Đẩy mạnh huy động vốn trên thị trường cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp việt nam - Pdf 12


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Huy động vốn là một trong ba quyết định tài chính quan trọng nhất của
doanh nghiệp. Để có thể ra đời, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần phải có
vốn. Vốn chính là yếu tố tiên quyết, điều kiện cần và đủ đối với doanh nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu vốn của doanh nghiệp, các phương thức cung ứng vốn
và các hình thức huy động vốn cũng ra đời như một tất yếu khách quan.
Trước những đòi hỏi mạnh mẽ của quá trình hội nhập, thuê tài chính
được xem là một trong những sự lựa chọn thông minh của các giám đốc tài
chính. Ở Việt Nam thời gian qua, mặc dù đã có nhiều phương thức cung ứng
vốn cho doanh nghiệp, song hình thức vay vốn truyền thống gần như vẫn là
sự lựa chọn duy nhất. Trong th
ời gian gần đây, hoạt động của hệ thống ngân
hàng và thị trường chứng khoán có sự suy giảm nhất định, tiềm ẩn nhiều rủi
ro. Thực tế khách quan cho thấy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn gặp rất
nhiều khó khăn về tài chính, và có thể nói khó khăn lớn nhất chính là thiếu
vốn. Thiếu vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn dẫn đến thiếu năng lực tài
chính, giảm hi
ệu quả kinh doanh. Cụ thể hơn, đó là khó tiếp cận với công
nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao và vươn ra những thị trường
lớn. Bên cạnh thiếu vốn, đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là các
doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm
gia tăng lợi ích và chia sẻ rủi ro cũng chưa thực sự
phát huy tính hiệu quả.
Thời gian qua, việc tiếp cận và sử dụng hình thức thuê tài chính đã giúp
tháo gỡ những khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế.
Tuy nhiên, thuê tài chính cũng như tất cả các hoạt động tài chính khác, đều
tiềm ẩn những rủi ro và hạn chế nhất định. Thực tế ở Việt Nam cho thấy,

Principles for Sound Corporate Decision Making” (Financial Management
Association Survey & Synthesis Series) (1994) đã xây dựng một hệ thống
toàn diện để nghiên cứu, lựa chọn quyết định thuê hay mua tài sản, với trọng
tâm là thuê và cho thuê máy móc thiết bị đối với các doanh nghiệp. Nội dung

3
tác phẩm bao trùm hầu hết tất cả các vấn đề cơ bản trong việc phân tích lợi
ích về thuế, các tác động của kế toán, rủi ro đến việc ra quyết định thuê hay
mua tài sản. Trong bối cảnh các doanh nghiệp lớn hay nhỏ luôn phải đối mặt
với những quyết định khó khăn trong việc thuê hay mua tài sản cố định, thì
những tính toán tài chính cả từ phía bên đi thuê và bên cho thuê là hết sức cần
thiết. Mộ
t trong những điểm nhấn của tác phẩm là việc tập trung phân tích các
chỉ tiêu NPV hay IRR, so sánh giữa lợi ích và chi phí, dòng tiền thuê hay mua
tài sản, từ đó làm căn cứ lựa chọn những yếu tố có sức cạnh tranh cao nhất.
Điều đó đã thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thực hành trong lĩnh vực
thuê mua tài sản. Ngoài ra, tác phẩm“Leasing” của Brian Coyle còn dành một
dung lượng nhất định để giải nghĩa các từ, thu
ật ngữ phức tạp về cho thuê,
thuê tài sản, thuê tài chính và quan điểm của các bên cho thuê, bên đi thuê về
vấn đề này.
Tác giả Chris Boobyer với tác phẩm “Leasing & Asset Finance, Fourth
Edition” (2003) được đánh giá như bản tóm tắt “đầy đủ tất cả mọi thứ” cần
phải biết về CTTC và tài sản thuê tài chính trên toàn thế giới. Tác phẩm đề
cập một cách toàn diện đến các vấn đề như bảo lãnh rủi ro, thuê qua biên giới,
tài chính, lu
ật cạnh tranh, hỗ trợ nhà nước, mua sắm, thuế, đánh giá thuê, kế
toán (vốn hóa và hạch toán thu nhập cho thuê), việc xem xét các vấn đề trong
mua bán công ty cho thuê và chứng khoán của châu Âu. Các tác giả đi vào
nghiên cứu từng khía cạnh CTTC và thuê tài chính có tính chất toàn cầu, từ

cản nhất định. Xuất phát từ thực tế trên, thời gian qua ở
nước ta đã có một số
công trình nghiên cứu liên quan đến các nội dung xung quanh vấn đề này.
Luận án “Những giải pháp phát triển và hoàn thiện tín dụng thuê mua
ở Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường” (1997) của
tác giả Phạm Huy Hùng đã vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu
để làm rõ lý luận về tín dụng thuê mua và có sự so sánh, đối chiếu với các
hình thức tín dụng khác. Luận án được nghiên cứu chỉ sau khoảng 1 n
ăm khi
hình thức thuê tài chính có mặt tại Việt Nam (1995), nên giá trị được thể hiện

5
rõ nét ở tính định hướng cho sự phát triển hình thức này. Tác giả nhấn mạnh
sự cần thiết phải sớm phát triển hình thức tài trợ thuê mua ở Việt Nam trong
quá trình đổi mới nền kinh tế thị trường. Tác giả phân tích thực trạng của
phương thức tài trợ này qua hoạt động của hệ thống NHTM, khẳng định vai
trò to lớn của CTTC đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế Việt Nam. V
ới
những bài học kinh nghiệm rút ra từ việc tham khảo thực tế nước ngoài và
trên cơ sở thực trạng ở Việt Nam, tác giả luận án đã đưa ra những giải pháp
xây dựng thị trường thuê mua đủ sức cạnh tranh với các thị trường khác. Tại
thời điểm nghiên cứu, có thể nhận thấy đây là một bản luận án có rất có giá trị
bởi nó ra đời khi thị tr
ường CTTC và hình thức thuê tài chính ở Việt Nam còn
rất sơ khai. Tuy nhiên, cũng chính bởi điều đó nên luận án bị giới hạn ở chỗ
chưa thể hiện được những vấn đề thực tiễn sinh động của thị trường dịch vụ
này. Các giải pháp đưa ra mới chỉ mang tính định hướng cho sự phát triển,
chưa đủ cơ sở để hoàn thiện, khi thuê tài chính mới chỉ xuấ
t hiện lần đầu ở
Việt Nam.

chế, đồng thời đưa ra những dự báo về xu hướng phát triển thị trường dịch vụ
này trong tương lai. Do thị trường CTTC là một thị trường chứa đựng những
mối quan hệ tài chính rất phức tạp, mặ
t khác CTTC vẫn đang là một khái
niệm mới mẻ và cho đến thời điểm hiện tại chưa phát sinh quá nhiều những
vấn đề hạn chế, nên các giải pháp tác giả đưa ra chủ yếu tập trung vào việc
hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động này.
Luận án “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty cho thuê
tài chính ở Việt Nam” (2003) của tác giả Bùi Hồng Đới tập trung đi sâu vào
phân tích, đánh giá hiệu qu
ả hoạt động của các công ty CTTC ở Việt Nam.
Đặc biệt, luận án đã nhấn mạnh các vấn đề như cơ cấu và xu hướng phát triển
nguồn vốn, dư nợ cho thuê, kết quả tài chính. Bên cạnh việc khái quát những
nội dung lý luận chung về CTTC và một số vấn đề khác có liên quan, điểm
nổi bật của luận án được thể hiện ở việc đưa ra 9 chỉ tiêu đánh giá hi
ệu quả cơ
bản và các nhân tố tác động, trong đó nhân tố lãi suất được tác giả đánh giá là
có tác động mạnh nhất đến hiệu quả hoạt động của các công ty (lãi suất huy

7
động, lãi suất cho thuê). Đến thời điểm hiện tại, vì còn mang tính mới mẻ, nên
hoạt động CTTC chưa có nhiều thực trạng phức tạp, chính vì vậy bản luận án
có nhiều điểm tương đồng với luận án của các tác giả cùng khoảng thời gian
đó như Đoàn Thanh Hà, Lê Thị Kim Nhung Luận án cũng đã đưa ra những
giải pháp góp phần hoàn thiện và một lần nữa khẳng định s
ự cần thiết phải
nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty CTTC tại Việt Nam
Phần lớn các công trình nghiên cứu trên tiếp cận theo hướng xem xét
hoạt động cung ứng vốn từ phía các công ty CTTC, hoặc đánh giá thị trường
CTTC thông qua hoạt động CTTC của các công ty là chủ yếu. Hơn nữa,


yếu là các DNNVV ở Việt Nam, nhóm tác giả đã đánh giá thực trạng dựa trên
các mặt về số lượng, giá cả, thời gian, v.v , từ đó chỉ ra những thành công và
nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong việc huy động vốn từ thuê tài
chính. Bên cạnh những mặt đạt được, việc đánh giá thực trạng của các tác giả
chưa thực sự đầy đủ, đặc biệt khi nhấ
n mạnh về vấn đề rủi ro CTTC, hiện
đang là thực trạng chủ yếu trên thị trường CTTC, có ảnh hưởng trực tiếp đến
các doanh nghiệp khi sử dụng hình thức này. Các giải pháp nếu được phân
tích có chiều sâu hơn (đặc biệt khi nhìn nhận từ góc độ đi thuê tài chính) thì
sẽ có giá trị cao hơn đối với thực tiễn.
Đề tài “Cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việ
t
Nam - Thực trạng và giải pháp” (2013) do Trần Đức Trung chủ nhiệm cũng
có nội dung nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn đề này. Đề tài phác họa
bức tranh tổng thể về DNNVV và những tác động của CTTC đối với các
DNNVV, chiếm tỷ trọng rất lớn, trên 90% các doanh nghiệp. Với cái nhìn
tổng quan về CTTC đối với các DNNVV, đề tài đã làm rõ những khái niệm,
vấn đề cơ bản về CTTC, DNNVV và phươ
ng thức cung ứng vốn cho các
DNNVV từ loại hình dịch vụ này. Trong đó, nhấn mạnh sự cần thiết phải huy
động vốn từ thuê tài chính trên cơ sở nhìn nhận những hạn chế của DNNVV,
những khó khăn của DNNVV khi huy động vốn từ các kênh truyền thống ở
Việt Nam. Trong quá trình phân tích, đánh giá thực trạng, tác giả đã nhấn
mạnh tới vấn đề rủi ro, hay cụ thể hơn là v
ấn đề nợ xấu trong hoạt động

9
CTTC của các công ty CTTC ỏ Việt Nam hiện nay. Qua đó nhận thấy rằng,
việc quản lý tốt hoạt động CTTC nói chung cần sự kết hợp của rất nhiều đối

10
hoạt động CTTC, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị với các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm góp phần tháo gỡ các vướng mắc pháp
lý cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Đồng thời, các kết luận
được đưa ra cũng làm cơ sở cho công tác biên soạn Dự thảo văn bản thay thế
Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-NHNN-BCA-BTP hướng dẫn “Thu hồi
và xử lý tài sản CTTC của công ty CTTC”.
Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Rountable Discussino on
Vietnam Leasing Industry” do IFC (International Finance Corporation) kết
hợp với các chuyên gia đầu ngành về CTTC đến từ Mỹ và Thụy Sỹ đã được
tổ chức ngày 25/06/2013 tại Hà Nội. Hội thảo đề cập đến những hạn chế, thực
trạng của thị trường CTTC, đặc biệt là vấn đề về năng lực tài chính của các
doanh nghiệp, vấ
n đề quản lý thu hồi tài sản thuê tài chính, khung pháp lý,
v.v Các vấn đề được đưa ra đánh giá, làm cơ sở đề xuất cho các giải pháp.
Đặc biệt, những kinh nghiệm được chia sẻ từ các chuyên gia ngành CTTC
đến từ Mỹ và Châu Âu đã đem lại những gợi mở nhất định về việc ổn định thị
trường CTTC tại Việt Nam. Hội thảo cũng tập trung đóng góp cho dự thảo
Nghị đị
nh mới của Chính phủ về hoạt động CTTC dự định sẽ ban hành đầu
năm 2014. Hội thảo có tính mở khi những giải pháp mới chủ yếu tập trung
vào hoàn thiện hành lang pháp lý về CTTC tại Việt Nam.
Thông qua các công trình, các tài liệu nghiên cứu dưới hình thức luận
án, đề tài khoa học hay bài báo (gọi chung là công trình) của các tác giả và
các buổi hội thảo khoa học mà NCS tiếp cận được cho thấy:
Thứ nhất, nhìn chung các công trình đều tập trung đề
cập, nghiên cứu
các vấn đề xung quanh nội dung về CTTC ở Việt Nam với những mức độ
khác nhau. Có công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa quá trình chuyển
đổi nền kinh tế với tín dụng thuê mua ở giai đoạn đầu du nhập vào Việt Nam,

- Khẳng định sự cần thiết khách quan ph
ải huy động vốn trên thị trường
CTTC đối với các doanh nghiệp. Đề xuất những giải pháp có tính khả thi
nhằm đẩy mạnh hoạt động thuê tài chính đối với các doanh nghiệp Việt Nam.

12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận án xác định đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các vấn đề về thuê
tài chính đối với doanh nghiệp Việt Nam, trên cả góc độ lý luận và thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào các doanh nghiệp đi
thuê tài chính ở Việt Nam; nghiên cứu đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp
về tình hình huy động vốn trên thị trường CTTC đối với các doanh nghiệp.
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở tổng hợp, phân tích các số liệu, tư
liệu từ năm 2008 trở lại đây.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa, bổ sung thêm những vấn đề
cơ bản về thuê tài chính và quyết định huy động vốn trên thị trường CTTC đối
với các doanh nghiệp.
- Về
mặt thực tiễn: Góp phần phân tích, đánh giá đầy đủ thực trạng vấn
đề thuê tài chính ở Việt Nam, đề xuất những giải pháp có tính khả thi trong
điều kiện thực tế. Sau khi được hoàn thiện, luận án sẽ là tài liệu quan trọng
giúp các đối tượng như các nhà quản lý vĩ mô, vi mô vận dụng để đưa ra
những nhận định, quyết định kịp thời, hợp lý trong hoạt động kinh doanh,
trong
điều hành kinh tế, đặc biệt là quyết định thuê tài chính. Đồng thời có thể
giúp các doanh nghiệp CTTC xem xét, bổ sung những hạn chế trong công tác
quản lý hoạt động như hiện nay. Bên cạnh đó, luận án còn là tài liệu tham
khảo hữu ích cho các đối tượng quan tâm khác.
6. Phương pháp nghiên cứu
14
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1. VỐN VÀ NGUỒN VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Đứng trên phương diện lý luận, có nhiều quan niệm khác nhau về vốn
kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, để diễn đạt một cách khái quát và
đơn giản thì: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền c
ủa
toàn bộ giá trị tài sản được doanh nghiệp huy động, sử dụng vào hoạt động
sản xuất kinh doanh nhằm mục đích gia tăng giá trị cho chủ sở hữu”.
Vốn kinh doanh được coi là yêu cầu, điều kiện tiên quyết đối với sự ra
đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Về cơ bản, tất cả các hoạt động
của doanh nghiệp đều đòi hỏ
i phải có vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành các hoạt động kinh doanh, các
doanh nghiệp cần phải ứng ra một lượng vốn nhất định phù hợp với quy mô,
điều kiện kinh doanh cụ thể. Từ đó, các yếu tố cơ bản của quá trình kinh
doanh như: sức lao động, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu sẽ được

năng cạnh tranh trên thị tr
ường.
- Là công cụ phản ánh, đánh giá sự vận động của tài sản và quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp.
Có nhiều cách phân loại vốn kinh doanh trong doanh nghiệp, tuy nhiên
chúng ta thường phân chia và tiếp cận hai hình thức cơ bản, đó là vốn cố định
và vốn lưu động.
Vốn cố định là bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Đó chính là số
vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng, trang b
ị, hình thành nên các
TSCĐ hữu hình như: máy móc, trang thiết bị, dây chuyền công nghệ và các

16
TSCĐ vô hình như: bản quyền, thương hiệu, công trình nghiên cứu cần thiết
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định sẽ
quyết định quy mô của TSCĐ, bên cạnh đó còn ảnh hưởng rất lớn đến trình
độ kỹ thuật công nghệ, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá
trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chu chuyển dần dần
từng phần giá trị trong nhi
ều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu
chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị. Sự chu chuyển của vốn cố
định chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ.
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và chỉ hoàn thành
một vòng chu chuyển khi đã được thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cố định. Do
giữ
vị trí then chốt và có đặc điểm vận động tuân theo tính quy luật riêng, nên
việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm trong công tác quản lý
tài chính của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưu động
như nguyên, nhiên, vật liệu, công cụ, dụng cụ, thành phẩm, sản phẩm dở

a vốn cũng như của doanh nghiệp.
1.1.2. Nguồn hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Quy luật cung - cầu là một trong những quy luật cơ bản nhất của kinh
tế học. Thực tiễn đã cho thấy tính đúng đắn của quy luật này trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, trong sự cạnh tranh trên thị trường và phạm vi
cả nền kinh tế. Vốn kinh doanh là hàng hóa, điều này đã được khẳng
định.
Chính vì vậy, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
đã đảm bảo cho tính khách quan về sự ra đời và đa dạng hóa của các loại
nguồn vốn (nguồn tài trợ cho doanh nghiệp).
Để có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, một lượng vốn cần và đủ luôn là những đòi hỏi cấp bách đặt ra đối với
hầu hết các doanh nghi
ệp. Để có thể biến ý tưởng và kế hoạch, dự định kinh
doanh thành hiện thực, doanh nghiệp cần phải huy động nguồn lực tài chính

18
và tổ chức tốt nguồn lực đó. Sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp với
quy mô ngày càng lớn cũng đồng nghĩa với việc mở rộng quy mô về vốn kinh
doanh và đa dạng hóa các nguồn tài trợ.
Nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp được coi là những bộ phận,
yếu tố chứa đựng vốn, có thể đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp khi các nhà
quản trị sử dụ
ng những phương thức phù hợp để huy động. Hiện nay, với sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói
riêng, sự đa dạng hóa về cả hình thức nguồn vốn lẫn phương thức huy động
vốn đã giúp cho doanh nghiệp có thể chủ động trong việc lựa chọn các nguồn
vốn thích hợp.
Để có thể tổ chức và huy động vốn mộ
t cách thích hợp và có hiệu quả,

Theo cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành:
Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
Nguồn vốn thường xuyên: Đây là tổng thể các nguồn vốn có tính chất
ổn định mà doanh nghiệp có thể
sử dụng. Nguồn vốn này dành cho việc đầu
tư mua sắm tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần
thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm
vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của doanh nghiệp.
Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
n
ăm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng yêu cầu có tính chất tạm
thời phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn
vốn này thường bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức
tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này sẽ giúp cho các nhà quản lý có
điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn một cách phù hợp vớ
i thời gian
sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn kinh doanh và góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Hơn nữa cách phân loại này còn giúp
các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính, hình thành nên
những dự định về cách lựa chọn nguồn vốn và quy mô vốn thích hợp cho từng
nguồn vốn đó, tổ chức sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.

20
- Theo phạm vi huy động vốn:
Với cách phân loại này nguồn vốn của doanh nghiệp được chia thành:
Nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp.
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động
được từ hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra, thường bao gồm: lợi
nhuận giữ lại để tái đầu tư, khoản khấu hao tài sản cố định, tiền thu từ nhượ

1.1.3. Nguyên tắc cơ bản hoạch định cơ cấu nguồn vốn cho doanh nghiệp
Dựa trên việc phân tích ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài
chính, đánh giá các mặt lợi thế và bất lợi thế của từng hình thức tài trợ; các
nhà kinh tế
khuyến cáo rằng, để tạo một cơ cấu nguồn vốn hợp lý, giúp doanh
nghiệp có thể đạt các mục tiêu đặt ra, cần phải tuân thủ 5 nguyên tắc cơ bản
về hoạch định cơ cấu nguồn vốn:
1.1.3.1 Hoạch định cơ cấu nguồn vốn phải đảm bảo sự phù hợp giữa thời
gian đáo hạn nguồn tài trợ với chu kỳ sinh lời c
ủa tài sản đầu tư (nguyên
tắc đảm bảo tính tương thích)
- Nguyên tắc này được xây dựng dựa trên một thực tế là các nguồn tài trợ
có yêu cầu về thời gian đáo hạn rất khác nhau, trong khi thời gian tạo ra các
nguồn tiền của các loại tài sản cũng không giống nhau. Vì vậy, để đảm bảo
doanh nghiệp có khả năng thanh toán ở bất kì thời diểm nào, giảm thiểu rủi ro
về tài chính thì việ
c tài trợ và cơ cấu vốn cần có sự tương thích giữa thời gian
được quyền sử dụng vốn với chu kỳ sinh lời của tài sản đầu tư.
- Nguyên tắc này yêu cầu các nguồn vốn tài trợ vốn cho doanh nghiệp
phải có thời gian hoàn trả vốn gốc và lãi phù hợp với chu kỳ sinh lời của
những tài sản đầu tư vào doanh nghiệp.
- Với yêu cầu như vậy, TSCĐ và TSL
Đ thường xuyên có thời gian hoàn
vốn lâu dài cần được tài trợ bằng các nguồn vốn ổn định là: vốn chủ sở hữu và
các nguồn tài trợ dài hạn khác. Còn TSLĐ tạm thời cần được tài trợ bằng các
nguồn vốn ngắn hạn, nhằm giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán, lành
mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp.

22
1.1.3.2. Hoạch định cơ cấu nguồn vốn phải tính đến ảnh hưởng của đòn

23
1.1.3.3. Hoạch định cơ cấu nguồn vốn phải đảm bảo duy trì quyền kiểm
soát doanh nghiệp (nguyên tắc đảm bảo quyền kiểm soát)
- Cơ sở của nguyên tắc này là ở chỗ, chủ sở hữu luôn có mục tiêu nắm
quyền kiểm soát doanh nghiệp. Quyền kiểm soát tỷ lệ thuận với số vốn đóng
góp. Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này, việc tái cơ cấu vốn ph
ải thực hiện theo
hướng gia tăng tỷ trọng vốn chủ sở hữu, đảm bảo cho vốn chủ sở hữu đủ lớn
để doanh nghiệp có thể độc lập về mặt tài chính, chủ sở hữu có thể chủ động
quyết định những vấn đề quan trọng trong sản xuất kinh doanh, không phụ
thuộc vào người khác.
- Trên thực tế, để nắm quyền kiể
m soát doanh nghiệp, người ta có thể thực
hiện bằng nhiều cách khác nhau. Thông qua cơ cấu nguồn vốn - gia tăng tỷ lệ
vốn góp cũng là một cách để người ta thay đổi quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp tư nhân - doanh nghiệp một chủ, vấn đề này thường
không cần phải đặt ra. Nhưng đối với các doanh nghiệp đa sở hữu thì quyền
kiểm soát lại là một vấn
đề lớn.
- Nguyên tắc này yêu cầu, để duy trì quyền kiểm soát, doanh nghiệp phải
huy động vốn bằng cách đi vay, thuê, phát hành trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi
nếu các nguồn vốn chủ sở hữu hiện hành không đủ tài trợ cho dự án mới.
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, cách tài trợ vốn như trên để duy trì
quyền kiểm soát, không phải lúc nào cũng đúng. Doanh nghiệp hay chủ sở
hữu có th
ể bị mất toàn bộ quyền kiểm soát nếu huy động vốn vay vượt quá
khả năng chi trả các khoản nợ. Do vậy, hy sinh một phần quyền kiểm soát để
đổi lấy một sự an toàn về mặt tài chính cũng là một yêu cầu cần được xem xét
khi tăng tỷ trọng nợ vay trong cơ cấu nguồn vốn.
1.1.3.4. Hoạch định cơ cấu nguồn vốn phải đảm bảo tính linh ho

nghiệp phải đảm bảo tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, nhằm tối đa hóa lợi
ích cho chủ s
ở hữu doanh nghiệp.
- Tuân thủ nguyên tắc này, một mặt đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp
phải đánh giá được xu thế biến động về giá vốn trên thị trường để lựa chọn

25
thời điểm huy động vốn thích hợp. Mặt khác, cơ cấu nguồn vốn phải nghiêng
về các nguồn tài trợ có thời gian đáo hạn ngắn, thời gian hoàn trả vốn gốc và
lãi có thể điều chỉnh một cách linh hoạt, như cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu có thể
chuyển đổi thành cổ phiếu, và các nguồn tài trợ khác.
1.2. HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG
CTTC
1.2.1. Một số vấn đề cơ bản về thuê tài chính đối với doanh nghiệp
1.2.1.1. Những khái niệm cơ bản
* Khái niệm thuê tài chính
Thuê tài chính là một hình thức huy động vốn trung và dài hạn. Hay nói
cách khác, thuê tài chính là việc nhận một khoản tín dụng trung, dài hạn thông
qua việc thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác từ công ty cho thuê tài
chính, qua đó bên đi thuê có thể sử dụng tài sản thuê và thanh toán dần tiền
thuê trong suốt thời hạn đã đượ
c thoả thuận. Bên đi thuê tài chính không có
quyền hủy ngang hợp đồng.
Khi một hợp đồng thuê tài chính được ký kết, người thuê lập tức có
được một dòng tiền vào, do đó người thuê không cần phải bỏ tiền ra mua tài
sản. Người thuê phải cam kết trả các khoản chi phí thuê được quy định cụ thể
trong hợp đồng thuê. Chính vì vậy, dòng tiền của hợp đồng thuê tài chính và
vay nợ cũng tương tự nhau. Có nhiều cách nhìn nhận về
thuê tài chính, song
chúng ta có thể đề cập đến một số khái niệm sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status