợp ấy ta phải sử dụng bơm để
đưa nước lên cao.
2.2.2 Trạm bơm nước
Hệ thống trạm bơm nước với nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp động lực
nhằm đưa nước từ những chỗ trũng lên những chỗ cao giúp cho việc thoát
Chuyên đề tốt nghiệp 16 Trường ĐH KTQD
thoát nước một cách hiệu quả nhất. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào phương thức thu
gom, vận chuyển, mục đích yêu cầu xử lý và sử dụng nước thải mà người ta
phân loại thành các hình thức sau:
2.3.1 Hệ thống thoát nước chung
Hệ thống thoát nước chung là hệ thống trong đó tất cả các loại nước
thải (nước mưa, nước thải sinh hoạt,nước thải sản xuất…)được dẫn, vận
chuyển trong cùng một mạng lưới cống tới trãmử lý hoặc xả ra nguồn tiếp
nhận.
Ưu điểm:
Đảm bảo tốt nhất về phương diện vệ sinh vì toàn bộ phần nước bẩn đều
được xử lý trước khi được xả vào phần tiếp nhận (nếu có trạm xử lý).
Đạt giá trị kinh tế đối với mạng lưới thoát nước các nhà cao tầng vì khi
có tổng chiều dài của mạng lưới tiểu khu phố giảm được 30% đến 40% so với
hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn, chi phí quản lý và chi phí xây dựng hệ
thống giảm từ 20 – 25%
Khuyết điểm:
Đối với khu vực xây nhà thấp tầng, hệ thống chung có nhiều khuyết
điểm. chế độ thuỷ lực làm việc của hệ thống không ổn định: mùc mưa nước
chảy đầy cống có thể gây ngậplụt nhưng mùa khô chỉ có nước thải sinh hoạt
và nước thải sản xuất ( lưu lượng nhỏ hơn nhiều lần so với nước mưa) thì độ
dày và tốc độ dòng chảy nhỏ không đảm bảo điều kiện kĩ thuật gây nên lắng
đọng cặn làm giảm khả năng chuyển tải do đó phải tăng số lần nạo vét, thau
rửa cống. Ngoài ra do nước thải chẩy tới trạm bơm và trạm xử lý không điều
hoà về lưu lượng, chất lượng nên công tác điều phối trạm bơm và trạm xử lý
Chuyên đề tốt nghiệp 18 Trường ĐH KTQD
không điều hoà về lưu lượng, chất lượng nên công tác điều phối trạm bơm và
trạm xử lý trở nên phức tạp, khó đạt hiệu quả như mong muốn. Chi phí bảo
dưỡng cao
Phạm vi áp dụng:
Phù hợp với giai đoạn đầu xây dựng của hệ thống riêng.
Nhược điểm:
Xét về phương diện lý thuyết thì vệ sinh kém hơn so với những hệ
thống khác vì phần chất bẩn trong nước mưa không được xử lý trực
tiếp mà xả trực tiếp vào nguồn tiếp nhận nhất là giai đoạn đầu của
mùa mưa hoặc thời gian đầu của các trận mưa lớn, khi công suất của
nguồn tăng lên không đáng kể điều kiện pha loãng kém, dễ làm cho
nguồn bị quá tải boẻi chất bẩn.
Trong đô thị cùng một lúc có nhiều hệ thống công trình tồn tại
Giá thành xây dựng và quản lý cao
Phạm vi áp dụng:
Hệ thống riêng hoàn toàn phù hợp cho những đô thị lớn, xây dựng
tiện nghi và cho các xí nghiệp công nghiệp:
Có khả năng xả toàn bộ lượng nước mưa vào nguồn tiếp nhận.
Điều kiện địa hình không thuận lợi đòi hỏi phải xây dựng nhiều
trạm bơm khu vực.
Cường độ nước mưa lớn.
2.3.3 Hệ thống thoát nước mưa nửa riêng.
Là hệ thống trong đó những điểm giao nhau giữa hai mạng lưới độc lập
người ta xây dựng giếng tràn tách nước mưa. Tại những giếng này khi lưu lượng
nước mưa ít, chất thải nước mưa bẩn nước mưa sẽ chảy vào mạng lưới nước
Chuyên đề tốt nghiệp 20 Trường ĐH KTQD
sinh hoạt theo cống góp chung dẫn đến trạm xử lý. Khi lưu lượng nước tương
đối sạch nước mưa sẽ tràn qua giếng tách theo cống xả ra nguồn tiếp nhận
Ưu điểm:
Theo quan điểm vệ sinh môi trường thì hệ thống này tốt hơn hệ thống
riêng vì trong thời gian mưa các chất bẩn không trả trực tiếp vào nguồn.
Nhược điểm:
Vốn đầu tư xây dựng ban đầu cao do phải xây dựng song song cả
hai hệ thống.
Việc xây dựng các giếng tách nước mưa thường không đạt hiệu quả
Không chứa những chất làm tắc cống hoặc những chất khí tạo thành
hỗn hợp dễ nổ và cháy
Nhiệt độ không vượt quá 40
0
c
Không chứa những chất làm ảnh hưởng xấu đến quá trình xử lý sinh
học của nước thải
Hỗn hợp nước thải sinh hoạt và sản xuất phải đảm bảo nồng độ PH
= 8,5
Các loại rác thức ăn thừa trong gia đình chỉ được thải vào mạng lưới
thoát nước khi đã được nghiền nhỏ với kích thước từ 3 – 5 mm và
pha loãng bằng nước với tỷ lệ 1 rác 8 nước (1/8).
Những loại nước thải khác nhau có thành phần và nguồn gốc khác nhau
việc nắm được điều kiện tiếp nhận nước thải của các hệ thống thoát nước sẽ
làm cho việc tiêu thoát nước thải diễn ra một cách hiệu quả hơn, việc quản lý
công tác thoát nước thải hiệu quả hơn, đồng thời làm tăng tuổi thọ của các
công trình thoát nước công cộng tránh tình trạng gây ô nhiễm môi trường do
Chuyên đề tốt nghiệp 22 Trường ĐH KTQD
các chất thải trong nước hòa hợp với nhau gây ra những phản ứng tạo các chất
gây ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, gây ra tình trạng ô nhiễm
không khí, các chất đó có thể phá hủy kết cấu xây dựng của các công trình
xây dựng công cộng như hệ thống thoát nước làm giảm tuổi thọ của các công
trình đặc biệt là gây ảnh hưởng trực tiếp đến người dân Thành Phố mà đặc
biệt là những người sống xung quanh khu vực có hệ thống công cộng.
Có thể biểu diễn điều kiện tiếp nhận nước thải thông qua bảng thông tin sau:
Các loại hình thoát nước
Hệ thống thoát nước
Hệ thống riêng
Nước
sinh hoạt
-
-
+
+
+
+
-
-
-
-
-
-
-
-
+
+
+
+
-
-
-
-
+
+
+
+
+
+
+
+
+
+
-
-
-
+
+
+
-
+
+
+
**
-
**
-
+
+
+
-
-
-
+
+
+
+
+
+
+
Bảng 1.2: Điều kiện tiếp nhận nước thải vào mạng lưới thoát
Đông tương đối lớn. Nhìn chung trong 10 năm trở lại đây Thành Phố Hà
Đông đã thực sự chuyển mình theo hướng tích cực tuy nhiên vẫn còn các vấn
đề chưa được giải quyết triệt để.
Chuyên đề tốt nghiệp 25 Trường ĐH KTQD
3.1. 1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Thành Phố Hà Đông
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Trên bản đồ, Thành Phố Hà Đông thuộc tỉnh Hà Tây có toạ độ địa lý
20
0
59’ vĩ độ bắc,105
0
45’ kinh độ đông nằm dọc hai bên quốc lộ 6A từ Hà Nội
đi Hoà Bình cách trung tâm Thành Phố Hà Nội hơn 10km về phía tây nam
giáp với các huyện:
- Phía bắc giáp huyện Từ Liêm – Hà Nội
- Phía Nam giáp huyện Thanh Oai – Hà Tây
- Phía Đông giáp Huyện Thanh Trì – Hà Nội