Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển KCN, KCX ở Việt Nam - Pdf 12

Lời nói đầu
ở Việt Nam hiện nay khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) đã trở
thành những thực thể không thể thiếu đợc trong nền kinh tế. KCN, KCX góp phần
tăng sản lợng công nghiệp, tăng xuất khẩu, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập ngời
dân hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý hơn. Để tìm hiểu rõ hơn từ đó rút ra những
giải pháp thì việc nghiên cứu tình hình phát triển KCN, KCX là điều cần thiết.
Mục đích của đề tài này là nhằm xem xét tình hình thực tế trong các KCN,
KCX của Việt Nam thời gian qua (tính đến tháng 9 năm 1999) từ đó đa ra những
giải pháp cần thiết cho sự phát triển các KCN, KCX ở nớc ta.
Nội dung của đề tài gồm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề chung về KCN, KCX
Phần II: Thực trạng phát triển KCN, KCX ở Việt Nam
Phần III: Giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển KCN, KCX ở Việt Nam.
Trong đề tài này cũng xem xét kinh nghiệm của một số nớc trong việc phát
triển KCN, KCX nh Thái Lan và Đài Loan.
Đây là vấn đề bức xúc và mang tầm vĩ mô, vì vậy không thể tránh khỏi
những thiếu sót rất mong có sự góp ý của các bạn và các thầy cô giáo.
Để hoàn thành Đề án này em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong
bộ môn kinh tế và kinh doanh quốc tế trờng Đại học Kinh tế Quốc dân và đặc biệt
là Thạc sỹ Nguyễn Anh Minh, đã giúp đỡ em hoàn thành đề án này.
1
phần I
những vấn đề chung về KCN, KCX
1. Khái niệm và đặc điểm của KCN, KCX
1.1. Khu công nghiệp
* Khái niệm KCN:
Khu công nghiệp (KCN - Industrial Zone) còn gọi là khu công nghiệp tập
chung là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và các dịch vụ phục vụ cho sản
xuất công nghiệp đợc Chính phủ nớc sở tại thành lập hoặc cho phép thành lập.
Trong các KCN có các doanh nghiệp KCN hoạt động đó là những doanh
nghiệp đợc thành lập và hoạt động trong KCN.

- Chính phủ nớc sở tại luôn mong muốn và tạo điều kiện thuận lợi để các
doanh nghiệp KCN xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN.
1.2. Khu chế xuất:
* Khái niệm khu chế xuất:
Khu chế xuất có nhiều tên gọi khác nhau với các định nghĩa khác nhau. KCX
ngày nay là sự hoàn thiện của cảng tự do và khu vực mậu dịch tự do.
Theo tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO); KCX là
một khu vực tơng đối nhỏ, phân cách về địa lý trong một quốc gia nhằm thu hút
các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hớng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho
các xí nghiệp những điều kiện về đầu t và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với nội
địa. KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế
dựa trên cơ sở kho quá cảnh.
3
Theo Việt Nam: KCX là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,
thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu có ranh
giới địa lý xác định, do Chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập, bao gồm
một hoặc nhiều doanh nghiệp.
Doanh nghiệp KCX là những doanh nghiệp đợc thành lập và hoạt động trong
KCX dới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
* Đặc điểm KCX:
- KCX là khu vực chuyên môn hoá sản xuất hàng công nghiệp chủ yếu vì
mục đích lợi nhuận.
- Là khu vực biệt lập, có ranh giới địa lý xác định, có chế độ mậu dịch và
thuế quan riêng theo phơng thức tự do.
- Hàng hoá ra vào KCX phải đợc kiểm tra nghiêm ngặt.
- Xây dựng KCX, Nhà nớc sở tại mong muốn tăng xuất khẩu tăng thu ngoại
tệ, tạo công ăn việc làm, mở ra hớng phát triển công nghiệp theo hớng hiện đại hoá
hoà nhập nền kinh tế với khu vực và thế giới.
- Các lĩnh vực đầu t chủ yếu trong KCX gồm có: sản xuất, lắp đặt, gia công,
kinh doanh các dịch vụ cho hoạt động trên và cho xuất khẩu.

thuế quan.
- KCN là khu vực sản xuất hàng hoá dùng cho cả xuất khẩu và tiêu thụ nội
địa. Quan hệ giữa doanh nghiệp KCN với thị trờng nội địa là quan hệ nội thơng.
KCN không phải là khu vực mậu dịch tự do vì hàng hoá từ KCN ra thị trờng nớc
ngoài và từ thị trờng nớc ngoài vào KCN phải chịu thuế xuất nhập khẩu. KCN chỉ
là khu vực sản xuất tập trung.
- Đối với nớc sở tại (nớc thành lập KCN, KCX) thì KCX thờng coi là có
nhiều lợi ích hơn KCN vì lý do sau đây:
+ Do doanh nghiệp KCX không đợc sử dụng thị trờng nội địa nên
nhìn chung không cạnh tranh với nền sản xuất trong nớc.
5
+ Nhà nớc không phải lo cân đối ngoại tệ cho các doanh nghiệp mà
ngợc lại nguồn ngoại tệ của xã hội đợc tăng lên nhanh chóng nhờ sự hoạt động của
KCX.
+ Thúc đẩy việc mở cửa thị trờng nội địa nhanh hơn phù hợp với chủ
trơng xây dựng một nền kinh tế mở, hớng mạnh về xuất khẩu. Đây cũng chính là
sự phù hợp với xu hớng chung của thế giới.
+ Những gì coi là thuận lợi của nớc sở tại thì lại là khó khăn với nhà
đầu t. Để có thể xuất khẩu 100% sản phẩm. Việc tổ chức sản xuất phải đạt chất l-
ợng cao, đồng đều, giá hợp lý phù hợp với điều kiện cạnh tranh trên thị trờng quốc
tế.
- Các nhà đầu t thờng quan tâm hơn đến hình thức đầu t trong KCN nhằm tận
dung lợi thế về thị trờng nội địa chính điều này đã tạo nên khó khăn khi xây dựng
thành công KCX.
3. Sự cần thiết phải phát triển các KCN, KCX trong nền
kinh tế.
Từ khi xuất hiện hình thức KCN, KCX cho đến nay, thực tế đã cho chúng ta
thấy chúng có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế đặc biệt là đối với các
nớc đang phát triển đang thiếu vốn và kỹ thuật việc tập chung các doanh nghiệp
sản xuất trong KCN, KCX đã tạo ra nguồn vốn lớn từ nớc ngoài cũng nh sự tập

- Địa điểm phải thuận tiện, kết cấu cơ sở hạ tầng thuận lợi & đầy đủ cả bên
trong và bên ngoài KCN, KCX (vận tải đờng bộ, đờng sắt, đờng thuỷ, sân bay, bến
cảng, hệ thống kho tàng điện nớc nhà ở,...).
- Các thủ tục phải đơn giản, nhanh chóng, đủ hấp dẫn với các nhà đầu t, quản
lý và điều hành nhanh nhạy, ít đầu mối.
- Có đủ các dịch vụ thuận tiện cho sản xuất kinh doanh và giá cả phải chăng
(đặc biệt là giá cho thuê đất và cơ sở hạ tầng trong khu).
- Cần lựa chọn để xác định hớng phát triển hợp lý trong sản xuất của từng
khu tránh độc quyền và tránh những trùng lặp không cần thiết.
- Đánh giá kỹ khả năng thu hút các doanh nghiệp và các nhà đầu t.
7
5. Kinh nghiệm của một số nớc trong việc phát triển KCN,
KCX.
KCN của thế giới đợc thành lập đầu tiên tại Anh vào năm 1896. Ngời ta sớm
nhận ra u điểm của hình thức tổ chức này do đó số lợng KCN đợc xây dựng ngày
càng tăng trên thế giới.
Việt Nam là nớc đi sau để thực hiện mục tiêu đi tắt đón đầu trong phát
triển kinh tế đòi hỏi chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm của các nớc đi trớc để tiến
hành phát triển KCN, KCX cho phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.
5.1. Kinh nghiệm của Thái Lan.
Vào năm 1960 Luật KCN đợc Nhà nớc Thái Lan ban hành từ đó đến nay có
hơn 40 KCN hoạt động. Nhà nớc Thái Lan qui hoạch phát triển KCN dựa trên qui
hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Những KCN đợc Nhà nớc bảo trợ tuy
bị lỗ nhng vẫn hoạt động đảm bảo cho sự phát triển nh KCN Bắc Thái Lan, có
khoảng 11 KCN đợc xây dựng không nằm trong qui hoạch miễn là họ có thị trờng.
Diện tích KCN, mặt bằng KCN có thể đợc mở rộng hơn dự án đã đợc duyệt
nếu có thoả thuận với ngời có đất mà mình đợc dùng. Về quản lý do Cục quản lý
KCN Thái Lan và ngoài ra Cục còn có chức năng kinh doanh.
Về chính sách đối với xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng, Nhà nớc không
u đãi cho vay vốn, tuy nhiên Nhà nớc đứng ra bảo lãnh cho các công ty Nhà nớc

vốn đầu t 89 triệu USD, vốn pháp định 30 triệu USD, diện tích 300ha. KCX Linh
Trung liên doanh với Hồng Kông (cấp giấy phép năm 1992), vốn đầu t 14 triệu
USD, vốn pháp định 6 triệu USD, diện tích 60ha. Dẫn đầu trong thu hút vốn đầu t
trực tiếp nớc ngoài hiện nay là KCX Biên Hoà 2 (900 triệu USD).
Tính đến hết năm 1996 các dự án trong KCN đã thu hút gần 40 vạn lao động
trực tiếp sản xuất khối lợng hàng hoá trị giá 730 triệu USD trong đó xuất khẩu 406
triệu USD, và có hơn 50 xí nghiệp KCX hoạt động xuất khẩu khối lợng hàng hoá
trị giá 116 triệu USD, và có trên một vạn lao động làm việc.
Tính đến tháng 9 năm 1999 cả nớc có 66 KCN và 3 KCX. Cho đến nay số l-
ợng KCN, KCX đã lần lợt đợc mở rộng khá nhanh chóng. Xu hớng ở nớc ta là
hình thành KCN.
Từ năm 1991 đến tháng 9 năm 1999, tốc độ phát triển của các KCN, KCX
tăng đặc biệt nhanh vào các năm 1996, 1997, 1998. Các KCN nằm hầu hết ở phía
Nam với 40 khu, miền Bắc 13 khu, miền Trung 13 khu.
Về loại hình KCN có 16 KCN thuộc loại KCN đợc thành lập trên cơ sở có
một số doanh nghiệp công nghiệp đang hoạt động. 10 KCN phục vụ di dời từ nội
10
đô lớn. 21 KCN có qui mô nhỏ ở đồng bằng Bắc Bộ, Duyên Hải Miền Trung và
đồng bằng sông Cửu Long phục vụ chế biến nông lâm thuỷ sản. 19 KCN mới, hiện
đại trong đó có 13 KCN hợp tác với nớc ngoài để phát triển cơ sở hạ tầng thu hút
vốn đầu t nớc ngoài.
Diện tích đất sử dụng của 66 KCN là trên 1 vạn ha (không kể KCN Dung
Quất), bình quân 1 khu là 160ha. Có 1/3 số KCN là có diện tích 100ha.
Về ngành nghề KCN gồm công nghiệp nhẹ, hoá chất, điện tử, chế biến thực
phẩm, nông lâm thuỷ sản phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ xuất khẩu. Công
nghiệp nặng gắn với cảng nớc sâu ở các vùng kinh tế trọng điểm (tam giác phát
triển vùng phía Bắc, phía Nam và vùng Đà Nẵng). Dung Quất có thêm công
nghiệp hoá chất. Bà Rịa Vũng Tàu có công nghiệp chế biến. Cơ cấu ngành nghề đ-
ợc gắn với lợi thế từng vùng tránh triệt tiêu lẫn nhau.
Nh vậy các KCN Việt Nam rất đa dạng về loại hình, diện tích đất, ngành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status