(Trích “Cung oán ngâm”)
I - Gợi dẫn
1. Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), quê ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận
Thành (nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông xuất thân trong gia đình đại quý tộc. Cha là
Nguyễn Gia Cư, tước hầu, mẹ là công chúa Quỳnh Liên, con gái chúa Trịnh Cương (1707 – 1729).
Nguyễn Gia Thiều lớn lên trong sự nuôi dưỡng của nhà Chúa. Lên năm tuổi được chúa Trịnh Doanh đem
vào phủ chúa nuôi cho ăn học. Những biến động dữ dội của xã hội phong kiến thế kỉ XVIII đã ảnh hưởng
không ít đến tư tưởng của ông. Ông đã chứng kiến sự suy tàn của giai cấp mình ngay trong những cung
điện nguy nga của vua Lê chúa Trịnh. Một trong những điều ông được chứng kiến và đã để lại dấu ấn
không thể phai mờ là cảnh ăn chơi sa đoạ của vua chúa. Sản phẩm của những ngày sống trong phủ chúa
chính là Cung oán ngâm. Khúc ngâm thể hiện nỗi đau đớn của người cung nữ bị ruồng rẫy và cũng là
những dấu ấn tâm trạng của Nguyễn Gia Thiều trong những ngày đầy bão tố của cuộc đời.
2. Cung oán ngâm là tác phẩm được viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Gia Thiều, gồm 356 câu song thất
lục bát, viết về số phận bi kịch của những người cung nữ trong cung vua phủ chúa. Để phục vụ cho thú ăn
chơi sa đoạ của vua chúa, hàng ngàn cô gái trẻ đẹp bị đưa vào cung và chôn vùi tuổi thanh xuân ở trong
đó. Người cung nữ trong Cung oán ngâm cũng vậy, nàng may mắn được vua sủng ái một thời gian, sau
đó, bị ruồng rẫy, nàng phải sống trong cảnh cô đơn, mỏi mòn nhìn tuổi xuân của mình trôi đi trong vô
vọng. Đoạn trích diễn tả tâm trạng đau khổ của người cung nữ bị thất sủng. Nàng sống cô đơn giữa bốn
bức tường lạnh giá, xót xa cho tuổi xuân hoài phí và than thở một cách uất ức.
3. Cách đọc
Tên đoạn trích (Nỗi sầu oán của người cung nữ) đã là một định hướng cho tình cảm cần thể hiện khi đọc.
- Đọc kĩ các chú thích.
- Đoạn trích viết theo thể song thất lục bát, cách đọc tương tự cách đọc bài Tì bà hành và đoạn trích Tình
cảnh lẻ loi của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm.
II - Kiến thức cơ bản
Chế độ cung tần ở nước ta có từ thời Tiền Lê, đến thời Trịnh, số cung nữ bị bắt vào đã nhiều hơn rất
nhiều vì ngoài cung vua còn có cả phủ chúa. Cung nữ sống rất khổ cực. Họ phải giam mình trong cung
cấm, không được giao thiệp với thế giới bên ngoài. Người may mắn thì được vua chúa ngó ngàng tới một
hai lần, rồi khô héo trong cung cấm, cũng có rất nhiều người đến bạc đầu vẫn không hề được nhìn mặt
vua, họ chết già mà không được biết gì về hạnh phúc lứa đôi. Có rất ít người được sủng ái như Bao Tự,
Dương Quý Phi, Đặng Thị Huệ… Chốn hậu cung nảy sinh bao nhiêu vấn đề phức tạp, ẩn chứa đằng sau
Giữ sao cho được má hồng như xưa.
Hiện lên rõ nhất trong đoạn trích vẫn là hình ảnh người cung nữ mỏi mòn trong trông ngóng, nàng chỉ đau
khổ và chờ đợi, để rồi cô đơn và tuyệt vọng. Một điểm nổi bật về nghệ thuật viết ngâm khúc của Nguyễn
Gia Thiều là tài năng lựa chọn và sử dụng các từ ngữ gợi tả cảm giác. Một loạt những từ ngữ như “biếng
ngắm”, “buồn trông”, “đứng tủi ngồi sầu”, “than”, “rầu”, “khắc khoải”, “ngẩn ngơ” đã thể hiện được nỗi
sầu oán của người cung nữ trong cảnh cô đơn, tủi nhục và trông mong vô vọng :
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ,
Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu.
Một mình đứng tủi ngồi sầu,
Đã than với nguyệt lại rầu với hoa !
Buồn mọi nỗi lòng đà khắc khoải,
Ngán trăm chiều, bước lại ngẩn ngơ.
Đoạn thơ cứ lay qua lắt lại cái hình dáng cô độc, buồn tủi đến tội nghiệp của người cung nữ. Nàng mệt
mỏi cả thân xác, rã rời cả tâm thần. Cả đoạn trích vẫn một niềm khắc khoải, một hình bóng cô đơn. Nỗi
“ngán trăm chiều” đã giày vò tâm hồn người cung nữ. Tội nghiệp nhất là hình ảnh “Đêm năm canh lần
nương vách quế”, dường như không còn đủ sức để chống chọi lại nỗi cô đơn nữa, nàng thức trắng đêm và
vật vã đớn đau. Cô độc và cay đắng trước sự thật phũ phàng, nàng đã phải buông lời cay đắng : “Giết
nhau bằng cái u sầu, độc chưa !”. Hai từ “độc chưa” đay nghiến và cay nghiệt như một cái nghiến răng
đầy uất ức và cay đắng. Câu thơ là lời tố cáo đanh thép sự tàn ác của chế độ đa thê, chế độ cung tần tàn
bạo thời phong kiến. Chế độ ấy đã cướp đi quyền được hưởng hạnh phúc của bao nhiêu cô gái trẻ đẹp.
Chúng không giết con người bằng dao, bằng kiếm, chúng giết con người bằng cách để nỗi cô đơn huỷ
hoại tâm hồn họ. Cha ông ta vẫn nói “giết người không dao” để chỉ những hành động giết người tàn bạo
nhất. Và những thú ăn chơi trác táng, thói vô tình của những vua chúa phong kiến đã đẩy những người
cung nữ tội nghiệp vào tấn bi kịch “dở sống, dở chết” đó. Giữa chốn “phòng tiêu lạnh ngắt như đồng”,
những người cung nữ phải giam mình trong cô đơn :
Trong cung quế âm thầm chiếc bóng
Đêm năm canh trông ngóng lần lần.
Nên nàng mới thốt lên lời oán trách :
Khoảnh làm chi bấy chúa xuân !
Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi.
Nếu Chinh phụ ngâm khúc có nguyên tác bằng chữ Hán và bản dịch Nôm là tiếng nói độc thoại của người
chinh phụ về mối “sầu vạn cổ” day dứt triền miên nhưng còn có mức độ thì Cung oán ngâm khúc là tiếng
nói độc thoại khác vang lên đầy ai oán, réo rắt và uất hận của người cung nữ tài sắc bị bỏ rơi giữa tuổi hoa
niên. Nàng có thời được sủng ái nhưng nhanh chóng bị lãng quên và mối tủi cứ theo ngày tháng mà dâng
lên, mà tràn ngập giày vò khôn xiết ! Cảm hứng chủ đạo của khúc ngâm là một sự đày đoạ thê thảm, đúng
như Nguyễn Gia Thiều đã có lần nhấn mạnh “Bỗng không mà hoá ra người vị vong”
([1])
. Người trong
cuộc ý thức được một cách sâu sắc rằng : lẽ ra đời mình không đáng khổ mà lại phải chịu đựng mọi mất
mát thiệt thòi quá lớn.
Trên nền cái tâm trạng đó, nỗi buồn tủi diễn ra nhiều màu, lắm vẻ làm xúc động lòng người của nhiều thế
hệ.
Đoạn trích trên đây là một khoảnh khắc của đời người cung nữ.
Đoạn thơ chủ yếu nói về một cảnh đêm. Là tâm trạng cung nữ diễn ra trọn cả đêm “Đêm năm canh lần
nương vách quế”. Ta cần biết thêm : Không phải là lần duy nhất tác giả viết về cảnh đêm. Xuyên suốt tác
phẩm, lúc được sủng ái cũng như khi đã là “cái thân câu chõ”, người cung nữ thường mượn đêm để kí
thác tâm sự và cảnh ngộ vui buồn của mình. Nào là “Cái đêm hôm ấy đêm gì – Bóng dương lồng bóng đồ
mi trập trùng” ; “Thừa ân một giấc canh tà”… thoả mãn khát vọng về hạnh phúc ái ân của thời vàng son.
Tiếp theo là vô số cảnh đêm trong cung lạnh : “Trong cung quế âm thầm chiếc bóng – Đêm năm canh
trông ngóng lần lần” ; “Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ” ; “Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền” ; “Đêm
năm canh lần nương vách quế” ; “Khi bóng nguyệt chông chênh trước ốc” ; “Đêm phong vũ lạnh lùng có
một”, v.v… là những đêm cô đơn và ảo não.
Chúng ta đã từng thấy những đêm dài mong nhớ : “Thức mây đôi lúc nhạt nồng – Chuôi sao Bắc Đẩu thôi
đông lại đoài” (Chinh phụ ngâm) ; bao đêm trằn trọc thao thức “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom – Oán
hận trông ra khắp mọi chòm” (thơ Hồ Xuân Hương), thậm chí thảng thốt vật vã “Khi tỉnh rượu, lúc tàn
canh – Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều)… Hẳn là các nhà thơ cổ điển thường chọn
thời điểm này để cho nhân vật trữ tình dễ bộc lộ tâm sự ?
Bút pháp tả tình của Ôn Như
([2])
“Thiên đoàn bách luyện, ngữ ngữ kinh nhân” (Lí Văn Phức) (Trăm