LUẬN VĂN:
Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá trong điều
kiện chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế
thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
Phần I : Đặt vấn đề
Hiện nay trên thế giới sự phát triển của công nghệ thông tin công nghệ chi thức
đồng diễn ra với tốc độ chóng mặt, cuộc cách mạng đó đã đem đến thành tựu to lớn
tiếng Việt Nam năm 1958 đã đưa ra định nghĩa: “Công nghiệp hoá Xã Hội Chủ
Nghĩa là phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng sự phát triển ấy cần
thiết cho sự tạo nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến”. Nhưng ở đây cần
chú ý một là sự nghiệp CNH ở Liên Xô (cũ) trong bối cảnh Lịch sử là nước Xã Hội
Chủ Nghĩa, họ phải tạo ra ccơ sở vật chất kỹ thuật để có thể tồn tại và phát triển
trong vòng vây của Chủ nghĩa tư bản. Chính vì vậy họ đã gắn công nghiệp hoá với
quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng.
Đặt công nghiệp hoá trong bối cảnh chung của Phát triển kinh tế với nội dung
cơ bản là phát triển cơ cấu kinh tế trên cơ sở công nghiệp hiện đại nhằm đẩy mạnh
nhịp độ phát triển đồng thời hướng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội.
Tổ chức phát triển tốt công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá mới có khả năng
thự tế để quan tâm đầy đủ tới sự phát triển tự do và toàn diện của nhân tố con người.
Công nghiệp hoá còn tạo vật chất, kỹ thuật cho việc củng cố tăng cường tiềm
lực phát triển quốc phòng vững mạnh, có thể chúng ta mới có thể yên tâm phát triển
kinh tế và phát triển kinh tế mạnh thì có thể mới tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nền an ninh quốc phòng phát triển. Mạt khác CNH còn tạo ra nhiều khả năng cho
việc thực hiện tốt phân công và hợp tác quốc tế khoa học công nghệ tăng cường
trọng lượng tiếng nói của ta trên diễn đàn quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, tính
quy luật của giá thành công nghiệp hiện nay, tính quy luật của giá thành công nghiệp
hoá càng đòi hỏi bức thiết đối với nước ta vì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa với các
nước trên thế giới và trong khu vực. Theo số liệu thu nhập năm 1983 thì GNP trên
đầu người của Việt Nam là 220 USD trên đầu người, trong khi đó Singapore là 19
092 USD/ đầu người. Đài Loan là 11900 USD/ đầu người. Hàn Quốc là 844 USD/
đầu người, Maláyia là 3713 USD / đầu người, Thái lan là 2130 USD / trên đầu người
Philipinlà 913 USD / đầu người, Inđônêsia là 830 USD / đầu người. Mức sống 220
USD / đầu người, các nước Hàn Quốc, Đài Loan, philipin, Malaysia cũng đã đat
được từ mấy trục năm trước đây. Về mặt trình độ CNH của nước ta cũng bị tụt hậu
của thế giới CNH ngày càng khẳng định vai trò quan trọng tất yếu của nó, đặc biệt là
đối với các nược hiện nay đang trong tình trạng kém phát triển thì con đường cải tạo
xã hội thông qua CNH là con đường quy nhất mang tính tất yếu khách quan đêt tự
đưa mình tự vượt qua danh giới nghèo đói, tránh tụt hậu khá xa so với các nước phát
triển.
Thông qua CNH các nước sẽ trang bị được cho mình có sở vật chất kỹ thuật
của nền Sản xuất mới hiện nay – Trong đó cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất
mới hiện đại có thể khái quát là nền đại công nghiệp cơ khí hoá và hiện đại dựa trên
trình độ khoa học, công nghệ ngày càng phát triển cao- Cơ sở vật chất đó phải có cơ
cấu kinh tế hợp lý, trình độ xã hội hoá và lao động cao. Có được cái “ Cốt vật chất”
như vậy các nứơc mới có đủ khả năng sản xuất ra của cải vật chất rồi rào đáp ứng
cho tieu dùng hiện đại mà còn có khả năng tích luỹ lớn và chỉ có khi đó con người
mới có điều kiện để quan tâm đến các điều kiện khác thoả mãn nhu cầu toàn diện
của mình.
ở nước ta hiện nay quá trình xây dựng XHCN là quá trình cải tạo xã hội đưa
đất nước từ xã hội lạc hậu lên một xã hộ mới tốt đẹp hơn, chúng ta tiến hành xây
dựng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Vì vậy rất cần nền tảng đại công nghiệp cơ khí. Trên phương tiẹn xem xét đó, nền
kinh tế sản xuất của nước ta là một nền sản xuất nhỏ kém phát triển muốn xây dựng
một xã hội mới toàn diện về nhiều mặt: Xây dựng chế độ làm chủ tập thể, xây dựng
nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá mới và con người mới XHCN trước tiên
ta phải có được cái cốt vật chất cho xã hội mới- đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật của
nền sản xuất mới hiện đại. Để làm được điều này con đường tất yếu khách quan như
đã khẳng định, đó là tiến hành CNH- HĐH đất nước bởi vì việc thực hiện hoàn
thành tốt công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá có ý nghĩa và tác dụng to lớn về
nhiều mặt:
CNH là một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất làm thay đổi căn bản khoa
lên trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến có năng suất và hiệu quả kinh tế cao”.
Trước đây, khi vận dụng một cách máy móc mô hình kinh tế của Liên Xô (cũ)
nên trong quá trình công nghiệp hoá chúng ta cũng xác định nội dung của công
nghiệp hoá là phát triển đại công nghiệp trước hết là công nghiệp nặng. Chẳng hạn
như một số định nghĩa về công nghiệp hoá là: “Quá trình xây dựng nền sản xuất cơ
khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân và đặc biệt là công nghiệp
nặng, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng
suất lao động” hoặc như “Kinh tế chính trị” cũ của trường Đại học Kinh tế quốc dân
các tác giả đã định nghĩa: ”Công nghiệp hoá XHCN là quá trình xây dựng cơ sở vật
chất với kỹ thuật của CNXH: Xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí hoá cỏ khả năng
cải tạo cả nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm biến nước ta từ một
nước kinh tế chậm phát triển thành một nước XHCN có cơ cấu công nông hiẹn đại”.
Định nghĩa như thế về công nghiệp hoá đã phản ánh được cái cốt lõi của quá
trình này, tuy thế việc nhấn mạnh vai trò của công nghiệp nặng là không phù hợp
với điều kiện của nước ta, thiếu sự phân tích khoa học. Chính tư tưởng chỉ đạo này
đã dẫn đến những hậu quả mà đặc biệt là thất bại trong sự nghiệp công nghiệp hoá ở
nước ta từ năm 1960 (từ Đại hội Đảng lần thứ III).
Sau khi có sự biến động mạnh mẽ trong khối XHCN. Đó là sự xụp đổ về mô
hình kinh tế của một loạt các nước trong khối XHCN, đặc biệt là sự tan rã của liên
bang cộng hoà Xô Viết (1990). Đảng và nhà nước ta nhận ra những sai lầm trong
việc chỉ đạo định hướng xây dựng nền kinh tế và đã tiến hành công cuộc đổi mới thu
được nhiều thành tựu to lớn như chúng ta đã biết. Theo đã đổi mới tư duy kinh tế đó,
sự nghiệp công nghiệp hoá ở nước ta cũng được hiểu theo một cách khác trên nền
tảng phân tích khoa học điều kiện cụ thể của dất nước và tiếp thu kinh nghiệm của
các nước trên thế giới và nhất là các nước trong khu vực. Định nghĩa mứi về công
nghiệp hoá ở nước ta được đưa ra trong nghị quyết Đại hội Đảng 7 khoá VII với nội
dung như sau: “Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt
thời kỳ phôi thai chưa thành một cuộc cách mạng vũ bão như ngày nay.
Ngày nay, đối với các nước đi sau tình hình đang đổi khác, để giải quyết một
vấn đề trong công nghiệp hoá có rất nhiều giải pháp hay công nghệ để săn sàng đem
ra sử dụng. Tiến hành công nghiệp hoá theo hướng trận dụng lợi thế như đã nói của
các nước công nghiệp phát triển muộn chính là công nghiệp hoá gắn liền với hiện
đại hoá. Theo con đường công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá thì thời gian ngắn
hơn rất nhiều so với con đường công nghiệp hoá cổ điển. có thể đơn cử ra đây vài
con số làm dẫn chứng. Quá trình công nghiệp hoá ở Anh được coi là bắt đầu từ năm
1780 và phải tới 58 năm sau đó thì thu nhập bình quân đầu người mới tăng lên gấp
đôi. ở Mỹ công nghiệp hoá bắt đầu từ năm 1839 và để đạt được mức tăng thu nhập
gấp đôi đã cần tời 47 năm. Nước Nhật bắt đầu công nghiệp hoá vào năm 1880 và đã
rút ngắn được thời gian tăng gấp đôi thu nhập xuống mức 34 năm. Các nước đi sau
điển hình cho con đường công nghiệp hoá găn với hiện đại hoá thì Nam Triều Tiên
đạt kết quả trên trong vòng 11 năm (1966-1977). Mới đây Trung Quốc đã rút ngắn
thời gian đó xuống còn 10 năm (1977-1987).
Kinh nghiệm thế giới là bài học thực tiễn cho Việt nam học tập. Nhưng điều
chủ yếu việc tiến hàh công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ở nước ta là phù hợp
với những yêu cầu đang dặt ra cho quá trình này như: Triệt để khai thác lợi thế của
các nước phát triển muộn về công nghiệp. Xu thế Quốc tế hoá sản xuất và đời sống
nhanh chóng vượt qua được nghèo, rút ngắn khoảng cách tụt hậu của nước ta so với
các nước công nghiệp phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới. Con đường đã
chọn mở hướng đi cho chúng ta tiến tới một cái đích cao hơn. Chúng ta tin tưởng
rằng với bước đi vững chắc đúng đắn đất nước ta sẽ tiến tới được cái đích đó. Nhưng
để có được bước đi như vậy mỗi chúng ta phải hiểu sâu hơn, cụ thể hơn con đường
chúng ta sẽ đi, tức là phải nắm được thực chất của vấn đề công nghiệp hoá-hiện đại
hoá là gì?
II.Thực chất của vấn đề công nghiệp hoá - hiện đại hoá .
- Hai là, công nghiệp hoá không chỉ liên quan đến phát triển công nghiệp, mà
là quá trình bao trùm lên tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nước. Đó
là một lẽ tất yếu vì nền kinh tế mỗi nước là một hệ thống nhất các ngành, các lĩnh
vực luôn có quan hệ tương hỗ, ảnh hưởng lẫn nhau.
- Ba là, quá trình công nghiệp hoá trong bất cứ giai đoạn nào cũng đều vừa là
quá trình kinh tế kỹ thuật, vừa là quá trình kỹ thuật xã hội. Quá trình kinh tế kỹ thuật
tạo điều kiện vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện các nội dung của quá trình kinh tế-
xã hội. Ngược lại quá trình kinh tế xã hội góp phần tạo nên động lực để thực hiện
quá trình kinh tế-xã hội.
- Bốn là, quá trình công nghiệp hoá cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan
hệ kinh tế quốc tế. Ngày nay mỗi nước đang trở thành một bộ phận của hệ thống
kinh tế thế giới, chịu sự tác động chung của quốc tế, việc xây dựng phương hướng
công nghiệp hoá ngoài việc dựa trên cơ sở tiềm lực trong nước vẫn phải dựa trên
tình hình thế giới. Mở rộng phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá đời sống kinh
tế theo xu thế, phát triển ngày càng mạnh mẽ.
- Năm là, công nghiệp hoá không phải là một mục đích tự thân mà là một
phương thức có tính chất phổ biến. mõi nước tuy có một mục tiêu riêng nhưng nhìn
chung vẫn có những tương đồng, đó là: xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại,
khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, đảm bảo nhịp độ tăng trưởn kinh tế,
cải thiện đời sống nhân dân,
Mục tiêu lâu dài cảu công nghiệp hoá-hiện đại hoá là cải biên nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất, mức độ vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc,
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Để dạt được mcụ tiêu trên đã đề ra đòi hỏi toàn Đảng toàn dân phải đồng lòng
hợp sức tạo ra những điều kiện tốt nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá
đất nước.
nghiệp thì công nghiệp chế tạo chiểm tỷ trọng lớn nhất: 70-80%. Phát triển mạnh
các ngành công nghiệp chế biến, chú trọng các ngành thực phẩm, dệt da, may mặc,
cơ khí, lắp ráp ôtô, xe máy, hàn điện tử. Đẩy mạnh thăm dò và khai thác dầu khí, sử
dụng có hiệu quả nguồn khí đốt. Các ngành công nghiệp nặng cần xây dựng là: điện,
ximăng, thép, phân bón, hình thành một số ngành mũi nhọn trọng điểm như: khai
thác chế biến dầu khí, công nghệ điện tử, thông tin, du lịch,
- Cơ cấu công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, nông nghiệp:
Trong 5 năm trước mắt vẫn phải coi trọng nông nghiệp, phát triển kinh tế nông
thôn. Công nghiệp nông thôn cần được phát triển mạnh, xây dựng các nhà máy chế
biến, liên kết chặt chẽ với trồng trọt và chăn nuôi, khai thác nguyên liệu tại chỗ.
Phấn đấu ngành sản xuất lương thực, thực phẩm đạt 30 triệu tấn vào năm 2000.
- Về cơ cấu công nghiệp trong 5 năm tới có tính đến việc hình thành các khu
công nghiệp tập trung, các tam giác kinh tế (khoảng 20 khu) và điểm công nghiệp rải
rác xung quanh các thị trấn và trục lộ chính trừ một số ít khu công nghiệp nặng
(Thái Nguyên, Việt Trì, ) còn lại chỉ dành cho công nghiệp nhẹ hàng tiêu dùng,
về phát triển công nghiệp nặng cần tranh thủ thời cơ huy đọng vốn trong nước và
nước ngoài để xây dựng một số công trình then chốt có tính cấp bách và hiệu quả,
vốn đầu tư cho công nghiệp nặng không quá 70% tổng số vốn ngân sách, chủ
trương, dự án có đầu tư có căn cứ khoa học đem lại hiệu quả kinh tế-xã hội rõ rệt.
Phát triển một số ngành công nghiệp. Có triển vọng dựa trên công nghệ cao, tạo tiền
đề cho việc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở giai đoạn tiếp theo.
Nâng cao năng lực nghiên cứu triển khai công nghệ hiện đại trong nước, tạo một đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật giốc khả năng tiếp cận công nghệ thế giới. Phổ cập các
loại hình công nghệ thích hợp trên địa bàn nông thôn, miền núi. Để thực hiện những
bước nhảy vọt về công nghiệp mạnh dạn tiếp cận, sử dụng công nghệ cao như vi
điện tử, tin học, tự động hoá, vật liệu mới, Xoá bỏ quan niệm coi khoa học công
nghệ chỉ là công việc của các nhà khoa học mà đây là công việc của mọi hoạt động
ta đã khẳng định công nghiệp hoá ở nước ta là quá trình tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý
mà “Bộ xương” gắn với sự phân công và hợp tác quốc tế sâu rộng để từng bước tao
ra cơ cấu kinh tế đó, cần phải thực hiện sự kết hợp công nghệ với nhiều trình độ
khác nhau: đa dạng hoá mặt bằng kỹ thuật, tranh thủ công nghệ muĩ nhọn, tiên tiến,
điều đó cho phép sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động dồi dào phù hợp với khả
năng vốn của nước ta. Về mặt quy mô mà xét, lấy quy mô vừa và nhỏ là chính, từng
bước chuẩn bị cho hướng xây dựng cơ cấu kinh tế với quy mô lớn hợp lý.
Từ sản xuất nhỏ đi lên, trong quá trình công nghiệp hoá để tạo ra cơ sở vật
chất, kĩ thuật cho nền sản xuất lớn, hiện đại tất yếu phải tiến hành phân công lại lao
động trên phạm vi cả nước, cũng như từng nghành từng cơ sở.
- Phân công lao động. Với lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 37% tổng số
lao động cả nước, vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải gắn với việc điều tiết qúa
trình phát triển và phân bố lại dân cư. Phát triển mạnh công nghiệp ở nông thôn gắn
với việc đô thị hoá tại chỗ là nội dung quan trọng cuả quá trình chuyển dịch kinh tế
và phương hướng đi lên chủ yếu của kinh tế nông thôn trong quá trình công nghiệp
hoá - hiện đại hoá.
- Phân phối vốn: Phần lớn vốn đầu tư của nhà nước sẽ được giao cho các
ngành trung ương quản lý để xây dựng nhiêù công trình phân bố ở nhiều vùng khác
nhau, phần còn lại giao cho địa phương quản lý khoảng 30% cho các vùng trọng
điểm, 70% cho các vùng khác. Đối với số vốn mà nhà nước chỉ có thể hướng dẫn
bằng các chính sách ưu đãi khuyến khích (như vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các
thành phần kinh tế khác) thì vùng trọng điểm chiếm 70% còn 30% cho các vùng
khác. Như vậy, với vai trò hướng dẫn, Nhà nước đảm bảo được sự hài hoà trong
phát triển giữa các vùng, tạo một cơ cấu cân đối cho nền kinh tế.
IV. Các tiền đề hay giải pháp lớn để tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại hoá
Việc đẩy tới một bước sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước phụ
thuộc vào nhiều điều kiện. Trong đó cần chú trọng những điều kiện sau:
nam khoảng 20.000 tỷ, thêm vào đó khoảng 500 triệu USD hàng năm là số kiều hối
được gửi từ nước ngoài, nếu huy động được nguồn vốn này sẽ có số vốn rất lớn cho
công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Muốn vậy phải giải quyết ngay những trở ngại: tâm lý
lo ngại về hiệu qủa an toàn đầu tư, mặt bằng để xây dựng và mở rộng sản xuất kinh
doanh chưa đủ, thiếu sự quan tâm hỗ trợ của Nhà nước, thủ tục chính sách phiền
hà,
Tổ chức tốt các hình thức liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, cổ
phần hoá một số lớn các doanh nghiệp Nhà nước để thay thế vốn nhà công nghiệp
bằng vốn liên doanh và vốn cổ phần. Đây là biện pháp có nhiều khả năng thực thi để
Nhà nước có điều kiện tập trung vốn vào các lĩnh vực mũi nhọn, công nghệ cao, cần
nhiều vốn nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
Một hình thức huy động vốn khá đặc biệt và hiệu quả đó là huy động tốt nguồn
“Bảo hiểm xã hội” tạm thời các công ty bảo hiểm chưa dùng tới để phát triển thêm
ngành nghề sản xuất dịch vụ mới, vừa góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện
đại hoá đất nước vừa tăng thêm của cải vật chất cho xã hội.
Ngoài nguồn vốn trong nước, nguồn vốn bên ngoài cũng rất quan trọng thậm
chí có thể là quyết định trong thời kỳ đầu tiên. Việc huy động nguồn vốn này phải
thông qua chính sách mở cửa kinh tế với nhiều hình thức, kết hợp các lợi thế bên
ngoài và bên trong. Hạn chế tới mức tối đa phiền hà về thủ tục đầu tư, tạo môi
trường đầu tư thuận lợi. Tuy nhiên, thu hút nguồn vốn này không chỉ phụ thuộc vào
môi trường đầu tư ở nước ta mà còn tuỳ thuộc nhiều vào tính toán của các nhà đầu
tư. Còn việc vay vốn phải tính đến phương án và khả năng trả nợ. Ngoài ra việc
nhận vốn của nước ngoài còn phải tính toán những yêu cầu đảm bảo độc lập, chủ
quyền về kinh tế, chính trị.
Huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là hai mặt của vấn đề. Chỉ có sử
dụng vốn có hiệu quả mới tạo điều kiện tốt cho huy động vốn, ở nước ta vấn đề lớn
nhất là phải tiết kiệm trong sản xuất, trong tiêu dùng.Tiếp theo là đầu tư đúng nơi,
đúng chỗ. Tập trung đầu tư theo chiều sâu. Đầu tư của Nhà nước chủ yếu để xây Việc xây dựng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật công nhân lành
nghề, đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta cần thông qua hệ thống giáo dục đào tạo
hoàn chỉnh. Trước hết Nhà nước cần đổi mới cơ cấu nội dung chương trình các môn
học sao cho phù hợp và thúc đẩy được sự phát triển của khoa học-công nghệ. Đưa sự
nghiệp giáo dục đào tạo thành sự nghiệp của toàn dân. Vừa đầu tư theo chiều rộng
vừa đầu tư theo chiều sâu. Ngoài ra, có thể gửi cán bộ công nhân, học sinh, lưu
học ở nước ngoài. Cho phép các doanh nghiệp sử dụng quỹ phát triển sản xuất đầu
tư một phần cho giáo dục và đào tạo con người, các nhà giáo dục, lực lương công
nhân lành nghề hiện có, một cách thích đáng để tạo ra một đội ngũ hùng hậu có
nhiệt huyết đóng góp cho sự nghiệp xây dựng tổ quốc.
Chỉ trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đó chúng ta mới có thể có được đội
ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật, công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý có năng
lực. Từng bước đáp ứng đầy đủ, kịp thời các yêu cầu mới của công cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến trên thế giới đang phát triển như vũ bão
hiện nay.
3.Vấn đề xây dựng kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng chi phối tất cả các giai đoạn phát triển của nền kinh tế, do đó
muốn cho nền kinh tế cất cánh, mỗi quốc gia phải có một cơ sở hạ tầng phù hợp. Ví
như Châu Âu, Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 từ trong hoang tàn đỏ nát họ
đã thắt lưng buộc bụng, dồn vốn xây dựng đường xá, sân bay, bến cảng, để phục
vụ trực tiếp cho phục hồi và phát triển kinh tế.
Nước ta, một nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề nên kết cấu hạ tầng quá thấp
kém cả về sổ lượng lẫn chất lượng, nay bước vào quá trình công nghiệp hoá-hiện đại
hoá việc xây dựng kết cấu hạ tầng phù hợp phải tiến hành xây dựng hoàn chỉnh,
đồng loạt các kết cấu hạ tầng. Đặc biệt là cơ sở hạ tầng của ngành giao thông vận
tải, Giao thông vận tải là cửa mở, là đòn sóc với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội,
thúc đẩy các quá trình giao lưu văn hoá và kinh tế, phát triển và phân phối lực lượng
sản xuất trên quy mô toàn lãnh thổ. Là cầu nối để mở rộng giao lưu quốc tế, trước
hoá và phát triển công nghiệp trong từng thời kỳ một cách phù hợp để hình thành
nên những “cực tăng trưởng” của nền kinh tế quốc dân.
+Hỗ trợ các doanh nghiệp , các thành phần kinh tế nâng cao năng lực tiếp thị,
nắm bắt thông tin để mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
+ Tạo môi trường luật pháp nhằm duy trì cạnh tranh bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế các doanh nghiệp .
+ Chịu trách nhiệm chính trong công việc đầu tư nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ
tầng kinh tế-xã hội
kiến khác nhau về công cuộc công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước sau khi đã
nghiên cứu kĩ về vấn đề này qua bài viết của mình.
Theo em, với vị trí trung tâm và vai trò chủ thể của quá trình công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Hình thành một lớp người năng động, có chi thức, có bản lĩnh
kinh doanh, xông xáo, dám nghĩ, dám làm, quả là cần thiết.
Thực tế đã cho thấy với một nguồn tài nguyên nghèo nàn, điều kiền thiên nhiên
khắc nghiệt nhưng Nhật Bản vẫn vươn lên bằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
bằng ý chí con người Nhật Bản để hiện nay họ đang có tên trong 7 nước công
nghiệp hàng đầu thế giới.
Với thực trạng tình hình giáo dục đào tạo của nước ta hiện nay, em cho rằng
còn thiên về số lượng, chất kượng chưa cao một cách đồng đều, sinh viên được đào
tạo ra có lý thuyết nhưng khả năng vận dụng kém, không linh hoạt. Vì vậy theo em,
ngoài việc phổ cập giáo dục, cần phải tiến hành cải tiến chương trình giáo dục đào
tạo để nâng cao khả năng ứng dụng, tính năng động của đội ngũ trí thức trẻ, có thể là
tăng giờ thực hành, giờ đi thực tế, khuyến khích các sáng kiến có giá trị làm cho
đội ngũ trí thức trẻ này kế thừa và thực hiện tốt ý tưởng tốt đẹp của đảng trong công
cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Thứ nữa là phát huy lợi thế về vị trí địa lý để mở rộng mối quan hệ giao lưu
kinh tế chính trị, thông thương với nước ngoài nhanh chóng, tiếp thu những công
nghệ mới, những hành trang đã có sẵn giúp chúng ta có thể bắt đầu từ nửa sau của
chặng đường tìm kiếm công nghệ.
Thứ ba là: Nhà nước cần nâng cao chức năng định hướng, dân dắt thực hiện
công cuộc công nghiệp hoá hiện đai hoá có định hướng, có công nghệ hiện đại như
là một thứ vũ khí- một con người năng động, có chi thức sẽ biết đưa đất nước đi lên
bằng cách nào.
Đất nước ta đã và đang tiến lên một cách vững chắc, khẳng định con đường
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là đúng đắn và khách quan. Mặc dù còn
nhiều sai lầm và khó khăn cần vượt qua nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng
3.Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác- lênin trong thời đại hiện nay- nhà xuất bản
chính tri quốc gia 1996
4. Định hướng XHCN ở Việt Nam.
5. Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ V, VI, VII, VIII.
6. Sự lãnh đạo và hoạt động của đảng trong điều kiện cơ chế thị trường.
7. Tạp chí quản lý xây dựng nhà nước: Các số năm 96, 97.
8. Cơ chế thị trường và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam.
9. Vai trò nhà nước trong phát triển nền kinh tế.
10. Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
11. Về quản lý kinh tế.