Lời mở đầu
Cơ chế thị trờng mở ra muôn vàn cơ hội, song cũng chứa đựng đầy rẫy rủi ro
đối với mỗi doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị tr-
ờng các doanh nghiệp đều là chủ thể của sản xuất kinh doanh hàng hoá tồn tại
trong một hệ thống kinh tế nh một cơ thể sống, vận động trên thị trờng lấy thị tr-
ờng làm môi trờng sống của mình. Tuy nhiên từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng thì đã có nhiều doanh nghiệp
tỏ ra không thích ứng đợc với môi trờng sống của mình và họ bị đào thải khỏi hệ
thống. Sở dĩ nh vậy là do họ cha có sự hiểu biết cần thiết về thị trờng, cha nắm bắt
đợc tình hình thị trờng, coi nhẹ công tác nghiên cứu thị trờng. Công tác nghiên cứu
thị trờng có tốt thì mới tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể đáp ứng một cách tốt
nhất nhu cầu thị trờng từ đó tạo ra khả năng phát triển doanh nghiệp một cách
vững chắc và mạnh mẽ.
Nh vậy, công tác nghiên cứu thị trờng phát triển thị trờng là công tác quan
trọng hàng đầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vấn đề đặt
ra là: làm thế nào để thực hiện công tác phát triển thị trờng và nghiên cứu thị trờng
một cách có hiệu quả nhất. Đề tài Thị trờng và phơng pháp nghiên cứu thị tr-
ờng của doanh nghiệp đợc nêu ra để góp phần vào việc trả lời câu hỏi đã đợc
nêu trên.
Nội dung cơ bản của đề tài:
Phần I: Lý thuyết chung về thị trờng và công tác nghiên cứu thị trờng
của doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng thị trờng và công tác nghiên cứu thị trờng của các
doanh nghiệp trong thời gian qua và một số kiến nghị.
1
Phần I
Lý thuyết chung về thị trờng và công tác nghiên cứu
thị trờng của doanh nghiệp.
I-/ Thị trờng, vai trò thị trờng đối với hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
1-/ Khái niệm thị trờng:
Thứ nhất: Thị trờng phá vỡ ranh giới sản xuất tự nhiên, tự cấp tự túc để tạo
thành thể thống nhất trong toàn nền kinh tế quốc dân. Qua trao đổi mua bán giữa
các vùng sẽ biến kiểu tổ chức khép kín thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất
thành kinh tế hành hoá.
Thứ hai: Thị trờng có tác dụng thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng.
Nhu cầu của ngời tiêu dùng rất đa dạng và phong phú, nó luôn có xu hớng
ngày càng hoàn thiện, đòi hỏi của ngời tiêu dùng đối với sản phẩm ngày càng cao.
Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải không
ngừng cải tiến quá trình sản xuất của mình. Nhu cầu của ngời tiêu dùng và sự cạnh
tranh mạnh mẽ thúc đẩy các doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất kinh doanh làm tăng năng suất lao động, giảm giá thành, nâng cao chất l-
ợng sản phẩm. Ngợc lại, sản xuất phát triển cũng có tác dụng kích thích tiêu dùng.
Khi các sản phẩm luôn đợc cải tiến đáp ứng đợc những nhu cầu ngày càng cao của
ngời tiêu dùng và sự ra đời của nhiều sản phẩm mới với nhiều tính năng mới sẽ
hấp dẫn, thúc đẩy ngời tiêu dùng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Từ đó đời
sống của nhân dân không ngừng đợc nâng cao.
Thứ ba: Qua thị trờng, Nhà nớc điều tiết và hớng đẫn sản xuất kinh doanh.
Để đi theo định hớng xã hội chủ nghĩa đã chọn Nhà nớc phải luôn theo dõi chặt
chẽ sát sao diễn biến thị trờng và sử dụng các công cụ của mình để điều tiết hớng
dẫn sản xuất kinh doanh.
Các công cụ của Nhà nớc sử dụng là: Luật pháp, các chính sách, hệ thống
doanh nghiệp Nhà nớc ... Thị trờng là nơi quan trọng để đánh giá kiểm tra, kiểm
nghiệm tính đúng đắn của các chủ trơng chính sách, biện pháp kinh tế của các cơ
quan Nhà nớc, các nhà sản xuất kinh doanh. Thị trờng cần phản ánh các quan hệ
xã hội, hành vi giao tiếp của con ngời, đào tạo và bồi dỡng cán bộ quản lý, nhà
kinh doanh.
3
* Vai trò của thị trờng thể hiện ở tầm vi mô.
Thứ nhất: Thị trờng đảm bảo sự tồn tại và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ không phải để thoả mãn nhu
Theo các tiêu thức khác nhau thì thị trờng đợc phân thành các loại khác nhau.
Sở dĩ ta phải phân loại thị trờng vì: Muốn thành công trong kinh doanh cần phải
hiểu cặn kẽ thị trờng, việc phân loại thị trờng sẽ giúp doanh nghiệp tìm đợc thị tr-
ờng thích hợp với thực hiện mục tiêu của mình trên thị trờng đó. Đối với Nhà nớc:
Việc phân loại thị trờng sẽ giúp Nhà nớc hiểu và quản lý thị trờng tốt hơn.
1-/ Phân loại thị trờng căn cứ vào số lợng ngời mua, ngời bán trên thị trờng:
Theo tiêu thức này thị trờng đợc phân thành: thị trờng cạnh tranh hoàn hảo,
thị trờng cạnh tranh độc quyền, thị trờng độc quyền.
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trờng mà ở đó số ngời tham gia vào thị
trờng tơng đối lớn và không ai có u thế để cung ứng hay mua một số lợng sản
phẩm có thể ảnh hởng đến giá cả. Ngời mua và ngời bán không ai quyết định giá
cả và chỉ chấp nhận giá mà thôi.
Thị trờng cạnh tranh độc quyền: là thị trờng bao gồm nhiều doanh nghiệp
nhỏ dễ gia nhập và cũng dễ rút lui, mỗi doanh nghiệp sản xuất ra một loại hàng
hoá có sự khác nhau.
Thị trờng độc quyền: Là thị trờng mà ở đó chỉ có một ngời bán một loại sản
phẩm hay dịch vụ đặc thù mà những ngời bán khác không có hoặc không thể làm
đợc. Họ đợc quyền định giá sản phẩm.
2-/ Phân loại thị trờng căn cứ vào tính chất công dụng của hàng hoá lu
thông trên thị trờng.
Thị trờng hàng t liệu sản xuất và thị trờng hàng t liệu tiêu dùng.
Thị trờng hàng t liệu sản xuất là tập hợp những cá nhân và tổ chức mua hàng
và dịch vụ để sử dụng vào việc sản xuất ra những thứ hàng hoá khác, dịch vụ khác
để bán, cho thuê cho ngời tiêu dùng khác.
Trên thị trờng hàng t liệu sản xuất, số lợng ngời mua ít hơn thị trờng hàng t
liệu tiêu dùng, tần suất xuất hiện trên thị trờng ít hơn nhng khối lợng mua sắm của
họ rất lớn với các phơng thức thanh toán hiện đại.
Thị trờng hàng t liệu tiêu dùng: là những cá nhân và hộ gia đình mua hàng
hoá và dịch vụ để tiêu dùng cho cá nhân. Khối lợng hàng mua trên thị trờng này
không nhiều trong mỗi lần nhng nó có một tập hợp khách hàng cực lớn với tính
một chu kỳ nào đó (ngày, tháng hoặc trong một năm). Số lợng cung phụ thuộc vào
giá cả hàng hoá và phụ thuộc vào các yếu tố khác, trớc hết là giá cả các yếu tố đầu
vào và kỹ thuật sản xuất hiện có.
Số lợng cung thờng tăng hay giảm theo giá cả của hàng hoá, nếu xét trong
một chu kỳ đủ dài. Giá bán một loại hàng hoá nào đó càng cao thì lợng cung của
hàng hoá đó càng lớn vì khi đó nhà sản xuất sẽ thu đợc nhiều lợi nhuận. Ngợc lại,
6
khi giá hạ ngời sản xuất sẽ sản xuất cầm chừng, giảm bớt số lợng, thậm chí
chuyển sang sản xuất hàng hoá khác.
Số lợng cung của thị trờng là tổng lợng cung của từng doanh nghiệp.
Sự thay đổi của số lợng cung một hàng hoá tuỳ thuộc vào sự biến đổi giá cả
của hàng hoá đó, trong khi các yếu tố khác không đổi tạo nên một hàm gọi là hàm
cung: Qx = Fpx
Hàm cung là quy luật cung ứng trên thị trờng thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa số lợng cung và giá cả về một hàng hoá nhất định trên một thị trờng xác định
và trong một thời điểm nhất định.
* Các yếu tố ảnh hởng đến cung:
Ngoài yếu tố giá cả đã trình bày ở trên cung còn chịu ảnh hởng của các yếu
tố sau:
1, Năng lực sản xuất: Năng lực sản xuất một loại hàng hoá nào đó tăng lên,
làm cho trong cùng một thời gian lợng hàng cung ứng cho thị trờng tăng lên, nếu
nh các yếu tố khác không đổi. Năng lực sản xuất tăng lên là do từng xí nghiệp mở
rộng quy mô sản xuất hoặc do một số doanh nghiệp mới triển khai sản xuất.
2, Công nghệ sản xuất: Công nghệ sản xuất gồm kỹ thuật và các phơng pháp
sản xuất một loại hàng hoá dịch vụ nào đó. Cải tiến công nghệ làm cho chi phí sản
xuất thấp hơn dẫn đến lợi nhuận cao hơn, ngời sản xuất mở rộng sản xuất.
3, Giá cả các yếu tố đầu vào:
Nếu giá cả các yếu tố đầu vào nh: máy móc, thiết bị, lao động, nguyên vật
liệu giảm xuống, ở mỗi mức giá cho trớc nhà sản xuất thu đợc nhiều lợi nhuận hơn
trên mỗi sản phẩm do vậy nhà sản xuất sẽ sản xuất và cung ứng cho thị trờng
* Các yếu tố ảnh hởng đến cầu:
Ngoài yếu tố giá cả của các yếu tố: Số lợng ngời tiêu thụ, giá cả của hàng hoá
có liên quan, thu nhập của ngời tiêu dùng, sở thích và dự kiến giá cả trong tơng lai:
1, Số lợng ngời tiêu thụ:
Số lợng ngời tiêu thụ trên thị trờng càng lớn thì ở mỗi mức giá số lợng cầu
càng lớn.
2, Giá cả của những hàng hoá có liên quan:
Hàng hoá có liên quan gồm hàng thay thế và hàng bổ sung. Sự tác động của
chúng do sự thay đổi giá cả đến nhu cầu của một loại hàng hoá có liên quan trái
ngợc nhau. Nếu tăng (hoặc giảm) giá những hàng hoá thay thế thì kéo theo làm
tăng (hay giảm) số lợng cầu hàng hoá đang xét (ứng với mức giá cho trớc). Sở dĩ
8
nh vậy là do khi tăng giá một mặt hàng thì ngời tiêu dùng chuyển sang sử dụng
một mặt hàng khác thay thế làm cho nhu cầu tăng lên.
3, Thu nhập của ngời tiêu thụ:
Sự thay đổi thu nhập của ngời tiêu thụ làm thay đổi nhu cầu của họ, tuy nhiên
còn tuỳ thuộc ở chỗ hàng hoá đang xét là hàng bình thờng hay hàng cấp thấp. Nếu
là hàng cao cấp, thu nhập tăng làm tăng nhu cầu và ngợc lại. Đối với hàng hoá cấp
thấp, thu nhập tăng lại làm giảm nhu cầu.
4, Sở thích của ngời tiêu thụ:
Sở thích hay thị hiếu của ngời tiêu thụ có ảnh hởng mạnh mẽ tới nhu cầu, khi
sở thích thay đổi kéo theo nhu cầu thay đổi. Thị hiếu của ngời tiêu dùng đan hớng
vào một lại, kiếu hàng hoá nào đó thì nhu cầu về nó sẽ rất cao.
3-/ Giá cả:
Giá cả là một bộ phận không thể thiếu của thị trờng. Giá cả đóng vai trò
quyết định trong việc mua hay không mua hàng của ngời tiêu thụ.
Giá cả có thể hiểu là số tiền mà ngời bán dự tính sẽ nhận đợc ở ngời mua
thông qua trao đổi trên thị trờng một hàng hoá dịch vụ nào đó họ có.
Giá cả và thị trờng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại
với nhau. Thị trờng không những chi phối đến sự cấu tạo và mức độ hình thành giá
Đây là nhân tố tồn tại độc lập, không chịu tác động chủ quan của các doanh
nghiệp. Sự thay đổi quan hệ cung cầu trên thị trờng sẽ dẫn đến sự biến động về giá
cả. Nếu cầu tăng, cung giảm thì giá cả sẽ tăng.
* Sự cạnht ranh trên thị trờng:
Cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp sẽ làm cho giá cả giảm xuống.
* Sự điều tiết của Nhà nớc:
Để đảm bảo tính chất hợp lý của giá cả và tình hình ổn định về kinh tế chính
trị, Nhà nớc có thể can thiệp vào thị trờng bằng việc định giá một số loại sản
phẩm. Đối với những doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng này thì buộc phải
tuân thủ đúng theo giá đã quy định. Đối với những mặt hàng Nhà nớc không qua
định. Đối với những mặt hàng Nhà nớc không quy định giá các xí nghiệp đợc
quyền quyết định nhng phải theo đúng luật định.
4-/ Cạnh tranh:
Cạnh tranh là bất khả kháng, là linh hồn sống của cơ chế thị trờng. Cạnh
tranh là động lực để phát triển kinh doanh. Cạnh tranh trong cơ chế thị trờng là
10
cuộc chạy đua không đích giữa các nhà sản xuất kinh doanh. Nếu ai cảm thấy đích
sẽ trở thành cầu nối để đối thủ đằng sau vợt lên.
Trong nền kinh tế thị trờng tồn tại cả ba trạng thái cạnh ranh: Cạnh tranh giữa
những ngời bán với nhau, cạnh tranh giữa những ngời mua với nhau, cạnh tranh
giữa những ngời mua và ngời bán. Cụ thể là:
Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua: Ngời bán buôn muốn bán đắt, ngợc
lại ngời mua lại muốn mua rẻ. Sự cạnh tranh này diễn ra trong quá trình mặc cả để
hình thành giá cả và phơng thức thanh toán trên thị trờng.
Cạnh tranh giữa những ngời mua là nhằm độc quyền chiếm quyền sở hữu
hoặc quyền sử dụng một lại hàng hoá dịch vụ. Hiện tợng này chỉ xuất hiện khi
hàng hoá khan hiếm, cạnh tranh giữa các ngời mua làm tăng giá cả hàng hoá, ngời
bán loại hàng này sẽ đựoc lợi .
Cạnh tranh giữa những ngời bán, tức là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng cung ứng một thứ hàng hoá hay dịch vụ, làm cho giá cả hàng hoá giảm, và