LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em. Các
số liệu, kết quả nêu trong khoá luận là trung thực, xuất phát từ tình
hình thực tế của thị trường và đơn vị thực tập.
Tác giả khoá luận
Trần Thị Mai Phương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN THÔNG
QUA GIAO DỊCH TỪ XA TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN..........4
1.1. Công ty chứng khoán............................................................................. 4
1.1.1. Khái niệm công ty chứng khoán...................................................4
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty...........................................................6
1.1.3. Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán..................6
1.1.4. Vai trò của công ty chứng khoán..................................................9
1.2. Dịch vụ môi giới thông qua giao dịch online và giao dịch qua
điện thoại........................................................................................................10
1.2.1. Khái niệm môi giới chứng khoán...............................................10
1.2.2. Vai trò của hoạt động môi giới...................................................11
1.2.3. Quy trình thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán qua giao
dịch từ xa................................................................................................14
1.2.4. Tiện ích của việc môi giới qua điện thoại và qua Internet.........15
1.2.5. Điều kiện thực hiện nghiệp vụ môi giới thông qua giao dịch từ xa. .16
1.3. Những nhân tố tác động tới hoạt động môi giới chứng khoán qua
hình thức giao dịch từ xa................................................................................18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI QUA HOẠT ĐỘNG TỪ
XA TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VNDIRECT......................21
2.1. Khái quát về công ty chứng khoán VnDirect.......................................21
2.2. Thực trạng hoạt động môi giới từ xa tại công ty chứng khoán VNDS......24
2.2.1. Thực trạng hoạt động môi giới từ xa tại Việt nam hiện nay......24
2.2.2. Thực trạng hoạt động môi giới từ xa tại VNDS.........................27
2. Sơ đồ 1 : Quy trình môi giới chứng khoán.........................................14
3. Sơ đồ 2 : Cơ cấu tổ chức của công ty VNDS.....................................24
4. Biều đồ 1: Số lượng tài khoản tăng qua các tháng...............................34
5. Biểu đồ 2: Số lượng tài khoản tăng qua các quý năm 2007.................35
6. Biểu đồ 3: Số lượng tài khoản mở 3 tháng đầu năm 2008...................36
7. Biểu đồ 4: Tổng số lệnh giao dịch trong tháng 1 năm 08....................37
8. Biểu đồ 5: Tổng số lệnh giao dịch trong tháng 2 năm 08....................38
9. Biểu đồ 6: Tổng số lệnh giao dịch trong tháng 3 năm 08....................39
10. Biểu đồ 7: Tổng số lệnh giao dịch trong quý 1 năm 08......................40
11. Biểu đồ 8: Doanh thu môi giới chứng khoán năm 07.........................42
12. Biểu đồ 9: Tốc độ tăng trưởng nhân sự tại chi nhánh Hà Nội............47
BẢNG KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
STT Tên viết tắt Từ đầy đủ
1 CK Chứng khoán
2 MGCK Môi giới chứng khoán
3 CTCK Công ty chứng khoán
4 TTCK Thị trường chứng khoán
5 VNDS Công ty chứng khoán Vndirect
6 UBCKNN Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
7 TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
8 SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
9 DTMG Doanh thu môi giới
10 NĐT Nhà đầu tư
11 CNTT Công nghệ thông tin
12 NHTM Ngân hàng thương mại
13 NĐTNN Nhà đầu tư nước ngoài
14 CMTND Chứng minh thư nhân dân
15 KQGD Kết quả giao dịch
PHẦN MỞ ĐẦU
công ty VNDS, em đã chọn đề tài “ Giải pháp phát triển hoạt động giao
dịch từ xa thông qua nghiệp vụ môi giới tại công ty chứng khoán
VnDirect”
2. Mục đích nghiên cứu của khoá luận
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu một cách tổng quát, hệ
thống cơ sở lý luận chung về công ty chứng khoán, về hoạt động môi giới
chứng khoán nói chung và cụ thể là về dịch vụ nhận lệnh giao dịch qua điện
thoại và giao dịch trực tuyến. Tìm hiểu thực trạng hoạt động môi giới chứng
khoán tại công ty chứng khoán VnDirect. Nêu ra một số giải pháp và kiến
nghị nhằm phát triển hoạt động này tại công ty VNDS.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Hoạt động môi giới tại công ty chứng khoán VnDirect (chủ yếu
là dịch vụ nhận lệnh qua điện thoại và giao dịch trực tuyến).
Phạm vi: Số liệu thực tế của đề tài được giới hạn trong hoạt động môi giới
tại công ty chứng khoán VnDirect trong thời gian 2007 đến đầu năm 2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khoá luận, khoá luận đã sử dụng các phương pháp khoa
học như: phương pháp so sánh, phương pháp mô hình toán, phương pháp
phân tích hoạt động kinh doanh.
2
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận
bao gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về môi giới chứng khoán thông qua giao dịch
từ xa tại công ty chứng khoán
Chương 2: Thực trạng về nghiệp vụ môi giới qua hoạt động giao dịch từ
xa tại công ty chứng khoán VnDirect
Chương 3: Giải pháp phát triển nghiệp vụ giao dịch từ xa thông qua môi
giới tại công ty VnDirect
3
Tiêu
thức
Công ty chuyên doanh chứng
khoán
Công ty đa năng
Chủ
thể
hoạt
động
- CTCK độc lập, chuyên môn hoá
trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận
- Các Ngân hàng không được tham gia
vào kinh doanh chứng khoán.
- CTCK được tổ chức dưới một tổ hợp dịch
vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh
chứng khoán kinh doanh tiền tệ và các dịch
vụ tài chính
- Các NHTM có thể tham gia với tư cách là
chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm
và kinh doanh tiền tệ
Hình
thức
kinh
doanh
-CT đa năng một phần: Các NH muốn kinh
doanh chứng khoán phải thành lập công ty
con kinh doanh độc lập
-CT đa năng hoàn toàn: Các NHTM được
phép kinh doanh tổng hợp
Ưu
+ Bộ phận môi giới cho khách hàng
+ Bộ phận tự doanh
+ Bộ phận nghiên cứu và phân tích chứng khoán
Phòng kế toán-tài chính: gồm
+ Bộ phận kế toán
+ Bộ phận tài chính
Phòng Marketting
Phòng quản trị- hành chính tổng hợp
Phòng lưu kí
Phòng quản lý tài sản.
Các phòng này đem lại cho công ty những thu nhập to lớn bằng cách
đáp ứng nhu cầu của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu đó.
1.1.3. Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán
1.1.3.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung
gian. Theo đó, nó đòi hỏi việc mua bán chứng khoán phải thực hiện thông qua
môi giới trung gian. Muốn việc đầu tư chứng khoán có hiệu quả cao, người
đầu tư phải có kinh nghiệm, có trình độ và có đầu óc xét đoán giỏi. Chính
những công ty chứng khoán hoặc những nhà môi giới chứng khóan sẽ là cố
vấn đắc lực giúp cho người đầu tư xét đoán và dự đoán giá trị tương lai của
nó, và đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.
6
Theo Luật chứng khoán của Việt Nam ngày 29/6/2006. Môi giới chứng
khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng
khoán cho khách hàng.
Thu nhập từ nghiệp vụ này chính là khoản hoa hồng được hưởng tính
trên giá trị giao dịch của khách hàng. Đây là khoản thu nhập tương đối ổn
định và ít rủi ro.
1.1.3.2. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán
CTCK
1.1.3.5. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Đây là hoạt động quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư chứng
khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sở
tăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng.
Trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư, CTCK sẽ nhận được chi phí
quản lý bằng một tỉ lệ phần trăm nhất định trên số lợi nhuận của khách hàng.
Hoạt động này cũng góp phần tăng uy tín và phát triển các hoạt động khác
như lưu kí,thanh toán, tư vấn.
1.1.3.6. Các nghiệp vụ phụ trợ
- Lưu kí chứng khoán: là việc lưu giữ CK của khách hàng thông qua
các tài khoản lưu kí CK và giúp khách hàng thực hiện các quyền của mình đối
với CK lưu kí.
- Quản lý thu nhập của khách hàng: CTCK theo dõi tình hình thu lãi, cổ
tức của CK và đứng ra làm dịch vụ thu nhận, chi trả cổ tức cho khách hàng
qua tài khoản mở tại công ty
- Dịch vụ hỗ trợ tín dụng: CTCK triển khai các dịch vụ hỗ trợ tín dụng
nhằm tăng khả năng kinh doanh CK cho khách hàng, như cho vay, cầm cố
CK, cho vay chiết khấu CK.
8
- Hoạt động huy động vốn của CTCK: bây giờ nghiệp vụ này không
còn vì Chính phủ quy định các nhà đầu tư phải mở tài khoản tại ngân hàng
1.1.4. Vai trò của công ty chứng khoán
CTCK đóng vai trò như một “chiếc cầu nối” giữa những người tham gia
vào thị trường, cụ thể là giữa nhà phát hành và nhà đầu tư; nhà đầu tư và nhà
đầu tư.
1.1.4.1. Với chủ thể phát hành
Mục tiêu của các công ty khi tham gia vào thị trường chứng khoán là
huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Thông qua các hoạt
động như đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ
1.2.1. Khái niệm môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán
CK cho khách hàng để hưởng phí.
Là nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán
đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở
giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch, hay thị trường OTC.
Hiện nay có 3 hình thức môi giới chứng khoán đó là: Giao dịch trực
tiếp tại sàn, giao dịch qua điện thoại và giao dịch qua Internet.
Giao dịch chứng khoán trực tuyến là dịch vụ do các công ty chứng
khoán cung cấp thông qua mạng Internet, điện thoại, thông qua dịch vụ này,
nhà đầu tư có thể mở tài khoản, đặt lệnh, đưa ra yêu cầu đối với các giao dịch
chứng khoán và nhận thông báo kết quả của các giao dịch đó (Dự thảo Thông
tư hướng dẫn giao dịch điện tử ngày 20/12/07)
1.2.2. Vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán
10
Nghiệp vụ môi giới chứng khoán không chỉ là một hệ quả tất yếu của
quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, mà nó đồng thời còn có tác động
ngược lại là thúc đấy sự phát triển của nền kinh tế và cải thiện môi trường
kinh doanh.
1.2.2.1. Giảm chi phí giao dịch
Bất cứ thị trường nào khi muốn giao dịch được thì người mua và người
bán phải gặp nhau, thẩm định chất lượng hàng hoá và thoả thuận giá cả. Tuy
nhiên, trên thị trường chứng khoán, với tư cách là một thị trường sản phẩm
cấp cao, để thẩm định và đánh giá chất lượng sản phẩm người đầu tư phải mất
rất nhiều công sức và tiền của. Quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin
không chỉ là mất chi phí tiền mà người ta còn phải biết phân tích thông tin đó,
thẩm định chính xác, trung thực của thông tin, phân tích những biến động có
thể xảy ra qua thông tin đó. Đây là một công việc đòi hỏi chuyên môn cao và
khả năng phân tích cực tốt, nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng có khả
năng làm được việc đó. Những công việc đó chỉ có những công ty chứng
sử dụng số tiền còn lại sau khi đã trang trải các chi phí cho cuộc sống như thế
nào, cất tiền vào két, gửi tiết kiệm, hay trang trải cho những nhu cầu đời sống
cao cấp... nhưng có những nơi người dân lại đem những khoản tiền đó đầy tư
vào một hoạt động sản xuất hay dịch vụ tài chính nào đó để về thu về lợi
nhuận cao hơn. Mỗi một vùng đất, mỗi quốc gia có những thói quen đầu tư
khác nhau. TTCK phát triển cùng với việc tổ chức hoạt động MG sẽ giúp
hình thành nên những thói quen đầu tư theo hướng có lợi cho nền kinh tế
Không chỉ vậy, quá trình đó dần nâng lên sự hiểu biết cho nhà đầu tư
thông qua những thói quen phân tích, tìm hiểu thị trường.
- Thói quen và kĩ năng sử dụng những dịch vụ đầu tư: Lâu nay, Nhà
đầu tư thường dựa trên những tìm hiểu, phân tích và phán đoán của mình để
12
ra quyết định đầu tư. Nhưng điều này là một trong những khó khăn của
không ít nhà đầu tư khi mà chưa có kinh nghiệm chơi, khi mà nguồn thông
tin trên thị trường rất đa dạng và phức tạp.
Thông qua việc sử dụng dịch vụ môi giới người đầu tư được tư vấn và
đưa ra cho một số những kinh nghiệm đầu tư, dần dần nó trở thành một dịch
vụ không thể thiếu được trong đầu tư chứng khoán, khi mà những nhà đầu tư
là những người làm việc trong những ngành nghề khác nhau, quỹ thời gian
khác nhau, kiến thức chứng khoán khác nhau...
- Môi trường pháp lý, sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật: Chính những
hoạt động của các CTCK, hoạt động của các nhân viên môi giới là một điều
kiện tốt góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý cho kinh doanh chứng
khoán. Bởi lĩnh vực này là nơi phát sinh những xung đột lợi ích giữa các đối
tượng tham gia thị trường. Nếu môi trường pháp lý không đủ chặt chẽ và hiệu
lực thì những mâu thuẫn phát sinh, phát triển và dẫn đến những đổ vỡ trên thị
trường. Thông qua hoạt động môi giới, pháp luật sẽ được đưa đến với nhà đầu
tư, và nhân viên MG đóng vai trò như những người hướng dẫn luật cho các
đối tượng khách hàng.
- Tăng chất lượng và hiệu quả của dịch vụ nhờ cạnh tranh: Hoa
CTCK
BƯỚC 4 : CTCK thông báo KQGD cho nhà đầu tư.
14
5
4
3
1
2
KHÁCH
HÀNG
CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VNDS
SỞ GIAO
DỊCH
- Bằng cách gửi tin nhắn điện thoại theo số điện thoại khách hàng đã đăng kí
- Hoặc in sao kê nếu khách hàng yêu cầu. Định kỳ, VNDS sẽ gửi sao kê tài
khoản cho khách hàng theo địa chỉ email đã đăng ký
BƯỚC 5 : NĐT nhận CK hoặc tiền trên tài khoản tại công ty (sau 3 ngày
làm việc kể từ ngày mua, bán)
1.2.4. Tiện ích của việc môi giới qua điện thoại và qua Internet
Đối với nhà đầu tư:
TTCK ngày càng phát triển sẽ dẫn đến số lượng giao dịch và nhu cầu
tìm hiểu thông tin của các nhà đầu tư ngày càng gia tăng. Theo phương thức
giao dịch chứng khoán trước đây, nhà đầu tư phải đến các TTGDCK hoặc
quầy môi giới của công ty chứng khoán để đặt lệnh. Với hình thức đặt lệnh
qua điện thoại, Internet, các nhà đầu tư có thể dễ dàng ở bất kì đâu, bất kỳ
thời điểm nào đều có thể nhanh chóng tra cứu, cập nhật thông tin, thực hiện
giao dịch mua bán chứng khoán.
Phù hợp với người bận bịu, ít thời gian và thường di chuyển (nhà
doanh nghiệp, nhân viên, cán bộ công chức)
đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư hay không? Việc khớp lệnh có được
chính xác hay không? Nó còn tác động trực tiếp tới bản thân nhân viên môi
giới của công ty, bởi khi công việc được tiến hành trên dây chuyền công nghệ
suôn sẻ thì họ mới có hứng thú làm và chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao hơn.
• Con người:
Con người là chủ thể của mọi hành động, yếu tố con người trong hoạt
động của CTCK nói chung và nghiệp vụ môi giới nói riêng đóng vai trò vô
cùng quan trọng và quyết định đến chất lượng công việc. Con người có vai trò
16
thu hút nhà đầu tư đến với CTCK. Hoạt động nghiệp vụ môi giới không thể
thiếu nhân tố con người. Nhân viên môi giới là người trực tiếp đáp ứng nhu
cầu của NĐT từ quá trình nhận lệnh, nhập lệnh, thực hiện thông báo kết quả
cho khách hàng cho đến những dịch vụ chăm sóc khách hàng
Không chỉ dừng lại ở đấy, một hoạt động có ý nghĩa hơn so với các
hoạt động khác là những lời tư vấn trong việc ra quyết định đầu tư đối với
khách hàng. Chính điều này tạo nên sự gần gũi, thân thiện, tạo dựng niềm tin
và ấn tượng tốt đẹp trong nhà đầu tư.
Mục tiêu của các CTCK là làm sao chiếm được lòng tin của khách
hàng, thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư, và được họ uỷ thác để quản lý.
Muốn vậy, nhân viên môi giới phải thường xuyên cập nhật thông tin thị
trường, nắm bắt được những biến động giá trị hiện tại và có những dự đoán về
xu hướng tăng giảm của các chứng khoán trong tương lai. Nhà môi giới phải
không ngừng nâng cao nghiệp vụ, thuần thục các kỹ năng cần thiết như: kỹ
năng tìm kiếm khách hàng, kỹ năng truyền đạt thông tin, kỹ năng khai thác
thông tin, kỹ năng bán hàng ...Bên cạnh đó họ phải luôn giữ vững đạo đức
nghề nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng để tạo lập và duy trì niềm tin cho
khách hàng. Tuy không chịu trách nhiệm đối với những rủi ro của khách hàng
nhưng người môi giới phải luôn hành động như cho chính mình, luôn kỳ vọng
sẽ mang lại cho khách hàng mức lợi nhuận cao nhất.
Về phía nhà đầu tư :
Môi trường pháp lý là một trong những khung quy định quy tắc hoạt
động, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia vào thị trường nhằm đảm
bảo cho những hoạt động kinh tế đó được diễn ra lành mạnh, bảo vệ lợi ích
chính đáng của nhà đầu tư. Khi thị trường phát triển thì hoạt động giao dịch
chứng khoán diễn ra trên nhiều phạm vi, quy mô lớn hơn, kĩ thuật tinh vi hơn,
nếu khung pháp lý không kịp thời đưa ra những quy định đúng đắn, đầy đủ,
khoa học để quản lý thị trường thì sẽ có những hành động phạm pháp và
những hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp diễn ra.
Khung pháp lý hoàn chỉnh không chỉ là cơ sở khoa học nhằm bảo vệ
nhằm đầu tư mà còn bảo vệ chính những người làm nghiệp vụ môi giới trước
những kết quả của công việc
Kiểm tra giám sát là hoạt động theo dõi sự trung thực trong hoạt động
việc tuân thủ những quy định của công ty, của tổ chức, của pháp luật để bảo
vệ lợi ích của nhà đầu tư.
Nếu như đặt lệnh trực tiếp ngoài sàn, NĐT có thể đứng chờ và kiểm soát
rằng lệnh của mình đã chắc chắn được chuyển lên SGD hoặc TTGDCK. Thì
với việc đặt lệnh từ xa, yêu cầu các công ty phải đảm bảo nguyên tắc công
bằng, công khai, không được ưu tiên khớp lệnh trái quy tắc.
• Biểu phí giao dịch của công ty
Nếu biểu phí cao trong khi các yếu tố khác không hơn gì các CTCK
khác thì vô tình đã làm giảm sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Hiện nay khi có
rất nhiều CTCK mới ra đời và họ thực hiện chiến lược cạnh tranh nhau bằng
phí giao dịch và phí lưu kí chứng khoán.
• Thực trạng nền kinh tế
19