Lời nói đầu
Xuất phát từ tình hình hiện nay và yêu cầu phát triển đất nớc trong thời kỳ mới, đ-
ờng lối kính tế của Đảng ta đợc xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp,
u tiên phát triển lực lợng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
theo định hớng XHCN; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và
bền vững. Thực hiện đúng đờng lối của đảng tại đại hội IX, tất cả các thành phần
kinh tế phải tận dụng lợi thế của cơ chế thị trờng, đa ra phơng hớng hoạt động
trong mọi lĩnh vực để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Xét trên tầm vĩ mô, nhu cầu về vốn trở nên nóng bỏng và cấp thiết đối với bất kỳ
một quốc gia nào, một nền kinh tế nào. Còn đối với hoạt động kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp, những tế bào sống của nền kinh tế, thì vốn đơng nhiên đợc coi là
một vấn đề tiên quyết không phải chỉ riêng trong cơ chế thị trờng hiện nay, dới bất
kỳ một hình thức nào thì điều kiện đầu tiên sơ khai để thành lập cũng cần phải có
một lợng vốn nhất định nh vốn điều lệ, vốn pháp định... chứ cha nói đến là khi tiến
hành sản xuất kinh doanh. Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng nhất cần phải có đối
với bất kỳ một doanh nghiệp tài chính hay phi tài chính, nó là điều kiện tiên quyết,
có ý nghĩa quyết định tới các bớc tiếp theo của quá trình kinh doanh. Vốn là một
yếu tố không thể thiếu của doanh nghiệp nhng làm thế nào để phát huy đợc sức
mạnh kinh tế của vốn thì mới là phơng án cấp thiết để doanh nghiệp có thể tồn tại,
khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trờng, sử dụng vốn có hiệu quả thì
doanh nghiệp mới có khả năng bảo toàn và phát triển đợc vốn, lúc đó có thể tái
đầu t cho sản xuất kinh doanh về cả chiều sâu và chiều rộng.
Giấy là một trong 7 sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế quốc dân, của đời sống xã
hội, sản lợng giấy tiêu dụng bình quân đầu ngời hàng năm tại một quốc gia phản
ánh trình độ dân trí và mức sống của dân c. Tổng công ty giấy Việt Nam là doanh
nghiệp có quy mô lớn nhất toàn ngành giấy. Với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh
giấy các loại đảm bảo cân đối nhu cầu thiết yếu về giấy, cung ứng vật t, nguyên
liệu, phụ tùng, thiết bị cho ngành giấy, thực hiện xuất nhập khẩu giấy và các loại
hàng hoá khác có liên quan đến ngành giấy theo quy định của pháp luật Việt Nam.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về vốn trong các doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm chung
Trong nội dung hoạt động tài chính doanh nghiệp, việc quản lý và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn là khâu quan trọng nhất quyết định tới mức độ tăng trởng hay suy
thoái của doanh nghiệp. Quản lý sử dụng vốn bao gồm nhiều khâu nh : xác định
nhu cầu vốn, khai thác tạo lập vốn, sử dụng và bảo toàn vốn kinh doanh ..... Trớc
khi đi vào những nội dung củ thể, cần thiết phải trở lại một vấn đề có tính nguyên
lý : Vốn là gì ? Vốn kinh doanh là gì ? Những đặc điểm của nó trong quá trình vận
động nh thế nào ?
Vốn có vai trò hết sức quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói
riêng và một nền kinh tế nói chung. Do vậy, từ trớc tới nay có rất nhiều quan niệm
về vốn. Do mỗi ngời ở một hoàn cảnh kinh tế khác nhau cũng nh góc độ nhìn nhận
khác nhau mà có những quan niệm khác nhau về vốn.
Theo quan điểm của K.Marx, dới giác độ các yếu tố sản xuất, vốn(t bản) là Giá
trị đem lại giá trị thặng d, là đầu vào của quá trình sản xuất
Định nghĩa này có một tầm khái quát lớn vì đã bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò
của vốn. Bản chất của vốn chính là giá trị cho dù có thể đợc biểu hiện dới nhiều
hình thức khác nhau, vốn là giá trị đem lại giá trị thặng d vì chúng tạo ra sự tăng
thêm về giá trị thông qua giá trị sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên do hạn chế về
trình độ của nền kinh tế lúc bấy giờ, K.Marx quan niệm chỉ có khu vực sản suất
vật chất mới tạo ra giá trị thặng d cho nền kinh tế. Đây là hạn chế trong quan niệm
về vốn của K.Marx.
Theo P.Samuelson, một nhà kinh tế học theo trờng phái tân cổ điển, đã kế thừa
quan niệm về các yếu tố sản xuất của trờng phái cổ điển và phân chia các yếu
3
tố đầu vào của quá trình sản xuẩt ra thành 3 loại chủ yếu là đất đai, lao động và
vốn. Nên ông cho rằng, vốn là các hàng hoá sản xuất ra để phục vụ cho một quá
trình sản xuất mới, là đầu vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp. Tuy
nhiên trong quan niệm về vốn của mình, P.Samuelson không đề cập đến các tài
sản tài chính, những giấy tờ có giá có thể đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và
doanh chứ không để tiêu dùng, tức là mục đích tích luỹ.
Trong nền kinh tế thị trờng mọi thứ đều đợc tiền tệ hoá do đó đòi hỏi doanh
nghiệp phải có một lợng tiền ứng trớc nhất định, đợc gọi là vốn kinh doanh. Vốn
sau khi ứng ra đợc sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì sau một chu kỳ hoạt động
phải đợc thu về để ứng tiếp cho chu kỳ hoạt động tiếp theo. Vốn không thể tiêu
mất đi nh một số quỹ khác trong doanh nghiệp, mất vốn đối với doanh nghiệp
đồng nghĩa với nguy cơ phá sản.
1.1.1.2 Đặc điểm vốn
Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu đợc trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Từ lúc mới bắt đầu thành lập, doanh nghiệp phải có đợc số vốn
tối thiểu mà Nhà nớc quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp đó là vốn pháp
định. Từ đó doanh nghiệp mới có thể tạo lập cơ sở vật chất ban đầu của mình nh
nhà xởng, máy móc thiết bị ...và chi trả các chi phí ban đầu. Đến khi doanh nghiệp
đã bắt đầu ổn định, sản phẩm của doanh nghiệp đã đợc chấp nhận trên thị trờng thì
vấn đề mở rộng quy mô doanh nghiệp, phát triển các mặt hàng cũng đòi hỏi phải
có một lợng vốn nhất định. Trong giai đoạn này nếu doanh nghiệp đáp ứng đợc
khả năng về vốn thì khả năng tăng trởng doanh nghịp càng cao, càng có uy tín trên
thị trờng và đạt đợc lợi nhuận cao hơn. Song đến giai đoạn có nhiều đối thủ cạnh
tranh thì đơn vị cần có vốn đầu t cải tiến quy trình công nghệ, nâng cao chất lợng
sản phẩm.
Từ những nhận thức về vốn, ta có thể nhận thấy vai trò quan trọng của vốn trong
quá trình hình thành, tồn tại và phát triển doanh nghiệp, đặc biệt trong nền kinh tế
thị trờng để tồn tại và phát triển, ngoài các yếu tố khác thì vốn là một trong các
yếu tố cực kỳ quan trọng, là tiền đề cho việc phát triển kinh doanh của mình.
Vì vậy để quản lý và sử dụng có hiệu quả, chúng ta cần phải nhận thức đủ hơn về
những đặc trng sau đây:
Vốn đợc biểu hiện bằng một lợng giá trị thực của những tài sản đợc sử dụng để
sản xuất ra một lợng giá trị sản phẩm khác. Vốn chính là hàng hoá đợc biểu hiện
nghiệp.
1.1.2 Phân loại vốn của doanh nghiệp
Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà quy mô của vốn, cơ cấu thành phần và
mục đích của doanh nghiệp nên có thể có nhiều hình thức phân loại vốn khác
nhau. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển và công dụng của tài sản có ba nhóm tài
sản cơ bản là tài sản cố định, tài sản lu động và tài sản đầu t tài chính.Vì vốn
và tài sản có mối quan hệ mật thiết với nhau, vốn của doanh nghiệp là tài sản của
doanh nghiệp đợc biểu hiện bằng tiền, còn tài sản là biểu hiện bên ngoài của vốn
cho nên phân loại tài sản cũng chính là phân loại vốn của doanh nghiệp.
6
1.1.2.1 Vốn cố định
a, Khái niệm :
Vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu t ứng trớc về tài sản cố định, mà đặc
điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất
và hoàn thành sau một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử
dụng.
Nh vậy, vốn cố định là một bộ phận của vốn ứng ra hình thành tài sản cố định nên
quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của tài sản cố
định. Tài sản cố định trong doanh nghiệp là những t liệu lao động chủ yếu, với đặc
điểm là tham gia vào nhiều quá trình sản xuất, đồng thời đặc điểm của tài sản cố
định lại quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển giá trị của vốn cố định.
Vì vậy, từ mối quan hệ này ta có thể khái quát đặc điểm của vốn cố định nh sau:
b, Đặc điểm vốn cố định:
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm, có đặc điểm này là do
tài sản cố định tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì
thế vốn cố định có hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định và mặc dù tài
sản cố định bị hao mòn song nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất và đặc tính sử
dụng ban đầu.
Vốn cố định đợc luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất và đợc
hoàn thành sau một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết hạn sử dụng. Khi tham
hoàn, chu chuyển vốn lu động. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn lu
động lại đợc thay đổi hình thái thể hiện từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển
sang hình thái vốn vật t hàng hoá dữ trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về
hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lu động kết thúc một vòng
chu chuyển.
Vốn lu động là điều kiện vật chất không thể thiếu đợc của quá trình sản xuất. Đáp
ứng đầy đủ vốn lu động có thể rút ngắn đợc vòng luân chuyển của vốn, đạt đợc
hiệu quả cao về sử dụng vốn và mục đích kinh doanh của mình.
1.1.2.3 Vốn đầu t tài chính:
a, Khái niệm:
8
Ngoài hoạt động chính cơ bản của doanh nghiệp phi tài chính là sản xuất, thơng
mại, dịch vụ thì doanh nghiệp còn dùng một phần vốn kinh doanh đầu t ra bên
ngoài gọi là đầu t tài chính. Lợi nhuận của hoạt động đầu t tài chính đợc hình
thành từ bên ngoài doanh nghiệp nh lãi cổ phần, lãi liên doanh...
Vậy một bộ phận vốn kinh doanh của doanh nghiệp đợc đầu t dài hạn ra bên
ngoài nhằm mục đích sinh lơì đợc gọi là vốn đầu t tài chính của doanh nghiệp
Đầu t tài chính nhằm:
- Làm cho vốn tạm thời nhàn rỗi sinh lời.
- Phân tán rủi ro bằng sự đa dạng hoá đầu t, nhất là biện pháp liên doanh, đầu t
bất động sản.
- Tận dụng những lợi thế của doanh nghiệp trong hoạt động liên doanh.
- Tận dụng những cơ hội kinh doanh trong đầu t tài chính.
- Tạo nguồn dữ trữ đảm bảo khả năng thanh toán nợ đến hạn khi tài sản bằng tiền
không đủ dới dạng đầu t chứng khoán. Khi đó doanh nghiệp không cần dữ trữ
nhiều vốn bằng tiền gây lãng phí.
- Để đảm bảo an toàn về vốn, ngời đầu t có thể chấp nhận một hớng đầu t với tỷ
suất lợi nhuận thấp nhng vốn đầu t đợc an toàn.
Trong nền kinh tế thị trờng, việc đảm bảo an toàn về vốn là một trong những
nguyên tắc quan trọng. Ngời đầu t có thể sẵn sàng chấp nhận một hớng đầu t với
thu hồi vốn trên một năm.
Trong nhiều trờng hợp, nhờ đầu t tài chính ra bên ngoài mà doanh nghiệp có thể tự
tháo gỡ đợc những nguy cơ bên trong tránh đợc nguy cơ phá sản bằng lĩnh vực
kinh doanh mới có khả quan hơn, đó cũng là một giải pháp kéo dài chu kỳ sống
của doanh nghiệp. Trong khi phân tích những u thế của việc đầu t ra bên ngoài
cũng không nên quên những hạn chế của hình thức đầu t này. Điều quan trọng
nhất khi đi tới quyết định đầu t tài chính ra bên ngoài là cần hết sức cân nhắc độ
an toàn và tin cậy của dự án. Vì thế nhà kinh doanh phải am hiểu tờng tận những
thông tin cần thiết, phân tích, đánh giá những mặt giới hạn của dự án để chọn
đúng đối tợng và loại hình đầu t phù hợp.
10
1.1.3 Nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp
Vốn của doanh nghiệp đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên mỗi
loại hình doanh nghiệp cũng chỉ có thể khai thác, huy động vốn trên một số nguồn
nhất định. Nếu ngời quản lý không bao quát đợc các nguồn hình thành vốn, nội
dung và tính chất của các nguồn vốn có thể huy động đợc thì đó là sai lầm trong
công tác quản lý, sử dụng vốn kinh doanh. Vì vậy việc nghiên cứu nội dung tính
chất của các nguồn vốn sẽ là cơ sở cho việc lựa chọn, khai thác huy động vốn phù
hợp với nhu cầu khả năng cho phép của mỗi doanh nghiệp.
1.1.3.1 Căn cứ vào nguồn hình thành, nguồn vốn đợc chia làm hai loại là
nguồn vốn chủ sở hữu và nợ
a, Nguồn vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu và sử dụng nó. Nguồn vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp nhà nớc đợc hình thành từ:
Vốn do ngân ngân nhà nớc cấp: Nguồn này đợc cấp phát cho các doanh nghiệp
nhà nớc, đó là nguồn đợc hình thành từ quỹ tích luỹ của ngân sách và đợc dùng
vào mục đích chi phát triển kinh tế. Trong thời kỳ bao cấp, tuy thu không đủ chi,
nhng ngân sách nhà nớc đã phải tài trợ số vốn kinh doanh cho hàng vạn xí nghiệp
quốc doanh trong nền kinh tế, do có sự bao cấp của nhà nớc về vốn nên đã gây tâm
lý ỷ lại. Từ đó đã làm suy giảm tính năng động của các xí nghiệp trong việc chủ
phải trả cho nhà nớc...Nguồn này có tính chất tạm thời, thờng xuyên biến đổi. Sử
dụng loại vốn này doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí gọi là chi phí sử dụng
vốn hay lãi vay.
Nợ ngắn hạn : Bao gồm các khoản tín dụng thuơng mại ngắn hạn và tín dụng
ngân hàng. Tín dụng thơng mại thờng đợc các doanh nghiệp sử dụng coi nh là một
nguồn vốn ngắn hạn, nó phát sinh trong quan hệ mua bán chịu, mua bán trả góp
giữa doanh nghiệp và đối tác. Tín dụng thơng mại là phơng thức tài trợ tiện lợi và
linh hoạt trong kinh doanh, ngoài ra nó còn tạo khả năng mở rộng quan hệ hợp tác
kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế. Tuy nhiên nó là nguồn vốn ngắn hạn nên sử
dụng nó cũng dễ gặp nhiều rủi ro nh rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán. Tín dụng
ngân hàng là khoản vay tại các ngân hàng thơng mại nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
nhanh chóng. Nhng nguồn vốn này không phải khi nào cũng có đợc.
Nợ dài hạn: Gồm các khoản tín dụng dài hạn, huy động vốn từ phát hành trái
phiếu công ty. Nợ dài hạn thờng dùng để tài trợ cho việc mua sắm tài sản cố định.
Nợ dài hạn có mức lãi suất thấp hơn nợ ngắn hạn.
12
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn có thể chia thành hai nguồn sau:
Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động từ bản thân
doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận để lại, vốn góp các chủ sỡ hữu, các khoản dự trữ
dự phòng, chênh lệch đánh giá lại tài sản, thu từ nhợng bán thanh lý tài sản cố
định.
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy
động từ bên ngoài để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình, bao
gồm: vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, phát hành trái phiếu cổ
phiếu, nợ ngời cung cấp và các khoản nợ khác.
Cách phân loại này có thể giúp các nhà quản lý có thể quyết định một cách đúng
đắn trong việc lựa chọn ra một cơ cấu vốn tối u. Một công cụ hết sức phổ biến làm
cơ sở cho việc lựa chọn, phân tích xem lúc nào thì nên đi vay, lúc nào thì nên sử
dụng vốn chủ sở hữu để tiến hành kinh doanh đó là Đòn bẩy tài chính -
Financial Leverage
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn và sự cần thiết năng cao hiệu quả sử dụng vốn
trong các doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn :
Mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là cung cấp sản phẩm,
dịch vụ cho xã hội nhằm tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu. Để đạt đợc mục
đích, doanh nghiệp hớng tới hiệu qủa kinh tế trên cơ sở khai thác và sử dụng một
cách triệt để mọi nguồn lực sẵn có. Chính vì thế các nguồn lực kinh tế đặc biệt là
nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả kinh
doanh nói chung của doanh nghiệp.
Theo cách hiểu đơn giản, hiệu quả sử dụng vốn là sự đạt đợc lợi nhuận đề ra
khi sử dụng một lợng vốn nhất định vào sản xuất kinh doanh với chi phí thấp
nhất.
Hiệu quả sử dụng vốn là một chỉ tiêu phản ánh chất lợng sử dụng vốn, là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của
doanh nghiệp để đạt đợc hiệu quả cao nhất và có mức chi phí thất nhất. Đợc coi là
có hiệu quả khi giá trị thu đợc phải lớn hơn số vốn ban đầu bỏ ra sau khi đă quy
chuẩn trên cùng giá trị thời gian .
14
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
Trong công tác tổ chức, quản lý, sử dụng vốn, việc đánh giá đúng đắn tình hình tài
chính của doanh nghiệp của các kỳ trớc là một vấn đề quan trọng. Từ đó cho phép
nêu ra các biện pháp nhằm đẩy mạnh việc tổ chức và sử dụng vốn trong kỳ tiếp
theo. Để đánh giá tình hình tổ chức cũng nh hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp một cách chính xác, ta tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn chung
của doanh nghiệp đó bằng phơng pháp phân tích tài chính, rồi sau đó sử dụng ph-
ơng pháp phân chia vốn của doanh nghiệp để đa ra kết luận về tính hiệu quả trong
việc sử dụng từng loại vốn của doanh nghiệp.
Khái quát nội dung phân tích:
Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp
trong cạnh tranh thì lúc này tình trạng của doanh nghiệp chỉ là tạm thời. Kỳ thu
tiền bình quân nhỏ chứng tỏ khả năng thu hồi vốn trong khâu thanh toán của
doanh nghiệp là tốt nhng không đợc quá nhỏ.
Lợi nhuận trớc thuế và lãi vay
Tỷ suất lợi nhuận vốn =
Vốn sản xuất kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp cho thấy khi bỏ ra một đồng vốn thì doanh nghiệp thu đợc bao nhiêu đông
lợi nhuận. Con só này càng cao thì hiệu quả kinh doanh càng tốt và ngợc lại.
b, Phân tích một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh
nghiệp
Kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng vốn cố định là một nội dung quan
trọng trong hoạt động tài chính doanh nghiệp. Thông qua kiểm tra tài chính doanh
nghiệp có đợc những căn cứ xác đáng để đa ra quyết định về tài chính nh điều
chỉnh về quy mô và cơ cấu vốn đầu t, đầu t mới hay hiện đại hoá tài sản cố định,
nhờ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định.
Kết quả sản xuất mà vốn cố định đem lại đợc biểu hiện dới nhiều hình thức khác
nhau nh doanh thu, lợi nhuận, mức hạn giá thành. Dới đây là một số chỉ tiêu phản
ánh hiệu quả sử dụng vốn cố định:
16
Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định sử
dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Với các doanh nghiệp chỉ tiêu này
càng cao càng tốt. Tuy nhiên, lu ý do vốn lu chuyển chậm trong nhiều kỳ kinh
doanh khác nhau nên khi sử dụng để so sánh giữa các kỳ kinh doanh khác nhau thì
cần loại bỏ yếu tố trợt giá.
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
VCĐ sử dụng bình quân trong kỳ
doanh nghiệp đó đã sử dụng vốn có hiệu quả hay cha. Do vậy, ngời ta thờng so các
chỉ tiêu trên trong những thời kỳ khác nhau để xem sự biến động đó nh thế nào, so
sánh các chỉ tiêu đó với chỉ tiêu trung bình của nghành để từ đó những cái đợc và
cha đợc động thời có các biện pháp thích hợp để phát huy mặt đợc , khắc phục mặt
cha đợc.
c, Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lu động
Tốc độ luân chuyển vốn lu động:
Trong quá trình sản suất kinh doanh, vốn lu động vận động không ngừng qua các
giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất. Đẩy mạnh tốc độ luân chuyển vốn
sẽ góp phần giải quyết nhu cầu vốn, tăng doanh thu và lợi nhuận, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu này nói lên tình trạng quản lý các
khoản tiền mặt, phải thu và dự trữ có hợp lý không. Qua đó cho biết khả năng
thanh toán tốt hay xấu, các chi phí trong kinh doanh cao hay thấp, tiết kiệm hay
lãng phí vốn. Việc phân tích chỉ tiêu này có thể đa ra các chỉ dẫn cho doanh
nghiệp, ra các quyết định đúng đắn để tăng cờng công tác kinh doanh và sử dụng
tiết kiệm vốn lu động.
Chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lu động bao gồm hai hình thức sau:
+ Số vòng quay của vốn lu động: Chỉ tiêu này phản ánh trong một kỳ vốn lu
động quay đợc mấy vòng. Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ vốn lu động luân
chuyển nhanh, hoạt động kinh doanh có hiệu quả và ngợc lại, chỉ tiêu này còn đợc
gọi là hệ số luân chuyển.
Doanh thu thuần
Số vòng quay VLĐ =
VLĐ bình quân trong kỳ
18
+ Thời gian của một vòng luân chuyển: Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết
để vốn lu động quay đợc một vòng. Thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ
=
360 ngày
Số vòng luân chuyển
Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, nó phản ánh lợng sử dụng vốn lu động trong doanh
nghiệp.
Chú ý: VLĐ sử dụng bình quân trong kỳ = (VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ)/2
Hàm lợng vốn lu động: Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đồng doanh thu thì
cần bao nhiêu đồng vốn lu động
VLĐ bình quân trong kỳ
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lu động càng cao, số vốn đợc tiết
kiệm càng nhiều.
1.2.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trờng
Hoạt động của doanh nghiệp là hoạt động kinh tế nhằm mang lại lợi nhuận thông
qua sản xuất kinh doanh, thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó vốn là yếu tố đầu vào quan trọng. Vốn gồm cả khả năng cung ứng tích
luỹ, tích tụ đổi mới sử dụng vốn. Xí nghiệp vừa là ngời mua vừa là ngời bán khi bị
hạn chế về nguồn lực tài chính. Nguồn lực tài chính bao giờ cũng có giới hạn, do
vậy vấn đề nòng cốt là làm sao sử dụng nguồn lực hiệu quả chứ không phải đòi
thêm nguồn lực. Khi bán ra họ bị giới hạn bởi nhu cầu sức mua, thị hiếu...Do vậy
hàng hoá không bán đợc, khó bán, khó có khả năng tái tạo nguồn tài chính ban
đầu. Vì vậy doanh nghiệp là hoạt động tạo ra nguồn tài chính, tái tạo ra nguồn tài
chính là hoạt động quan trọng nhất, đó là nguyên tắc.
Hiệu quả sử dụng vốn là một trong những nguyên nhân trực tiếp ảnh hởng đến lợi
nhuận, đến quyền lợi dẫn đến mục đích cao nhất của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là nâng cao lợi nhuận, chẳng có một lý do nào để
doanh nghiệp có thể từ chối việc làm đó. Nh vậy ta có thể thấy nâng cao hiệu quả
nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải nâng cao chất lợng sản
phẩm, mẫu mã sản phẩm và phải quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
21
Những nhân tố khác:
Đó là các nhân tố mà ngời ta thờng gọi là các nhân tố bất khả kháng nh thiên tai,
dịch hoạ có tác động trực tiếp đến hiệu quả sử dụng tài sản cố định của doanh
nghiệp. Mức độ tổn hại về lâu dài hay tức thời không thể biết trớc mà chỉ có thể đề
phòng trớc để giảm nhẹ thiệt hại.
1.2.3.2 Những nhân tố chủ quan:
Ngoài những nhân tố khách quan nói trên, còn rất nhiều nhân tố chủ quan do
chính bản thân doanh nghiệp tạo nên gây ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn.
Nhân tố này gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả cuối cùng của hoạt
động kinh doanh cả về trớc mắt cũng nh lâu dài. Bởi vậy việc xem xét, đánh giá, ra
quyết định đối với các yếu tố này cực kỳ quan trọng. Thông thờng trên giác độ
tổng quát ngời ta thờng xem xét những yếu tố chủ yếu sau:
Sản phẩm mà doanh nghiệp tiến hành sản suất kinh doanh:
Vị thế của sản phẩm trên thị trờng nghĩa là sản phảm đó mang tính cạnh tranh hay
độc quyền, đợc ngời tiêu dùng a chuộng hay không, sản phẩm đã bớc sang giai
đoạn nào của chu kỳ sống...sẽ quyết định tới lợng hàng hoá bán ra và giá cả đơn vị
sản phẩm. Chính vì vậy mà nó ảnh hởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuân của
doanh nghiệp từ đó làm ảnh hởng đến hiệu quả sử dụng vốn. Trớc khi quyết định
ngành nghề kinh doanh hay sản phẩm đa ra thị trờng, doanh nghiệp phải nghiên
cứu kỹ nhu cầu của thị trờng và các chiến lợc khác, có nh thế thì doanh nghiệp
mới mong thu đợc lợi nhuận.
Yếu tố về vốn của doanh nghiệp:
Vốn là phạm trù kinh tế quan trọng trong doanh nghiệp, việc quyết định nguồn tài
trợ, phân bổ vốn vào các loại tài sản và việc xác định nhu cầu vốn của doanh
nghiệp có ảnh hởng tới hiệu quả sử dụng vốn.
Cơ cấu vốn nó liên quan trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp và
lệ cao nhất, để đạt đợc điều đó thì doanh nghiệp phải tăng cờng nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, có nh vậy thì mới thu đợc lợi nhuận cao, thúc đẩy doanh nghiệp ngày
càng phát triển.
Trình độ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp :
Nói chung yếu tố con ngời là yếu tố quyết định nhất trong việc đảm bảo sử dụng
vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp.Công nhân sản suất có tay nghề cao, có kinh
nghiệm làm việc, có khả năng tiếp thu công nghệ mới, phát huy đợc tính sáng tạo
trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo quản tài sản trong quá
23
trình lao động sản xuất mới tăng đợc năng suất lao động, tiết kiệm trong sản suất.
Bên cạnh đó, trình độ cán bộ quản lý cũng có ảnh hởng không nhỏ tới hiệu quả sử
dụng vốn của doanh nghiệp. Có quản lý về mặt nhân sự tốt mới đảm bảo có một
đội ngũ lao động có năng lực thực hiện nhiệm vụ, sắp xếp lao động hợp lý thì
không bị lãng phí nguồn nhân lực.Trình độ quản lý về mặt tài chính là hết sức
quan trọng, quy trình hoạch toán có phù hợp, số liệu kế toán có chính xác thì các
quyết định tài chính của ngời lãnh đạo doanh nghiệp mới có cơ sở khoa học.
Ngoài ra trong quá trình hoạt động, việc thu chi phải rõ ràng, sử dụng nguồn vốn
đúng mục đích, đúng thời điểm thì mới có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp.
Trình độ quản lý còn thể hiện trên một số mặt củ thể nh: quản lý hàng tồn kho,
quản lý khâu sản xuất, quản ký khâu tiêu thụ... Chỉ khi các khâu quản lý này tốt
thì hiệu quả sử dụng vốn mới nâng cao rõ rệt.
Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu có ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp làm
ảnh hởng tới hiệu quả công tác tổ chức và sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Để hạn chế thiệt hại do những nguyên nhân đó gây ra, các doanh
nghiệp cần nghiên cứu xem xét một cách kỹ lợng thận trọng từng nguyên nhân để
hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả có thể xảy ra, đảm bảo việc tổ chức huy
động vốn đầy đủ kịp thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Đồng thời có các giải
pháp kịp thời, đồng bộ không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh
nghiệp.
25