CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
TRƯỜNG
KHOA………………
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Vai trò của công ty lữ hành
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 1
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
MỤC LỤC
I.2 PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
I.3 I. Những vấn đề cơ bản về công ty lữ hành 3
I.4 1.Định nghĩa công ty lữ hành 3
I.7 PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH, QUY TRÌNH KHAI THÁC VÀ TỔ CHỨC PHỤC VỤ
KHÁCH DU LỊCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ
HÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VIỆT NAM TẠI ĐÀ
NẴNG 19
I. Giới thiệu chung về công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Đà
Nẵng 19
I.9 PHẦN III : HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KHAI THÁC VÀ TỔ
CHỨC PHỤC VỤ KHÁCH DU LỊCH TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI VITOURS ĐÀ NẴNG 51
I.10 I. Phương hướng và mục tiêu 51
I.11 1. Những căn cứ tiền đề 51
I.12 3. Mục tiêu của công ty 52
I.13 II. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình khai thác và tổ
chức phục vụ khách du lịch trong hoạt động kinh doanh lữ hành tại
Vitours 53
I.14 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình khai thác khách 53
I.15 b. Mở rộng kênh phân phối 54
Chính quyền
địa phương
Công ty lữ
hành
Khách du
lịch
Sơ đồ 1. Vai trò của công ty lữ hành
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
3. Phân loại công ty lữ hành
Có nhiều cách phân loại các công ty lữ hành. Mỗi một quốc gia có một cách
phân loại phù hợp với điều kiện thực tế của hoạt động du lịch. Các tiêu thức thông
thường dùng để phân loại bao gồm:
Sản phẩm chủ yếu của công ty lữ hành.
Phạm vi hoạt động của công ty lữ hành.
Quy mô và phương thức hoạt động của công ty lữ hành.
Quan hệ của công ty lữ hành với khách du lịch.
Quy định của các cơ quan quản lý du lịch.
Tại Việt Nam, các công ty lữ hành được chia làm hai loại cơ bản là doanh
nghiệp lữ hành quốc tế và doanh nghiệp lữ hành nội địa theo qui định của Tổng cục
Du lịch Việt Nam trên cơ sở phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.
Hiện nay cách phân loại chủ yếu đối với các công ty lữ hành được áp dụng tại
hầu hết các nước trên thế giới được thể hiện trên sơ đồ 2.
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 4
CÔNG TY LỮ HÀNH
Đại lý du lịch
Đại
lý du
lịch
bán
buôn
Công
ty lữ
hành
nội địa
Sơ đồ 2. Phân loại các công ty lữ hành
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
4. Hệ thống sản phẩm của công ty lữ hành
Sự đa dạng trong hoạt động lữ hành du lịch là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự
phong phú, đa dạng của các sản phẩm cung ứng của công ty lữ hành. Căn cứ vào
tính chất và nội dung, có thể chia các sản phẩm của công ty lữ hành thành 3 nhóm
cơ bản:
- Các dịch vụ trung gian.
- Các chương trình du lịch trọn gói.
- Các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp.
a . Các dịch vụ trung gian
Sản phẩm dịch vụ trung gian chủ yếu do các đại lý du lịch cung cáp. Trong
hoạt động này, các đại lý du lịch thực hiện các hoạt động bán sản phẩm của các nhà
sản xuất tới khách du lịch. Các dịch vụ trung gian chủ yếu bao gồm:
Đăng ký đặt chỗ và bán vé máy bay.
Đăng ký đặt chỗ và bán vé trên các loại phương tiện vận chuyển khác:
tàu thủy, đường sắt, ô tô
Môi giới cho thuê xe ô tô.
Môi giới và bán bảo hiểm.
Đăng ký đặt chỗ và bán các chương trình du lịch.
Đăng ký đặt chỗ trong các khách sạn
Các dịch vụ môi giới trung gian khác.
b. Các chương trình du lịch trọn gói.
Hoạt động du lịch trọn gói mang tính chất đặc trưng cho hoạt động lữ hành du
lịch. Các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ thành
một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với một mức giá gộp. Có nhiều
Đời sống con người càng được nâng cao, nhu cầu xã hội sẽ càng tăng về cả
chất và lượng. Điều này đòi hỏi công ty lữ hành phải mở rộng quy mô hoạt động
sang các lĩnh vực khác có liên quan đến du lịch để phục vụ ngày một tốt hơn cho
nhu cầu của khách du lịch như ngân hàng, bưu chính viễn thông, đặc biệt là các
hãng hàng không, khách sạn, nhà hàng, vận chuyển và một số dịch vụ bổ sung khác.
Mối quan hệ giữa công ty lữ hành và các hãng hàng không giúp công ty chủ
động và linh hoạt trong việc đặt vé máy bay, sắp xếp các chương trình du lịch quốc
tế và một số chương trình du lịch nội địa.
Để tạo ra một sản phẩm lữ hành hoàn chỉnh, công ty lữ hành không thể không
quan tâm đến mối quan hệ với các đơn vị kinh doanh lưu trú, vận chuyển, các cơ
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 6
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
quan quản lý du lịch địa phương, vùng và quốc gia trên đất nước mình và các nước
trên thế giới. Tất cả các mối quan hệ này tác động đến thành công của công tác thực
hiện một chương trình du lịch của công ty và chất lượng sản phẩm.
Trong một công ty du lịch, giữa các bộ phận lữ hành và các bộ phận kinh
doanh dịch vụ khác phải có mối liên kết chặt chẽ và thống nhất với nhau nhưng
tương đối độc lập, có thể coi nhau như những đối tác thân thiết. Mối quan hệ này có
vai trò quan trọng trong việc nối kết các bộ phận trong cùng công ty với nhau, cùng
nhau thực hiện những chính sách, mục tiêu chung của công ty, nâng cao khả năng
cạnh tranh của công ty trên thị trường cũng như hạn chế bớt những sai sót có thể
xảy ra trong quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty mình.
III. Quy trình khai thác và tổ chức phục vụ khách du lịch trong hoạt
động kinh doanh lữ hành
1. Khái niệm
a. Quy trình kinh doanh trong hoạt động lữ hành
Cũng như mọi loại hình kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh lữ hành tại
một doanh nghiệp lữ hành diễn ra theo một quy trình cụ thể, chặt chẽ. Quy trình
kinh doanh du lịch lữ hành bao gồm sáu giai đoạn nối tiếp nhau, thực hiện những
công việc với mục đích cuối cùng là đáp ứng nhu cầu du lịch và tìm kiếm lợi nhuận.
cứu thị
trường
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
Đó là quy trình khai thác khách và tổ chức phục vụ khách du lịch trong hoạt động
kinh doanh lữ hành.
b. Quy trình khai thác khách du lịch
Quy trình khai thác khách du lịch là một chuỗi hoạt động, công việc nối tiếp
nhau liên quan đến việc khai thác thị trường đối với từng loại hình du lịch, từng
chương trình du lịch cụ thể của công ty lữ hành, đưa sản phẩm lữ hành tiếp cận với
khác du lịch một cách dễ dàng, thực hiện các hoạt động xúc tiến bán để thu hút
khách, mở rộng thị phần của công ty lữ hành. Những công việc chính của quy trình
này bao gồm:
Nghiên cứu thị trường và đặc điểm tiêu dùng của thị trường mục tiêu.
Công tác cổ động.
c. Quy trình tổ chức phục vụ khách du lịch
Nhân tố quan trọng quyết định chất lượng sản phẩm lữ hành chính là con
người, bao gồm cả lực lượng lao động, cư dân địa phương và khách du lịch. Đội
ngũ lao động tạo ra chất lượng dịch vụ thông qua công tác tổ chức phục vụ cho
khách nhưng khách du lịch là người đánh giá chất lượng, cư dân địa phương góp
phần làm tăng hoặc giảm chất lượng chương trình du lịch tại các điểm du lịch.
Vì vậy những công việc nhằm phục vụ khách du lịch tại các cơ sở lưu trú, nhà
hàng, các điểm du lịch phải được phối hợp và liên kết với nhau thành một hệ thống
các hoạt động cụ thể nhưng liênhoàn và thống nhất. Hay nói cách khác đó chính là
quy trình tổ chức phục vụ khách du lịch.
2. Vai trò của các quy trình trong hoạt động kinh doanh lữ hành
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 8
Doanh
nghiệp lữ
hành
Thỏa thuận
lịch, hầu như nước nào cũng có du lịch, coi du lịch là một ngành kinh tế quan trọng
do nhưng lợi ích kinh tế và xã hội mà du lịch mang lại. Bên canh đó nhu cầu du lịch
không ngừng phát triển với những đòi hỏi và nhu cầu ngày càng cao như nhu cầu
giao tiếp, nhu cầu giao lưu văn hóa.
Do đó hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và lữ hành nói riêng của các
doanh nghiệp không phân biệt quốc gia nào cần phải có một quy trình kinh doanh
chung, thống nhất dựa trên bộ tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000. ISO – tổ chức tiêu
chuẩn hóa quốc tế, liên đoàn thế giới về các tổ chức tiêu chuẩn quốc gia, các tổ
chức thành viên thuộc các ủy ban kỹ thuật ISO. Những tiêu chuẩn này phải được
đưa vào từng quy trình nhỏ hơn, cụ thể hơn trong quy trình kinh doanh du lịch lữ
hành. Dựa trên các tiêu chuẩn và quy trình này, mỗi công ty, doanh nghiệp kinh
doanh trong ngành du lịch và các quốc gia, các khu vực chi tiết hóa và bổ sung cho
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của mình.
Việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000 vào quy trình khai thác khách
du lịch sẽ giúp công ty đẩy mạnh khả năng thu hút và khai thác khách du lịch, đặc
biệt là đối tượng khách quốc tế.
c. Quy trình tổ chức phục vụ khách du lịch gắn với bộ tiêu chuẩn ISO
9001 – 2000
Quy trình này có một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm và nâng cao chất
lượng chương trình du lịch, chất lượng phục vụ, kiểm soát và hạn chế sai sót trong
quá trình tổ chức phục vụ cho khách du lịch. Hiện nay, công tác đánh giá, đo lường
chất lượng du lịch nói chung và chất lượng sản phẩm lữ hành nói riêng gặp nhiều
khó khăn. Khách du lịch mỗi người có một suy nghĩ, đánh giá về chất lượng riêng
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 9
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
sau khi tiêu dùng các sản phẩm du lịch, sản phẩm lữ hành. Tuy nhiên các đánh giá
về chất lượng lượng này dựa trên cơ sở những hoạt động của công ty lữ hành và các
đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch trong khâu tổ chức phục vụ cho khách du lịch.
Việc xây dựng và áp dụng quy trình tổ chức phục vụ khách du lịch cũng cần
phải dựa trên các tiêu chuẩn chung của quốc tế và khu vực, từ đó áp dụng có chọn
chương trình du lịch cụ thể, từ đó xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm vào thị
trường đó như thế nào.
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 10
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
Một số chỉ tiêu nghiên cứu thị trường tổng quát hay cụ thể như:
Số lượng, cơ cấu khách du lịch.
Doanh thu từ các hoạt động kinh doanh lữ hành, dịch vụ trong du lịch.
Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật.
Hệ thống các công ty lữ hành, các đại lý lữ hành.
Hệ thống các điểm du lịch nổi tiếng.
Cầu và cung trong lữ hành
* Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua của khách
du lịch
- Hành vi khách hàng cá nhân
Hai nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến hành vi khách hàng cá
nhân là nhân tố cá nhân và nhân tố giao tiếp
Các nhân tố cá nhân
Là những đặc điểm tâm lý của mỗi cá nhân, bao gồm: nhu cầu,
mong muốn và động cơ, nhận thức, học hỏi, cá tính , lối sống, tự
nhận thức
Các nhân tố giao tiếp: là nhân tố đặc trưng cho ảnh
hưởng bên ngoài đến người khác gồm: Nền văn hóa, các nhóm
tham khảo , các tầng lớp xã hội , những người định hướng dư
luận, tình trạng gia đình
- Hành vi khách hàng tổ chức
Hành vi mua hàng của khách hàng có tổ chức ( cơ quan, trường học,
câu lạc bộ…) phức tạp hơn nhiều so với khách hàng cá nhân vì có nhiều
người liên quan đến việc ra quyết định. Do đó, các nhân tố ảnh hưởng có thể
khác nhiều mặc dù quá trình mua hàng là tương tự.
Quyết định mua hàng của tổ chức mang tính lý trí nhiều hơn là tình
trình độ chuyên môn phù hợp với công việc, tạo môi trường làm việc trong lành và
thoải mái. Ngoài ra, các nhân viên trong công ty lữ hành phải được thông tin về
những vấn đề của công ty có liên quan đến công việc và bản thân họ.
Giao tế đối ngoại
Giao tế là một cơ hội đối nội cũng như đối ngoại để tăng doanh thu. Giao tế
đối ngoại là sự giao tế, tiếp xúc với bên ngoài công ty như khách hàng, dân cư địa
phương, báo chí, chính quyền và các hãng lữ hành khác, các công ty chuyên chở,
các khách sạn, nhà hàng bất kể là đối tác hay là đối thủ cạnh tranh.
Do đó công ty lữ hành càng quan hệ tốt với khách hàng hiện tại, khách hàng
tiềm năng và cả những ai không bao giờ trở thành khách hàng của công ty. Trong
quan hệ đối ngoại, quan hệ với báo chí, những bài viết về đơn vị mình, những bức
ảnh đưa lên báo, truyền hình rất tốt cho việc quảng cáo. Trong du lịch có tính cách
hoạt động quốc tế, vì vậy việc giao tế đối ngoại còn đòi hỏi công ty lữ hành cần gia
nhập các Hiệp hội du lịch quốc tế.
Hoạt động quảng bá
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 12
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
Quảng bá có thể coi là một phần của giao tế. Quảng bá có nghĩa là để cho công
chúng biết về những điều tốt mà cơ sở đang thực hiện bằng cách cung cấp thông tin
hay hình ảnh cho báo chí, đài phát thanh hay đài truyền hình địa phương.
Báo chí thường là nguồn tốt nhất cho việc quảng bá, các tạp chí chuyên ngành
du lịch cũng vậy, tuy nhiên các bài viết được đăng phần nhiều chọn lựa rất kỹ.
Tranh ảnh là dạng quảng bá dễ chấp nhận nhất nếu có bài viết đi kèm là cho người
đọc thêm quan tâm.
Ưu điểm chính của quảng bá là tạo sự ý thức và chấp nhận sản phẩm trong
quần chúng và là dễ dàng những cố gắng chiêu hàng khác như quảng cáo, khuyến
mãi
Hoạt động quảng cáo
Định nghĩa
Quảng cáo bao gồm tất cả các hoạt động có mục đích trình bày với một nhóm
phẩm trên phạm vi rộng nhằm mục đích bán được nhiều dịch vụ hay thu hút được
nhiều khách du lịch.
Căn cứ vào khả năng khai thác khách du lịch
Công ty lữ hành có thể tiến hành các hoạt động xúc tiến bán trực tiếp đối với
thị trường khách công ty tự khai thác thông qua hệ thống kênh phân phối trực tiếp
và thực hiện các chế độ khuyến mãi, giảm giá cho các đối tượng khách hàng tiềm
năng, các khách hàng trung thành của công ty. Tuy nhiên giá sản phẩm lữ hành theo
con đường này rẻ hơn so với giá bán thông qua các trung gian nên việc khuyến mãi,
giảm giá chỉ ở một mức độ cho phép. Hoạt động xúc tiến bán vào thị trường này
cũng mạnh hơn do những lợi điểm về giá cả, thời gian, thủ tục và các khoản hoa
hồng hầu như không có.
Đối với thị trường khách nhận lại, hoạt động xúc tiến bán được tiến hành gián
tiếp qua các khâu trung gian để đến tận tay khách hàng. Do đó công tác xúc tiến bán
chủ yếu đánh vào các nhà trung gian như các đại lý du lịch, các văn phòng đại diện,
chi nhánh và các công ty lữ hành gửi khách thông qua tỷ lệ phần trăm hoa hồng.
Khi công ty lữ hành tham gia các hội chợ, hội thảo về du lịch thì có thể thực
hiện các hoạt động xúc tiến bán, đẩy mạnh khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình
trên cả hia thị trường khách này.
Căn cứ theo tính chất của chương trình du lịch
Đối với các chương trình du lịch chủ động, có ấn định trước ngày tực hiện,
công tác xúc tiến bán được lên kế hoạch trước một thời gian nhất định và đẩy mạnh
khai thác những đói tượng khách phù hợp với các chương trình du lịch này nêm
hiệu quả cũng cao hơn do có sự chuẩn bị, nghiên cứu trước.
Đối với các chương trình du lịch bị động, hoạt động xúc tiến bán hàng diễn ra
quanh năm hay theo thời vụ tùy thuộc loại hình du lịch, vì thế nên nó dàn trải trong
suốt quá trình tung ra sản phẩm đó. Tuy nhiên khả năng khai thác và thu hút khách
là rất lớn vì khách du lịch có thể lựa chọn những chương trình du lịch mình muốn đi
và không bị gò ép về thời gian khởi hành chuyến đi.
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 14
Doanh
gốc phát sinh của chương trình du lịch, loại hình du lịch Tuy vậy có thể nhóm
toàn bộ các hoạt động thành những giai đoạn sau:
b. Quy trình tổ chức phục vụ khách du lịch tại công ty lữ hành
Đây là một quy trình với các hoạt động cụ thể hơn và chỉ liên quan đến công
tác phục vụ trực tiếp cho khách du lịch, bao gồm:
* Công tác chuẩn bị dịch vụ.
* Đón tiếp khách.
* Tổ chức phục vụ khách tại khách sạn.
* Tổ chức phục vụ khách tại các điểm tham quan.
* Xử lý các tình huống.
Trong đó các hoạt động chính xảy ra chủ yếu tại công ty lữ hành là:
Công tác chuẩn bị dịch vụ
Bước này bao gồm các công việc:
Chuẩn bị các dịch vụ.
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 15
Sơ đồ 5. Quy trình tổ chức phục vụ khách
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
Chuẩn bị các hối phiếu thanh toán, một khoản tiền mặt cho hướng dẫn
viên đề phòng một số trường hợp bất khả kháng.
Trên cơ sở thông báo khách của bộ phận marketing, bộ phận điều hành xây
dựng lịch trình cụ thể với đầy đủ nội dung hoạt động cũng như các địa điểm tiến
hành. Dựa vào lịch trình này để kiểm tra khả năng thực thi của chương trình, chủ
yêý là về mức giá hoặc các dịch vụ đặc biệt. Nếu có những vấn đề bất thường phải
thông báo ngay cho bộ phận marketing và lãnh đạo công ty.
Sau khi lên lịch trình cụ thể, bộ phận điều hành chuẩn bị các dịch vụ bao gồm
đặt phòng và báo ăn cho khách tại các khách sạn. Khi tiến hành thông báo cho
khách sạn cần là rõ các yêu cầu về số lượng phòng, loại phòng, số lượng khách, thời
gian lưu trú tại khách sạn, các bữa ăn, các yêu cầu đặc biệt trong ăn uống, phương
thức thanh toán Các khách sạn phải có trả lời chấp thuận yêu cầu của công ty lữ
hành. Đây là một trong những công việc thường của bộ phận điều hành. Ngoài còn
cầu của khách có liên quan đến công việc của mình cũng như chuẩn bị kỹ tất cả các
vấn đề liên quan.
Đây là lần đầu tiên hướng dẫn viên tiếp xúc trực tiếp với khách. Lần tiếp xúc
này có ý nghĩa quan trọng, tạo cho khách những ấn tượng ban đầu có ảnh hưởng
đến mối quan hệ sau này giữa hướng dẫn viên và du khách trong suốt chuyến đi.
Công việc đón tiếp khách có thể diễn ra tại sân bay, nhà ga, bến cảng, cửa khẩu.
Tổ chức phục vụ khách du lịch tại khách sạn
Khi đưa khách đến khách sạn, công việc tiếp theo của hướng dẫn viên là phối
hợp với bộ phận lễ tân và trưởng đoàn làm thủ tục check – in và tổ chức ăn uống
cũng như phục vụ khách trong những ngày lưu trú tại khách sạn.
Để thực hiện tốt các công việc này, đòi hỏi hướng dẫn viên phải có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng về giao tiếp, ngoại ngữ cũng như các hiểu
biết khác về những vấn đề liên quan và phải luôn quan tâm, chăm sóc khách, xử lý
các tình huống bất thường có thể xảy ra.
Tổ chức phục vụ khách du lịch tại điểm du lịch
Trong quá trình thực hiện chương trình du lịch theo hợp đồng của công ty và
phục vụ khách trong chuyến đi, công việc chính của hướng dẫn viên là hướng dẫn
khách tham qua các điểm du lịch có trong chương trình với nội dung thuyết minh
chính xác. Hướng dẫn viên đóng vai trò là một đại sứ của nước đón khách đối với
các đoàn khách quốc tế cũng như cần có những hiểu biết sâu sắc về các điểm du
lịch để có thể đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của khách nội địa cũng như khách quốc tế.
Do đó hướng dẫn viên phải có đầy đủ những kiến thức chuyên ngành và các kỹ
năng để phục vụ một cách tốt nhất cho khách du lịch, tác động đến những đánh giá
về chất lượng của khách du lịch, đem lại sự hài lòng cho du khách.
Xử lý các tình huống xảy ra trong quá trình tổ
chức phục vụ khách du lịch
Đây cũng là một trong những công việc của hướng dẫn viên. Để xử lý tốt các
tình huống bất ngờ trong chuyến đi, đòi hỏi hướng dẫn viên phải luôn bình tĩnh,
thận trọng nhưng kịp thời, chính xác và linh hoạt trong mọi tình huống để đủ tỉnh
táo tìm ra biện pháp giải quyết nhanh chóng và hợp lý. Hướng dẫn viên cũng cần
trình du lịch có giá trị tương đối lớn thì giữa công ty và khách thường có một bản
hợp đồng hay cam kết về việc thực hiện chương trình du lịch. Hợp đồng này thường
được in theo mẫu sẵn, trong đó quy định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của công
ty cũng như của khách du lịch, các trường hợp bất thường, bất khả kháng, mức giá
của chương trình
Còn đối với các khách đi lẻ và chương trình du lịch có gí trị tương đối nhỏ thì
giữa công ty lữ hành và khách du lịch có những cam kết không thành văn như
khoản tiền đặt cọc, các trường bất khả kháng, hủy bỏ, Những cam kết này được
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 18
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
các nhân viên của công ty thông báo cho khách khi tiến hành các thỏa thuận và thủ
tục mua bán chương trình du lịch.
I.6
I.7 PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH, QUY TRÌNH KHAI THÁC VÀ TỔ CHỨC PHỤC
VỤ KHÁCH DU LỊCH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH
VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG
I. Giới thiệu chung về công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng
1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển công ty
Công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng trực thuộc Tổng cục Du Lịch
Việt Nam, là một đơn vị chuyên kinh doanh về dịch vụ du lịch: lữ hành, lưu trú, vận
chuyển, ăn uống , tổ chức phục vụ cho khách trong và ngoài nước.
Sự ra đời của công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng là do Tổng cục
Du lịch Việt Nam quyết định sát nhập hai công ty trên cùng một địa bàn nhằm kết
hợp các nguồn lực sẵn có và tạo thêm sức mạnh mới trong lĩnh vực kinh doanh du
lịch, đó là:
- Công ty du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập từ ngày 30/05/1975
với chức năng chính là phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tổ chức
các dịch vụ phục vụ khách quốc tế.
Tổ chức tuyên truyền, quảng cáo
Tổ chức đưa đón, hướng dẫn khách du lịch theo đúng nội dung hợp đồng,
đảm bảo an toàn cho khách và giữ gìn an ninh quốc gia.
Tổ chức kinh doanh du lịch nội địa
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 20
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
Tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao dộng, tài sản, tiền
vốn theo đúng nguyên tắc, chế độ quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước, theo sự
phân công quản lý của Tổng cục Du lịch. Có lế hoạch bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ
cán bộ công nhân viên.
c. Quyền hạn
Trực tiếp giao dịch và ký kết hợp đồng với các tổ chức du lịch trong và
ngoài nước để đón khách, tổ chức đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam và người
Việt Nam di du lịch nước ngoài.
Ra quyết định về sản xuất kinh doanh, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động,
khen thưởng.
Được phép mở rộng các dịch vụ bổ sung
Được phép huy động vốn trong và ngoài nước.
3. Cơ cấu bộ máy tổ chức hoạt động của Công ty cổ phần du lịch Việt
Nam tại Đà Nẵng
a. Mô hình cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 21
HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ
CTY TNHH
DU LỊCH LỮ HÀNH
MỘT THÀNH VIÊN
CÔNG TY KD
DỊCH VỤ
CÔNG TY
chính quyền địa phương.
Phòng kế toán tài chính: thực hiện việc thanh toán; hướng dẫn, đôn đốc,
kiểm tra tất cả các báo cáo, kiểm toán toàn công ty, giám sát bằng công cụ kiểm
toán tài sản, lập báo cáo tài chính cho công ty.
phòng kinh doanh: chịu trách nhiệm trong việc kinh doanh lữ hành từ
khâu thiết kế chương trình du lịch cho đến khâu kết thúc. Phòng này bao gồm: một
SVTH: Nguyễn Ngọc Minh Trí 22
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG INBOUND ÂU - MỸ
PHÒNG INBOUND Á-ÚC
PHÒNG OUTBOUND
PHÒNG NỘI ĐỊA
VPĐD TP HỒ CHÍ MINH
PHÒNG LIÊN KẾT- CHUYÊN ĐỀ
CHI NHÁNH HÀ NỘI
PHÒNG VÉ
PHÒNG VẬN CHUYỂN
PHÒNG HÀNH CHÍNH - IT
PHÒNG KẾ TOÁN
Sơ đồ 6. Cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng
Sơ đồ7. Cơ cấu tổ chức công ty TNHH một thành viên du lịch lữ hành Vitours Đà Nẵng
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Thị Thống Nhất
trưởng phòng, các phó phòng và các chuyên viên, đmr nhiệm các công việc:
marketing, hướng dẫn, điều hành
Các chi nhánh: hoạt động độc lập, thực hiện các nhiệm vụ của phòng thị
trường và báo cáo kết quả cho phòng kế toán tài chính.
Văn phòng đại diện: các văn phòng đại diện ở Liên bang Nga, Liên bang
Đức có nhiệm vụ khai thác thị trường khách ở các nước này và một số vùng lân cận,
ký kết hợp đồng với các hãng du lịch và báo cáo cho phòng thị trường.
Phòng vận chuyển: thực kiện chức năng vận chuyển theo sự điều hành
là lao động trẻ, có độ tuổi dưới 35 và trình độ chuyên môn ở bậc đại học (trên 50%
so với tổng số lao động).
Tại phòng thị trường và các chi nhánh, văn phòng đại diện, đa số là nhân viên
trẻ với độ tuổi không quá 45, năng động nhiệt tình và trình độ chuyên môn khá cao,
chủ yếu là bậc đại học góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của cả công ty nói
chung và của bộ phận kinh doanh lữ hành nói riêng.
Đội ngũ hướng dẫn viên chính thức tại các phòng thị trường khá đông, khoảng
23 người, những hướng dẫn viên này đã góp 70% cho thành công của một chuyến
du lịch do công ty thực hiện, thể hiện ở chất lượng phục vụ và sự trung thành của
nhiều đối tượng khách cũng như sự quay lại của đa số khách du lịch sau khi tham
gia các tour du lịch của công ty.
TT Bộ phận SL
TT
(%)
Đặc điểm lao động
Giới tính Độ tuổi Trình độ
Nam Nữ <35
35
-
45
>45
ĐH TH SC
SL TT(%) SL TT(%) SL TT(%)
1 Ban GĐ 4 1,33 3 1 - - 4 4 2,84 - - -
2 Phòng TC - HC 7 2,33 7 0 2 3 2 7 4,97 - - -
3 Phòng KT - TC 11 3,67 3 8 7 3 1 9 6,38 2 1,72 -
4 Phòng TT 36 12,00 16 20 20 13 3 33 23,40 3 2,59 -
5 KS, vận chuyển 208 69,33 125 83 115 68 25 75 53,19 90 77,59 43 100,00
6 Chi nhánh, VPĐD 25 8,33 11 14 13 12 - 9 6,38 16 13,79 -
7 Phòng khác 9 3,00 5 4 8 1 - 4 2,84 5 4,31 -