TIỂU LUẬN: Những kết quả đạt được và những khó khăn tồn tại của công ty cổ phần may Thăng Long doc - Pdf 12

TIỂU LUẬN:

Những kết quả đạt đượcvà những khó
khăn tồn tại của công ty cổ phần may
Thăng Long
Lời giới thiệu

Trong công cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại
hoá, đào tạo đội ngũ tri thức trẻ là một trong những công tác hết sức quan trọng và
được quan tâm hàng đầu, trong đó những sinh viên chuẩn bị ra trường được đặc biệt

1.1. Lịch sử hình thành.
Với chủ trương thành lập một số doanh nghiệp xuất khẩu tại Hà Nội trong hoàn
cảnh thực tế của nền kinh tế nước ta những năm 1950, Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là
Bộ Công Nghiệp) quyết định thành lập Xí nghiệp may mặc xuất khẩu, trực thuộc
tổng công ty xuất khẩu tạp phẩm. Xí nghiệp may mặc xuất khẩu được quyết định
thành lập ngày 8/05/1958, là tiền thân của Công ty may Thăng Long .
Việc thành lập Xí nghiệp may mặc xuất khẩu khi đó mang một ý nghĩa to lớn vì
đây là đơn vị may mặc xuất khẩu đầu tiên của Việt Nam, lần đầu tiên hàng may mặc
của Việt Nam đã được đưa ra thị trường thế giới. Ngoài ra, sự ra đời của xí nghiệp
cũng đã góp sức mình vào công cuộc cải tạo nền kinh tế thông qua việc hình thành
những tổ xản xuất của hợp tác xã may mặc đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đến ngày 04/03/1993, Bộ công nghiệp quyết định đổi tên xí nghiệp may mặc
xuất khẩu thành Công ty may Thăng Long, trực thuộc tổng công ty dệt may Vịêt
Nam. Tên giao dịch của công ty cũng được xác lập đó là Thang Long Garment
Company với thương hiệu “THALOGA”
Một bước ngoặt lớn nữa đến với công ty may Thăng Long đó là theo chủ trương
cổ phần hoá doanh nghiệp của Đảng và Nhà nước, và theo quyết định của Bộ trưởng
Bộ Công nghiệp ngày 14/10/2003, công ty đã được tiến hành cổ phần hoá, đổi tên
công ty thành “Công ty cổ phần May Thăng Long” ( Trong đó nhà nước nằm giữ
51%), với tên gọi , trụ sở như sau:
Tên gọi: Công ty cổ phần may Thăng Long
Tên giao dịch đối ngoại: Thang Long garment joint stock company
Tên viết tắt: Thaloga
Trụ sở: 250-Minh Khai–Hai Bà Trưng–Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 8623372, FAX: (84-40) 8632374
Hiện nay công ty có 9 xí nghiệp thành viên, có cơ sở ở Hà Nội, Hà Nam, Nam
Định, Hoà Lạc, với 98 dây chuyền sản xuất hiện đại và gần 3000 cán bộ công nhân viên. Năng suất lao động đạt khoảng 12 triệu sản phẩm/năm với rất nhiều chủng loại
Với hình thức bán đứt, doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trường, thiết kế mẫu mã
và mua sắm các yếu tố đầu vào, sản xuất sản phẩm và bán sản phẩm. Trong trường
hợp này doanh nghiệp nhận được toàn bộ số tiền bán sản phẩm. Hoạt động xuất khẩu
theo hình thức này còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn với khoảng gần 20%.
Với hai hình thức xuất khẩu như vậy, trong các báo cáo của công ty thường có
hai loại số liệu. Một là giá trị của toàn bộ số hàng cả gia công và bán đứt, trong đó
hàng gia công bao gồm cả tiền công gia công và giá trị nguyên phụ liệu mà người đặt
hàng cung cấp. Hai là giá trị của tiền gia công đối với đơn đặt hàng gia công và
doanh thu của những lô hàng mà công ty tự thiết kế, mua sắm các yếu tố đầu vào, sản
xuất và bán.
1.3. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của công ty cổ phần may Thăng Long.
Công ty cổ phần may Thăng Long là một doanh nghiệp tổ chức quản trị doanh
nghiệp theo kiểu: “Trực tuyến- Chức năng”. Hiện nay cơ cấu tổ chức ộ máy quản lí
công ty cổ phần may Thăng Long gồm có:
P.
KH
XNK
Văn
phòn
g

P.
thị
trư

P.
KT-
TV

P.
KCS
P.
Kỹ
thu
XN
phụ
tr


GĐ điều
hành s
ản
TTâm
Hoà
Chủ tịch hội đồng quản trị: là người đứng đầu bộ máy công ty, thay mặt
công ty chịu trách nhiệm trước nhà nước về toàn bộ hoạt động của công ty.
Tổng giám đốc: là người trực tiếp lãnh đạo công ty từ bộ máy quản lý
cho tới các phòng ban chức năng. Và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị
của công ty.
Phó Tổng giám đốc điều hành kỹ thuật: có chức năng tham mưu, giúp
việc cho Tổng giám đốc. Phó Tổng giám đốc điều hành kỹ thuật chịu trách
nhiệm trước Tổng giám đốc về việc thiết lập mối quan hệ bạn hàng các cơ quan
quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, tổ chức nghiên cứu mẫu mã hàng và các loại
máy móc kỹ thuật, triển khai các nghiệp vụ xuất nhập khẩu như: tham mưu kí
kết các hợp đồng gia công, xin giấy phép xuất nhập khẩu, tiếp nhận phụ liệu,
mở tờ khai hải quan
Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất: có chức năng tham mưu, giúp
việc cho Tổng giám đốc. Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất chịu trách
nhiệm trước Tổng giám đốc về việc thiết lập và báo cáo tình hình sản xuất kinh
doanh của công ty.
Phó tổng giám đốc điều hành tài chính: có chức năng tham mưu, giúp
việc cho Tổng giám đốc. Phó tổng giám đốc điều hành tài chính chịu trách
nhiệm trước Tổng giám đốc những vấn đề liên quan đến nguồn vốn của công
ty( quản lí thu-chi của công ty) và báo cáo tình hình của công ty.
Phó tổng giám đốc điều hành nội chính: Ngoài chức năng tham mưu và
giúp việc, Phó tổng giám đốc điều hành nội chính còn chịu trách nhiêm trước
Tổng giám đốc về việc sắp xếp các công việc của công ty, có nhiêm vụ trực
tiếp điều hành công tác lao động, tiền lương, y tế, tuyển dụng lao đông, đào tạo
cán bộ, chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên.
Phòng kỹ thuật chất lượng : là bộ phận tham mưu cho Phó tổng giám đốc
điều hành kỹ thuật về kế hoạch và chiến lược kinh doanh. Phòng kỹ thuật chất
lượng thực hiện các công việc như: May các mẫu chào hàng, thiết kế các mẫu

doanh nghiệp cổ phần hoá có 6). Các xí nghiệp được trang bị máy may hiện đại
theo qui trình công nghệ khép kín, thống nhất đảm bảo từ khâu đầu tiên đến
khâu cuối cùng của quá trình sản xuất sản phẩm. Các xí nghiệp may thực hiện
quá trình sản xuất hàng may mặc bao gồm các công đoạn: cắt, may, là, đóng
gói sản phẩm. Mạng lưới đại lí ( các cửa hàng thời trang) và các trung tâm giới thiệu
sản phẩm của công ty: Công ty có mạng lưới cửa hàng giới thiệu và bán sản
phẩm rộng khắp trong nước. Các sản phẩm của công ty được giới thiệu rộng
khắp như: áo, jacket, các loại áo sơ mi, quần áo jean nữ, quần áo trẻ em Cũng
tại đây công ty giới thiệu và bán nhiều hàng tiêu chuẩn xuất khẩu cho người
tiêu dùng. Bên cạnh đó, công ty còn có hệ thống văn phòng đại diện thông qua
mạng Internet bán và giới thiệu sản phẩm trong và ngoài nước.
Chi nhánh và cơ sở khác: Ngoài các bộ phận và các xí nghiệp tập trung
tại công ty, công ty cổ phần may Thăng Long còn có chi nhánh ở Hà Nam,
trung tâm Hoà Lạc ( trước đây công ty còn có chi nhánh ở Nam Định và Hải
Phòng).
Ngoài ra công ty còn có các bộ phận phục vụ cho quá trình sản xuất, gọi
chung là Xí nghiệp phụ trợ. Các bộ phận này có nhiệm vụ chuẩn bị các điều
kiện về máy móc thiết bị và phụ tùng thay thế cho sản xuất, cung cấp năng
lượng điện, nước, xây dựng kế hoạch dự phòng thiết bị, chi tiết thay thế.

1.4. Đánh giá chung về hoạt động của công ty trong những năm vừa qua.
1.4.1. Tình hình vốn kinh doanh của công ty
Trước đây công ty là một doanh nghiệp nhà nước nên nguồn vốn chủ yếu
của công ty là do nhà nước cấp và luôn chiếm khoảng 70% tổng số vốn của
công ty. Từ đầu năm 2004 công ty đã chuyển đổi thành công ty cổ phần,
trong đó cổ phần của nhà nước là 51%, số cổ phần còn lại được bán cho cán
bộ công nhân viên của công ty ( số lượng cổ phần được mua tuỳ theo số

xuất mới, liên tục tuyển dụng và đào tạo lao động, bổ sung vào lực lượng
lao động của công ty qua các năm.
Nhìn chung, lao động nữ chiếm tỷ lệ cao. Theo số liệu thống kê những năm
trước kia, lao động nữ luôn chiếm khoảng 80% trong tổng số cán bộ công
nhân viên. Số công nhân đứng máy chiếm khoảng 8%. Tuy nhiên, tuỳ theo
đơn đặt hàng và thời vụ sản xuất, công ty luôn có kế hoạch tuyển lao động
theo hợp đồng, lao động mùa vụ nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách
hàng.
Cùng với việc đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, lực lượng lao
động của công ty luôn biến động, không chỉ về số lượng mà cả chất lượng.
Số lượng lao động bậc cao ngày càng tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng số lao động của công ty. Đó là kết quả của việc đầu tư đổi mới
máy móc thiết bị, trẻ hoá lao động, chiến lược nâng cao chất lượng sản
phẩm. Phần lớn lao động đều còn trẻ, được đào tạo qua trường lớp và có
khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới.
1.4.3. Thị trường
Thị trường tiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty. Các yếu tố của thị trường thay đổi sẽ
quyết định doanh số bán ra, mức lợi nhuận của công ty, quyết định thu nhập
của người lao động, khả năng đóng góp thuế đối với nhà nước.
Từ năm 1990 trở về trước, công ty hoạt động theo kế hoạch của bộ chủ
quản, thị trường tiêu thụ rộng lớn với các mặt hàng như áo sơ mi, áo bò,
quần áo dệt kim những thị trường lớn của công ty là : Liên Xô, các nước
Đông Âu, CHDC Đức, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên. Mỗi năm công ty đạt
mức xuất khẩu trên 5 triệu áo sơ mi quy chuẩn, thời kỳ này được coi là thời
kỳ phát triển đỉnh cao của công ty.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ, cơ hội mở
rộng thị trường cũng như những đòi hỏi về chất lượng sản phẩm càng lớn.

Chỉ tiêu ĐV
tính
2000 2001 2002 2003
Tổng kim
ngạch XK
USD 36.971.255,7 39.872.218 43.632.047 67.226.949
I.Châu Âu
Nt 6.788.136,7 10.840.756 3.694.462 3.210.061
Pháp Nt 1.753.275
Đức Nt 7.111.020 2.566.601 2.145.608
Italia Nt 3.600
Đan Mạch Nt 140.743 260.861 802.329
Tây Ban Nha Nt 807.870 37.800 117.600
Séc Nt 259.248 442.000
Ba Lan Nt 765.000 387.200
Hà Lan Nt 144.524
II. Châu Mỹ Nt 26.234.569 19.307.748 36.046.299 60.216.209
Mỹ Nt 26.234.569 19.011.369 35.920.025 60.216.209 Canada Nt 296.379 126.274
III. Châu á
Nt 3.895.011 9.614.388 3.816.058 3.460.679
Hàn Quốc Nt 82.441 252.919
Nhật Nt 3.685.774 5.355.873 2.324.610 2.081.018
Arap Nt 592
Đài Loan Nt 73.565 2.156.408 90.211 567.573
Indonesia Nt
Singapore Nt 6.960 32.625
Israen Nt 45.679 1.816.563 1.339.237 812.088

PHầN II: Những kết quả đã đạt được và những khó khăn tồn tại của công
ty cổ phần may Thăng Long
2.1. Những kết quả đạt được.
Những thành tích đạt được trong hoạt động tiêu thụ của công ty đã tạo
điều kiện để công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Có được điều đó
trước hết là do công ty đã tìm ra cho mình mục tiêu, hướng đi đúng đắn về
chiến lược tiêu thụ sản phẩm. Tiếp đến là sự chỉ đạo sáng suốt của ban lãnh đạo
và sự tổ chức, kết hợp các bộ phận chức năng, các cán bộ công nhân viên toàn
công ty để thực hiện tốt phương hướng và mục tiêu phấn đấu về sản lượng và
chất lượng trong quá trình sản xuất kinh doanh của công ty.
- Đến nay công ty đã có khoảng 46 loại máy móc thiết bị khác nhau. Đa
số các loại máy móc đều được nhập từ một số nước công nghệ tiên tiến
như Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông Ban giám đốc
công ty đã không ngừng đầu tư máy móc thiết bị hiện đại hơn, nâng
cao trình độ, năng lực của cán bộ lãnh đạo, nhân viên và công nhân để
công ty có thể sản các mặt hàng cao cấp đáp ứng mọi nhu cầu của
khách hàng. Để mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, hiện nay mỗi
xí nghiệp của công ty được trang bị khoảng 280 máy các loại.
- Công ty đã liên kết với các đối tác nước ngoài như TungShinh (Hồng
Kông) và một số công ty khác ở Hồng Kông,Đài Loan để đầu tư dây
chuyền sản xuất hàng dệt kim và giúp sản phẩm của công ty được tiêu
thụ một cách mạnh mẽ.
- Công ty đã thiết lập một hệ thống phân phối rộng khắp trên toàn quốc
gồm trên 35 đại lý bán hàng và các cửa hàng giới thiệu sản phẩm của
công ty.
- Từ năm 2001 đến năm 2003 công ty đã hoàn thành vượt mức các chỉ
tiêu kế hoạch đề ra.Doanh thu tăng 44.03%,thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước tăng 35.86% so với năm 2001, mức lương bình
- Về công nghiệp và thiết bị, mặc dù trong những năm gần đây công ty đã
đầu tư đổi mới, nhưng trình độ tự động hoá chỉ đạt mức trung bình, không ít
công đoạn còn thức hiện theo kiểu thủ công khiến chất lượng sản phẩm
không ổn định. Trình độ công nghệ ngành dệt may nói chung và của công ty
may nói riêng có thể nói còn quá lạc hậu so với các nước trong khu vực
(ước tính tụt hậu chừng 10-15 năm), công nghệ cắt và may lạc hậu so với
các nước trong khu vực khoảng 5 năm, năng lực thiết kế còn hạn chế. Đặc
biệt năng suất lao động còn thấp hơn rất nhiều sao với năng suất lao động
của các nước phát triển trong khu vực. Tổng hợp các yếu tố đó lại, chi phí
sản xuất của chúng ta cao hơn các nước trong khu vực khiến cho giá thành
sản phẩm cao, mất lợi thế cạnh tranh trên thương trường.
- Về nguyên phụ liệu cung cấp cho ngành may xuất khẩu, hiện trong nước
mới chỉ đáp ứng được 10-15% nhu cầu may mặc. Số còn lại do doanh
nghiệp nhập khẩu hoặc do khách hàng đưa vào gia công và tái xuất. Những
hạn chế đó dẫn đến một hệ quả: khả năng kết nối giữa hai khâu dệt – may
lỏng lẻo, do đó, phần giá trị gia tăng và lợi nhuận mang lại cho doanh
nghiệp và đất nước không cao. Hiện nay, lượng vải cần cho sản xuất sản
phẩm của công ty cổ phần may Thăng Long phải nhập từ nhiều thị trường
khác nhau như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật, Indonesia, Thái Lan tuy
chất lượng vải đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhưng chi phí vận chuyển
cao, đây là một trong các yếu tố làm chi phí sản xuất cao.
* Ngoài ra công ty cổ phần may Thăng Long còn có một số tồn tại sau mà
nếu không khắc phục được sẽ làm cho khả năng cạnh tranh của công ty
giảm đi:
- Về sản phẩm: Mặc dù đã có nhiều chủng loại sản phẩm của công ty có mặt
trên thị trường nhưng số lượng chủng loại còn hạn chế và cơ cấu chủng loại
không cân bằng ở các mặt hàng kinh doanh.
Được đánh giá là sản phẩm có chất lượng cao, song sản phẩm của công ty

- Về trình độ của cán bộ công nhân viên trong công ty:
Với xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới, công ty phải thường xuyên làm
ăn với các đối tác nước ngoài, thâm nhập thị trường nước ngoài ngày càng
nhiều như thị trường EU, Mỹ, Đức Đòi hỏi cán bộ công nhân viên phải có
trình độ, phải theo kịp xu hướng đó. Đội ngũ cán bộ công nhân viên trong
công ty tuy đông nhưng chất lượng chưa cao, trình độ ngoại ngữ, trình độ giao tiếp, bán hàng hiểu biết về pháp luật, thông lệ quốc tế còn hạn chế
khiến cho công ty gặp những khó khăn trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
- Về thanh toán:
Việc thanh toán cũng như giao hàng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được
nhu cầu của người tiêu dùng, chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế thế
giới nói chung. Hiện nay, công ty chủ yếu thanh toán bằng tiền mặt, bằng
Dollar, bằng thẻ tín dụng (L/C) , bằng điện chuyển tiền (TT), nhưng chưa
chấp nhận thanh toán bằng hối phiếu, sec nên còn hạn chế sự thuận tiện
cho khách hàng. 2.3. Phương hướng phát triển của công ty cổ phần may Thăng Long
Từ thực trạng hoạt động của công ty, các xu thế phát triển của thị trường
và các biến động của ngành dệt may thế giớinói chung và của ngành dệt may
Việt Nam nói riêng. Công ty đã đề ra hướng đi để đẩy mạnh hoạt động sản xuất
kinh doanh, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao trình độ của cán bộ
công nhân viên, đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong tương lai.
- Công ty sẽ tăng vốn kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất để phù hợp với
tiềm năng cũng như yêu cầu của công ty.
- Mở rộng xuất khẩu đối với các thị trường truyền thống như thị trường EU,
Mỹ, Nhật, Canada, thâm nhập thị trường mới như Hà Lan, Bỉ, các nước
ASEAN

các thị trường tiềm năng, đồng thời đăng ký tên miền trên Internet, từng
bước quảng bá nhãn hiệu, thương hiệu của công ty.
- Tổ chức tốt công tác điều tra nghiên cứu thị trường.
- Hoàn thiện công tác bán hàng, giao dịch bán hàng.
- Đa dạng hoá mặt hàng kinh doanh.
- Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên.
- Mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh với các tổ chức kinh tế khác.
- Tăng cường các biện pháp kinh tế tài chính có tính chất đòn bẩy để thúc đẩy
tiêu thụ sản phẩm. Phần III: giới thiệu sơ lược về phòng Kế Hoạch Xuất Nhập Khẩu. 3.1. Cơ cấu tổ chức của phòng.
Phòng kế hoạch xuất nhập khẩu được hình thành và phát triển cùng với
quá trình phát triển của công ty. Trước đây phòng được gọi là phòng kế hoạch
thị trường, hiện nay để phù hợp với hình thức kinh doanh của công ty phòng
được tách ra thành phòng kế hoạch xuất nhập khẩu và phòng thị trường.
Hiện nay phòng kế hoạch xuất nhập khẩu gồm có 35 cán bộ công
nhân viên, được tổ chức như sau:
Phó phòng

Sản xuất

Phó phòng

3.2. Chức năng và nhiệm vụ
Trưởng phòng: Là người chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc về các
kế hoạch sản xuất, xuất nhập khẩu của Công ty. Đồng thời là người trực tiếp
chỉ đạo các hoạt động trong phòng.
Phó phòng thứ nhất: chịu trách nhiệm về khâu sản xuất, có nhiệm vụ lập
kế hoạch sản xuất trong công ty như tính toán, tập trung máy móc, thiết bị sản
xuất và kết hợp với các xưởng sản xuất để cân đối đầu vào của sản xuất.
Phó phòng thứ hai: Là người phụ trách về khâu xuất nhập khẩu, như
việc lo thủ tục xuất nhập khẩu. Đồng thời phó phòng thứ hai cũng là cán bộ
tiếp liệu ( tính toán nguyên phụ liệu xuất nhập khẩu ).
Phó phòng thứ ba: Là người phụ trách về mảng đầu tư, xây dựng, kiến
thiết cơ bản theo định hướng phát triển của công ty.
Các nhân viên trong phòng (khoảng hơn 30 người) là những người làm
công tác chuyên môn trong phòng.

Kết luận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status