1 Luận văn
Hợp đồng ngoại thương và
vai trò của hợp đồng ngoại
thương trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu
2
A: MỞ BÀI
Trong công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được nhiều thành
tựu to lớn và rất quan trọng về kinh tế xã hội. Chặng đường đổi mới tiếp theo
đòi hỏi chúng ta phải cố gắng phấn đấu, nỗ lực, nghiên cứu, tìm tòi, giải quyết
những vấn đề mới mẻ, phức tạp của nên kinh tế thị trường và hội nhập quốc
tế.
Trong đó hợp đồng ngoại thương luôn là khâu trọng yếu được Đảng,
Nhà nước quan tâm một cách thiết thực.
Bên cạnh đó với sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất và
phân công lao động trên qui mô toàn thế giới đang diễn ra ngày càng sâu sắc
và xuất hiện ngày càng nhiều các hình thức liên minh, hợp tác, trao đổi hàng
hoá đóng một vị trí quan trọng trong các hoạt động kinh tế đối ngoại. Do đó:
để hoạt động trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi đòi hỏi phải có cơ sở
pháp lý nhất định cho các bên và hợp đồng ngoại thương là hình thức pháp lý
cơ bản của trao đổi hàng hoá quốc tế.
Với đề tài: “Hợp đồng ngoại thương và vai trò của hợp đồng ngoại
thương trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu” chúng ta sẽ hiểu rõ
hơn về hợp đồng ngoại thương và vai trò của nó trong hoạt độg kinh doanh
xuất nhập khẩu.
B: THÂN BÀI
Công ước Vienne 1980 của Liên Hợp quốc thì yếu tố nước ngoài của
hợp đồng là yếu tố về chủ thể.
Như vậy: Về mặt bản chất thì khái niệm hợp đồng ngoại thương trong
công ước của Liên Hợp quốc 1980 với khái niệm trong luật Thương Mại Việt
Nam 1997 có sự tương đồng.
Hợp đồng mua bán ngoại thương có thế phải chịu cả sự điều chỉnh của
luật pháp và tập quán quốc tế.
Theo Nghị định 36/CP ngày 24/04/1997 các hợp đồng trao đổi hàng
hoá giữa các Doanh nghiệp thuộc khu chế xuất, các cơ sở kinh doanh hàng
miễn thuế với các doanh nghiệp trong nước tuy không được gọi là hợp đồng
4
mua bán ngoại thương nhưng được coi là hợp đồng xuất nhập khẩu và chịu
chi phối của các qui định pháp luật liên quan.
Đặc điểm của hợp đồng ngoại thương:
- Về chủ thể:
Chủ thể tham gia hợp đồng là những thương nhân mang quốc tịch khác
nhau, qui chế thương nhân được xác định theo luật của nước mà thương nhân
đó mang quốc tịch.
Thương nhân là tổ chức thì quốc tịch của thương nhân được xác định là
quốc tịch của nước nơi:
+ Đặt trung tâm quản lý.
+ Đặt trung tâm hoạt động của tổ chức.
Khoản 1 Điều 832 Bộ luật Dân sự nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ghi nhận nguyên tắc quốc tịch của pháp nhân được xác định tuỳ thuộc
vào nơi thành lập pháp nhân.
- Về đối tượng của hợp đồng:
Là hàng hoá tồn tại thực tế, có thể di rời được, xác định được phải được
phép giao dịch lưu thông trên thị trường.
- Về đồng tiền thanh toán:
Trong hợp đồng ngoại thương đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với ít
Đó là sự thỏa thuận có liên quan đến đồng tiền thanh toán, cách quy
định phương pháp tính đơn vị tính giá về đồng tiền thanh toán: Đồng tiền
thanh toán là đồng tiền của nước bên mua, bên bán hoặc của một nước thứ ba
do các bên thoả thuận.
Các bên có thể thoả thuận một giá cố định hoặc thoả thuận một giá di
động theo từng đợt hàng.
1.5. Điều khoản về phương thức thanh toán:
Trong thực tiễn, các phương thức thanh toán rất đa dạng, các bên có thể
thoả thuận thanh toán bằng trao đổi hàng hoá, bằng tiền mặt, thông qua tín
dụng, chuyển khoản
Trong đó thông qua tín dụng (L/C) được áp dụng rộng rãi nhất trong
mua bán quốc tế.
6
1.6. Địa điểm thời hạn giao hàng:
Địa điểm giao hàng có thể là nơi sản xuất, cảng, biển, ga hoặc tại bất
kỳ nơi nào do các bên thoả thuận. Thời điểm giao hàng có thể là một thời gian
nhất định hoặc một khoảng thời gian mà các bên phải hoàn tất việc giao nhận
hàng.
Địa điểm thời hạn giao hàng là điều khoản quan trọng trong mua bán
quốc tế, có ảnh hưởng trực tiếp tới giá cả, về việc xác định quyền sở hữu và
trách nhiệm gánh chịu những rủi ro khi thực hiện hợp đồng.
II. VAI TRÒ CỦA HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU:
1. Các điều kiện để hợp đồng mua bán ngoại thương có hiệu lực:
Xung đột về tính hợp pháp của hợp đồng mua bán ngoại
thương:
Các quốc gia có những qui định khác nhau về tính hợp đồng nói chung
và hợp đồng ngoại thương nói riêng:
- Về hình thức của hợp đồng:
Đa số các nước Bắc Âu, Tây Âu và Châu Mỹ đều áp dụng luật mới ký
Theo khoản 1 Điều 81 luật Thương mại Việt Nam, chỉ những thương
nhân Việt Nam có những điều kiện nhất định mới được phép hoạt động
thương mại trực tiếp với nước ngoài.
Điều kiện này đã được hàng loạt các văn bản dưới luật qui định cụ thể:
Tại Điều 2 Quyết định số 55/1998/QĐ-TTg ngày 3/3/1998 của Thủ tướng
Chính phủ và Điều 8 Nghị định số 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998 qui định
mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được phép xuất nhập
khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký kinh doanh nhưng doanh nghiệp
phải đăng ký mã số doanh nghiệp tại Cục Hải quan tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương nơi doanh nghiệp có trụ sở.
- Về đối tượng của hợp đồng mua bán ngoại thương:
Đó là hàng hoá được phép lưu thông, được phép xuất nhập khẩu. Tại
Điều 4, Điều 5 Nghị định 57/NĐ-CP và phụ lục số 2 ban hành kèm theo Nghị
định rất rõ về vấn đề này.
8
- Nội dung của hợp đồng:
Theo qui định của pháp luật Việt Nam những nội dung chủ yếu của hợp
đồng ngoại thương bao gồm:
+ Tên hàng
+ Số lượng
+ Qui cách – chất lượng
+ Giá cả
+ Phương thức thanh toán
+ Địa điểm thời hạn giao hàng.
- Về hình thức của hợp đồng mua bán ngoại thương:
Hình thức của hợp đồng mua bán ngoại thương được qui định theo
pháp luật Việt Nam là phải lập thành văn bản.
Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin trên các hình thức
giao dịch bằng điện báo, telex, fax, thư điện tử cũng được coi là hình thức
văn bản.
- Hợp đồng ngoại thương là căn cứ để bảo vệ các nguồn và lợi ích
hợp pháp của các bên khi có tranh chấp xảy ra.
- Hợp đồng ngoại thương là cơ sở quan trọng của cơ quan nhà nước:
Hải quan, cơ quan thuế thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trong các
lĩnh vực liên quan.
Cuối năm 1986 thực hiện đường lối mới do Đại hội Đảng lần thứ VI đề
ra, kinh tế đối ngoại đã được coi là mũi nhọn của sự nghiệp đổi mới, xuất
khẩu còn là một trong ba chương trình kinh tế trọng điểm.
Từ năm 1987 Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu.
10
C. KẾT LUẬN
Thực tiễn đã chứng minh trong thời đại ngày nay khi trình độ quốc tế
hoá đời sống kinh tế ngày càng cao nhu cầu hội nhập quốc tế là nhu cầu
không thể thiếu và ngày càng được mở rộng.
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn bắt nguồn từ chế độ kinh tế đất nước,
song với những gì mà chúng ta đã, đang và sẽ làm trong thời gian qua và sắp
tới đây đã thể hiện được sự ý thức giá trị to lớn của việc hội nhập kinh tế quốc
tế, đặc biệt là các quan hệ trao đổi hàng hoá quốc tế đang ngày càng phát
triển.
Do vậy: Vai trò của hợp đồng ngoại thương là rất quan trọng trong quá
trình phát triển và thúc đẩy nền kinh tế.
Ngày 13/7/2000 tại OaSinton, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Bộ
Trưởng Bộ Thương Mại Vũ Khoan đã ký hiệp định thương mại với Hoa Kỳ,
đây chính là mối quan trọng đánh dấu sự bình thường hoá hoàn toàn giữa Việt
Nam và Hoa Kỳ.
Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên của ASEAN năm 1995,
APEC năm 1998. Việt Nam tham gia tích cực vào các hoạt động trong khuôn
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ngoại thương theo pháp luật
Việt Nam
6
2. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ngoại thương theo pháp luật
Việt Nam
7
C. Kết luận 9
12
MỤC LỤC A. Mở đầu 1
B. Thân bài 2
I. Hợp đồng ngoại thương 2
1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng ngoại thương 2
1.1.
Khái niệm 2
1.2.
Đặc điểm của hợp đồng ngoại thương 3
2. Nội dung cơ bản của hợp đồng ngoại thương 4
II. Vai trò của hợp đồng ngoại thương trong hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu
5
1. Các điều kiện để hợp đồng mua bán ngoại thương có hiệu lực 5
1.1.