BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2010”
TÊN CÔNG TRÌNH
ÁP DỤNG MÔ HÌNH CỬA HÀNG TRUNG
THỰC TRONG TRƯỜNG HỌC VIỆT NAM
THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ TÓM TẮT
Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong thời kì mở cửa và hội nhập, cần đẩy mạnh phát triển kinh tế và
xã hội. Tuy nhiên, hiện tại vốn xã hội Việt Nam chưa cao, ý thức người dân còn
kém, tổ chức xã hội chưa cao, nạn tham nhũng còn là vấn nạn lớn của quốc gia.
Những điều trên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của Việt Nam. Vì vậy, thông
qua nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của mô hình Cửa hàng trung thực trên
thế giới, tôi muốn áp dụng mô hình này vào các trường học ở Việt Nam nhằm cải
thiện vốn xã hội và từ đó, góp phần nào vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước.
Mục tiêu nghiên cứu
Mô hình Cửa hàng trung thực hiện nay đã và đang xuất hiện, cũng như phát triển
trên thế giới. Tuy nhiên ở Việt Nam, định nghĩa này còn khá xa lạ. Ngoài ra, mô
hình này góp phần rất lớn vào cải thiện yếu tố vốn xã hội. Vì vậy, qua nghiên cứu,
tôi mong muốn có thể đưa khái niệm này đến gần với người dân Việt Nam hơn cũng
khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là
những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms)
hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền
vững của cuộc sống.
- Những giá trị này được nhà xã hội học Jane Jacobs nêu lên năm 1961,
Bourdieu năm 1986, sau đó được Coleman đặt cho một khuôn khổ lý thuyết
rõ ràng năm 1989; rồi được Putnam phổ biến trên công luận năm 1993.
Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch
giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt
động sản xuất và trở thành những thứ gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá
nhân sử dụng hầu thực hiện những lợi ích riêng tư của họ. Khi ấy người ta có
thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại
vừa mất thì giờ vừa tốn kém.
- Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn
nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những
quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với
nhau thành một mạng lưới.
- Về sự có đi có lại, hay sự tương tác, thì khi diễn ra chúng sẽ làm gia tăng
niềm tin. Có hai loại tương tác (Coleman, Putnam): (i) nhận ngay tức khắc
(specific reciprocity) là hai bên cùng trao đổi tức thời hai thứ có giá trị ngang
nhau, và (ii) sẽ nhận sau này (diffuse reciprocity) là một bên cứ làm lâu dài
và liên tục; không trông đợi sự đáp lại, nhưng qua thời gian thì sẽ được trả lại
2
hay bù đắp tương xứng. Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các
bên.
Ngân hàng thế giới cũng đã công nhận ―vốn xã hội chỉ đến các tổ chức, các mối
quan hệ, và các khái niệm hình thành nên số lượng và chất lượng của các tương tác
xã hội trong một xã hộị. Ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy các cố kết xã hội
rất quan trọng cho các xã hội tăng trưởng về mặt kinh tế và phát triển một cách bền
1.1.2 Vai trò và tầm ảnh hưởng
Nói về vai trò của vốn xã hội, trong bài viết ―Vốn xã hội và phát triển‖ đăng trên tạp
chí Tia sáng, luật sư Nguyễn Ngọc Bích có đưa ra vài quan điểm như sau:
- Trong quyển ―Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity‖ xuất
bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên
vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin
như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước,
ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau. Vốn con
người có thể làm tăng vốn xã hội. Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm
quan trọng của việc săn sóc con cái, và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi
vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ.
- Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của
người khác. Ông nói thẳng: ―Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng
cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo
lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội”. Để
minh chứng, ông cho rằng Trung Quốc, Pháp, Ý vì có mức tin cẩn lẫn nhau
thấp nên đã mất thế cạnh tranh với Mỹ, Nhật và Đức là những nước có mức
tin cẩn nhau cao. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh
thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu
không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng
trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao.
5 năm sau khi viết như thế, trong một bài tham luận trình bày tại Quỹ Tiền tệ quốc
tế, ông định nghĩa: ―Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal)
phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người
4
(nhường chỗ ngồi cho người già). Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể
bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học
thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo. Hành vi mẫu mực phải
bung ra ngay lập tức (tức thời) trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể. Hành vi mẫu
hội.
Thu gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi
cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với
nhau để làm một công việc chung nào đó. Xin gọi chúng là các yếu tố tinh thần.
Mối tương quan giữa các công trình trong xã hội với vốn xã hội và các yếu tố tinh
thần có thể thấy qua một thí dụ là công tác đắp đê chống lụt. Công tác này chính là
một công trình của xã hội – mọi người chung sức làm, kẻ cuốc, người đào, ai cũng
chăm chỉ (đó là vốn xã hội) – sở dĩ họ làm được như thế vì mỗi người tham gia ý
thức được mối lo chung và bổn phận của mình (đó là các yếu tố tinh thần). Xã hội
sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện một
mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi sự
tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội,
và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở
nên hữu hiệu.
Theo tác giả Huỳnh Thanh Điền, gần đây các nhà nghiên kinh tế sử dụng khái
niệm vốn xã hội của các nhà xã hội học như Broudieu (1986), Coleman (1988),
Putnam(1996) để đo lường mối quan hệ với tăng trưởng và phát triển kinh tế trên
nhiều phương diện. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn xã hội có tác động tỷ lệ thuận
và có ý nghĩa thống kê đến thu nhập hộ, tăng trưởng và phát triển kinh tế trên nhiều
phương diện, chẳng hạn như:
- Nghiên cứu ở Indonexia của Grooteart (1998); ở TanZania của Narayan và
Pritchet (1997); ở Kenya của La Ferrar (2002) đo lường vốn xã hội bằng
cách xác định mức độ tham gia sinh hoạt cộng đồng của các cá nhân trong hộ
giá đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của vốn xã hội đến phúc lợi
của hộ là rất lớn và tỷ lệ thuận.
- Nghiên cứu của Eward Miguel, Paul Gerler và David I Levine (2002) về sự
tác động của quá trình công nghiệp hoá ở Indonexia đến vốn xã hội. Kết quả
nghiên cứu đề nghị nên dự báo vốn xã hội trong phân tích các chính sách
6
- Vốn xã hội giúp giải quyết những ―bài toán tập thể”. Cụ thể, có những tình
huống mà mọi người đều có lợi (có thể khá lớn) nếu mỗi người làm một việc
nhỏ, song lợi ích (lớn) đó chỉ hiện thực khi mọi người đều làm việc nhỏ ấy.
Ví dụ đầy rẫy chung quanh ta: từ những việc quan trọng như đóng thuế, đến
những việc bình thường như dừng khi đèn đỏ hoặc không vứt rác nơi công
cộng. Nói theo các nhà kinh tế, vốn xã hội – như là kết tinh của một chuẩn
mực cư xử, một kì vọng chung của thành viên cùng một cộng đồng - giúp
giải quyết các ―bài toán phối hợp‖ (coordination problems). Đi xa hơn (dù
chưa thấy ai đề nghị), nhớ lại rằng nhiều nhà kinh tế đã giải thích những vấn
đề kinh tế vĩ mô như là hậu quả của sự ―thất bại phối hợp‖ (coordination
failures), người viết bài này nghĩ rằng ―tiếp cận vốn xã hội‖ có thể rất hữu
ích cho phân tích những hiện tượng vĩ mô tổng quát (như thất nghiệp, lạm
phát...)
- Vốn xã hội tiết kiệm phí giao dịch (transaction costs). Mọi giao dịch xã hội
và kinh tế sẽ ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu rằng mọi
người đều theo một chuẩn tắc cư xử (tự trọng, sợ mất danh giá gia đình, giữ
lời hứa, chẳng hạn), bởi vì như vậy thì những cá nhân liên hệ sẽ không tốn
nhiều thời giờ và tiền bạc để bảo đảm rằng đối tác sẽ chu toàn trách nhiệm
của họ.
- Vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy của
những loại vốn khác. Chẳng hạn, vốn xã hội có thể làm tăng vốn con người
(Coleman 1988).
- Trong những xã hội ít tin cẩn (tức là nghèo vốn xã hội), quyết định thuê
mướn nhân viên thường bị ảnh hưởng của những đặc tính cá nhân người ấy
(chẳng hạn như thân nhân hoặc quen biết riêng), ít dính dáng đến khả năng
làm việc. Ở xã hội nhiều tin cẩn thì những yếu tố khác như học vấn, tay
nghề, sẽ được quan tâm hơn. Do đó, muốn tiến thân, người trong xã hội
thiếu tin cẩn hay tìm cách móc nối thay vì trau dồi khả năng hay kiến
thức của mình.
8
9
- Phải xem vốn xã hội là một nguồn lực như các nguồn lực khác trong mọi
công trình xây dựng, dự án phát triển, từ cơ sở hạ tầng, đến giáo dục, y tế...
Cũng nên nhớ rằng vốn xã hội là một loại ―hàng hóa công‖ và, cũng như các
loại hàng hóa công khác, nó sẽ không được thị trường cung ứng đầy đủ. Sự
hỗ trợ của nhà nước là cần thiết.
- Nói chung, cần vun quén vốn xã hội, song cũng nên nhớ (a) vốn xã hội
không phải bao giờ cũng tốt, (b) vốn xã hội thường là thuộc tính của một
―cộng đồng‖, một nhóm, đan xen, chồng chéo nhau - ít khi của toàn thể quốc
gia. Do đó, chính sách ―phát triển vốn xã hội‖ cần được cẩn thận chọn lọc, cụ
thể, trong đó có cả biện pháp kết nối những cộng đồng (mà nội bộ có vốn xã
hội riêng) trong một nước (Granovetter). Nó không thể là một chính sách
chung chung. Sự phân cực, manh mún trong xã hội sẽ làm giảm vốn xã hội.
Muốn phát triển kinh tế, chúng ta phải vượt lên những chia rẽ trong xã hội,
làm xã hội gắn kết hơn.
- Cần tăng cường khả năng tổ chức, phối hợp của người thu nhập thấp (nhưng
lại có thể rất giàu vốn xã hội) và giúp những tập thể, những nhóm xã hội liên
kết với nhau. Đặc biệt quan trọng là ―bắt cầu‖ (từ của Granovetter) giữa
những nhóm xã hội, bởi lẽ nhiều quyết định có ảnh hưởng đến người nghèo
là không xuất phát từ địa phương. Nhằm mục đích này, phải cổ động sự
tham gia đông đảo để tiến đến sự đồng thuận, cũng như tương tác xã hội,
giữa những người (khác nhau về quyền lợi và chênh nhau về nguồn lực)
trong tầm ảnh hưởng của quyết định ấy.
- Các tổ chức viện trợ của nước ngoài thường có một câu hỏi bức xúc: làm sao
để trợ giúp thành phần nào đó trong một xã hội vô cùng phức tạp, xa lạ đối
với họ? Tiếp cận ―vốn xã hội‖ nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn chấp thuận một dự
án hỗ trợ như thế không thể chỉ dựa vào các tiêu chuẩn công nghiệp và tài
chính, mà còn phải để ý đến vốn xã hội địa phương.
- Từ quan điểm vốn xã hội, ta càng thấy cần có những chính sách ―tiết lộ
lui bước. Thay vì hợp tác song phương trong tinh thần ngay thẳng, bình
đẳng và danh dự thì lại biến tướng thành quan hệ ―đút‖ (bribe) và ―đớp‖
(being bribed) trong mối quan hệ bệnh hoạn của hối lộ và tham nhũng. Kết
quả là hơn một thế kỷ qua, các nước nghèo vẫn nghèo. Dân chúng vẫn lầm
11
than; nền kinh tế các nước trong vùng rất giàu tài nguyên nhưng vẫn kiệt quệ
vì giới tài phiệt sử dụng nhân lực và tài nguyên đất nước để làm giàu cho
riêng cá nhân, gia đình và dòng họ của mình rồi tìm cách chuyển tiền của và
gửi con cháu của mình ra nước ngoài du học và lập nghiệp.
- Putnam cũng đưa ra một số yếu tố để xác định vốn xã hội thông qua một số
ví dụ về sự suy giảm nguồn vốn này trong xã hội Mỹ ở thế kỉ 20:
Tham gia về chính trị và dân sự: ví dụ như tỉ lệ bỏ phiếu, mức độ hiểu biết
chính trị hay tin tưởng chính trị (politial trust). So với một thập kỉ trước
đây, hiện nay số lượng người Mỹ kí vào các thư kêu gọi giảm 30%, và
tham gia vào các cuộc tẩy chay hàng tiêu dùng giảm 40%. Điều đó cho
thấy sự suy giảm trong đời sống cộng đồng, các hoạt động của các câu lạc
bộ và các tổ chức tôn giáo cũng giảm đáng kể.
Các ràng buộc xã hội không chính thức: ví dụ vào năm 1975 trung bình
một người Mỹ mời bạn của mình về nhà chơi 15 lần một năm, con số đó
năm 1998 giảm xuống còn một nửa. Các hoạt động thể thao tập thể cũng
đang suy giảm.
Sự khoan dung và tin tưởng: mặc dù người Mỹ ngày càng khoan dung hơn
với người khác nhưng lại kém tin tưởng người khác hơn. Cơ hội nghề
nghiệp cho các ngành như cảnh sát, luật sư, và bảo vệ cá nhân đã giảm đi
trong thế kỉ 20. Ví dụ số lượng luật sư trên đầu người năm 1970 giảm so
với năm 1900.
Trong bestseller Bowling Alone của Robert Putnam, ông chiếu sáng sự suy giảm
của vốn xã hội ở Mỹ, tiết lộ như thế nào trong phần tư thế kỷ qua ―chúng tôi đã có
xu hướng tham gia các câu lạc bộ ít hơn, biết hàng xóm của chúng tôi ít hơn, đáp
tế học nước ngoài khuyên nên tìm cách nâng cao ưu thế cạnh tranh để đuổi kịp các
nươc tiên tiến trên thế giới. Chúng ta quên rằng cha ông chúng ta đã không dựa vào
cạnh tranh mà đã dựa vào hợp tác, vào tương trợ để phát triển; có chăng là cạnh
tranh với bên ngoài.
- Trước hết, nói về truyền thống kinh tế. Truyền thống này thể hiện trên các
thể chế kinh tế cổ truyền. Truyền thống quan trọng nhất trong nông nghiệp
nước ta là thể chế kinh tế gia đình hộ nông dân. Để bảo đảm công bằng xã
hội, xưa kia đã có thể chế ruộng công với các loại ruộng quả phụ, ruộng cô
13
nhi, ruộng học, ruộng trợ sưu, ruộng nghĩa, nhưng nay đã bị xoá bỏ và không
có gì thay thế. Ngoài ra còn có các thể chế mang tính tương trợ như giáp, vần
công, đổi công, phường, để liên kết những người cùng nghề và hội để liên
kết những người cùng sở thích, quỹ nghĩa thương... Ngoài ra còn có các hình
thức tín dụng tương trợ như phường liễm ngân do dân góp vốn lại để cho
vay, và nhiều hình thức chơi họ (góp tiền hàng tháng để luân phiên vay
những món lớn) nhằm các mục đích khác nhau như để làm vốn buôn bán,
việc hiếu (ma chay), việc hỉ (cưới xin), lấy tiền ăn tết...
- Ở nông thôn, nông dân thường lựa chọn cho mình một nghề nhất định với
một vài loại sản phẩm điển hình và được truyền từ đời này qua đời khác, trở
thành các làng nghề ―truyền thống‖. Sản phẩm của họ gắn với tên làng tên xã
như: gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), khảm trai Chương Mỹ, lụa Vạn Phúc (hà
Tây), gò đồng Đại Bái (Bắc Ninh), giấy dó Yên Thái (Hà Nội), Phong Khê
Bắc Ninh), đúc bạc Châu Khê (Hải Dương)... Hiện nay các làng nghề đang
thay đổi một cách năng động: các nghề truyền thống có đầu ra được giữ lại,
cải tiến, công nghệ thủ công dần dần được thay thế bằng công cụ cải tiến và
trang bị cơ khí, công nghệ hiện đại. Nhiều nơi đã hình thành nên các cụm
công nghiệp phát triển từ các làng nghề, thu hút cả hoạt động của nhiều làng
khác trong vùng. Mô hình cụm công nghiệp đã lan sang sản xuất nông
nghiệp, hình thành các cụm công nghiệp.
giữa họ hàng, bè bạn, thế là quan hệ do quà biếu, ân huệ, hội hè tạo nên, quyền là
quan hệ do quyền lực tạo nên và chế là quan hệ do thể chế quy định. Hai kiểu quan
hệ đầu là quan hệ của vốn xã hội.
Tuy vậy người Việt Nam không biết sử dụng vốn xã hội rất quý báu ấy vào sự phát
triển. Lấy thí dụ cụm công nghiệp gốm Bát Tràng đã phát triển nghề cho 6 xã trong
vùng, tạo việc làm cho nhiều xã khác xung quanh, nhưng không biết đoàn kết, hợp
tác với nhau để tìm đầu ra, cải tiến công nghệ và mặt hàng. Hiện nay cụm này đang
gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển vì không tìm cách làm ăn bền vững.
Các cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài không sử dụng được vốn xã hội để phát
triển việc kinh doanh có hiệu quả như các cộng đồng người Hoa. Ở Trung Quốc
15
hiện nay đang sử dụng hiệu ứng cụm công nghiệp để thúc đẩy sự phát triển công
nghiệp và nông nghiệp rất năng động. Ngoài các cụm công nghiệp truyền thống còn
có cả cụm công nghiệp trong các khu chế xuất và đầu tư nước ngoài lôi kéo cả các
vùng nông thôn xung quanh vào hoạt động công nghiệp và xuất khẩu theo hình thức
gia công. Chính nhờ hiệu ứng này mà hàng hoá Trung Quốc rẻ hơn ở nước ta. Cụm
công nghiệp đang trở thành một phương thức sản xuất mới sử dụng sự hợp tác giữa
các xí nghiệp vừa và nhỏ thay cho mô hình xí nghiệp lớn, với các công ty mẹ công
ty con, với các bộ máy quản lý cồng kềnh. Đó là mô hình tổ chức công nghiệp sau
Ford (Post Fordism).
Lý giải hiện tượng hai cộng đồng dân cư có tài sản như nhau, nguồn lực bằng nhau,
ở một mức xuất phát giống nhau nhưng một bên phát triển mạnh trở nên giàu có,
một bên lụi tàn đến chỗ nghèo đói, người ta bắt đầu viện đến khái niệm vốn xã hội.
Nếu có một thứ vốn như thế, tài sản vốn xã hội ở Việt Nam cao hay thấp, có đóng
góp gì cho quá trình phát triển đất nước?
Theo nguồn Tia sáng, số 8, 4/2006, tr 17, 18, vốn xã hội là những mạng lưới kết nối
con người lại với nhau, cùng nhau giải quyết các vấn đề chung. Một ngôi làng bị
bão tàn phá - nếu dân làng góp sức cùng nhau xây dựng lại nhà cửa thì kết quả sẽ
cao hơn nhiều lần so với khi từng người đơn độc tự làm lấy. Vốn xã hội ở đây
Cho dù những nhà nghiên cứu đang bất đồng về định nghĩa vốn xã hội sao cho trọn
vẹn và chính xác, có thể thấy đa số đồng ý ở điểm vốn xã hội chỉ xuất hiện khi các
cá nhân trong cộng đồng cùng chia sẻ một số chuẩn mực và giá trị làm cơ sở cho sự
hợp tác. Vì thế có lẽ một khía cạnh quan trọng trong nền văn hoá của một xã hội có
thể được dùng để đo lường mức vốn xã hội của cộng đồng. Đó là tính tập thể đối
chọi với tính cá nhân.
Chính Robert Putnam, tác giả cuốn Bowling Alone (2000) nổi tiếng về vốn xã hội
than phiền vốn xã hội nước Mỹ đang giảm thấp vì người Mỹ hiện đại sống mang
tính cá nhân hơn trước nhiều.
Thế nhưng, khái niệm tính tập thể thường không được hiểu đầy đủ. Chúng ta
thường gán cho tính tập thể những điều tốt đẹp, là sức mạnh của ―ba cây chụm lại‖
và chê bai tính cá nhân. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Tính tập thể đúng là mối
quan hệ chặt chẽ ở một xã hội nơi con người gắn kết với nhau, sống dựa vào nhau.
Và một khi đã dựa vào nhau như thế, cá nhân trong tập thể thường phải tôn trọng sự
17
đồng thuận, ít thích va chạm, không muốn đối đầu, không muốn làm người khác
mất mặt - một khái niệm rất quan trọng trong xã hội phương Đông.
Xét ở góc độ này người Việt Nam có tính tập thể cao. Nhưng điều đó chưa hẳn đưa
đến kết luận vốn xã hội ở Việt Nam cao. Nó rất cao trong khuôn khổ gia đình khi
cha mẹ có thể hy sinh tất cả cho việc học của con cái, trong bình diện cả nước khi
có chiến tranh, lúc đó cá nhân sẵn sàng hy sinh thân mình vì lợi ích chung của cả
đất nước. Nó cũng rất cao vì người dân Việt Nam rất tôn trọng tình làng nghĩa xóm,
sẵn sàng chia sẻ cho người gặp bất hạnh. Nhưng cũng như vốn tình chính, vốn xã
hội sinh ra không chỉ để phục vụ cho nó – nó phải có tác dụng lên sự thịnh vượng
của cộng đồng. Và ở đây, tính tập thể - nhìn ở góc cạnh tránh va chạm, muốn có
đồng thuận, có thể làm thui chột sự đột phá của cá nhân, có thể có tác dụng nhân
vốn xã hội lên gấp bội. Mạng lưới kết nối xã hội suy cho cùng là để nhằm thực hiện
một mục tiêu chung nào đó, nếu tất cả chỉ chú trọng đến xây dựng quan hệ hoà đồng
thì có nguy cơ quên mất mục tiêu ban đầu cho sự ra đời mạng lưới xã hội ấy. Hơn
Nguồn vốn xã hội Việt Nam, do đó, sẽ rất nhiều. Nếu không có nguồn vốn xã hội
giàu có làm căn bản cho sự sống còn và vươn lên của đất nước và con người Việt
Nam thì có lẽ nước Việt Nam đã bị đồng hóa hay biến mất giữa những thế lực xâm
lăng cường bạo đến từ mọi phía trong những nghìn năm qua. Nhưng nếu xin tạm
gác lại niềm tự hào dân tộc để nhìn vào thực tiễn cuộc sống của dân ta trong dòng
sinh mệnh của đất nước và trong bối cảnh lịch sử thế giới thì ta thấy được những gì?
Căn bản để tạo ra nguồn vốn xã hội là con người. Phẩm chất của con người Việt
Nam không thua sút bất cứ dân tộc nào trong cùng hoàn cảnh địa dư và lịch sử.
Trong những trường đại học Mỹ mà người viết bài nầy có dịp giảng dạy, sự thể hiện
rất rõ ràng là sinh viên Việt Nam, thuộc cả hai thế hệ trẻ từ quê nhà sang du học hay
sinh ra và lớn lên tại Mỹ đều không thua kém mảy may sinh viên của bất cứ nước
nào, nhất là đối với sinh viên châu Á như Nhật, Trung Quốc, Đại Hàn, Singapore…
Thế nhưng trong thực tế đất nước, về mặt chuyên môn và khả năng khai phá, sáng
tạo trong khoa học, kỹ thuật để tạo ra những sản phẩm kỹ nghệ hiện đại, chúng ta
vẫn còn bị giới hạn và tụt hậu so với họ? Vốn xã hội hiện nay của đất nước ta có đủ
phẩm chất và lượng dự trữ để đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị
trường hay không? Đấy vẫn còn là những vấn đề cần được nghiên cứu một cách
khách quan và khoa học mới có thể tìm ra câu trả lời thích đáng.
19
Tình trạng ―cô dâu‖ Việt Nam, tình trạng gái điếm gia tăng, tảo hôn, con số nhiễm
HIV, tỉ số phạm pháp gia tăng, con số tai nạn giao thông không giảm mà tăng, tham
nhũng hối lộ trở nên chuẩn tắc tương quan xã hội, đang làm đen vốn xã hội tại Việt
Nam, nếu không nói làm kiệt quệ. Xã hội Việt Nam hầu như mất đi vốn căn bản,
mặc dù đời sống vật chất của người dân đã được cải tiến so với những thập niên 70,
80, đó là sự hao hụt lòng tin vào đoàn thể, vào nhà nước (do những người đại diện
không đáng tin cậy). Sự an lạc cộng đồng thực sự trở nên bấp bênh.
1.3 Mối quan hệ giữa vốn xã hội và sự xuất hiện của Cửa hàng trung thực
Theo một vài nghiên cứu trên trang web thì có thể nói đôi
điều về vốn xã hội, các yếu tố tác động như sau, để từ đó tìm ra một phương hướng
mất dần thói quen tổ chức và hợp tác, dẫn tới sự sụp đổ của vốn xã hội.
Như ở phần trên, theo luật sư Nguyễn Ngọc Bích, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn:
từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải
chứng tỏ mình là người trung thực và giữ lời hứa; thứ hai là từ các tôn giáo hay hệ
thống luân lý và thứ ba là sự chia sẻ các kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những
hành vi mẫu mực một cách không chính thức và do đó cũng tạo nên vốn xã hội. Thu
gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi cá
nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với nhau để
làm một công việc chung nào đó.
Xã hội sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện
một mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi
sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã
hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền
trở nên hữu hiệu.
Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là
vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của
chính quyền trở nên hữu hiệu.
Vì vậy, theo luật sư, để đánh giá vốn xã hội là cao hay thấp thì cần dựa trên cơ sở
các mối tương quan trên, bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin.
Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác.
21
Tuy nhiên, hiện nay, có một bộ phận giới trẻ có những suy nghĩ thực dụng và cái
nhìn không mấy tích cực về lòng trung thực. Để đánh giá về vấn đề này, tiến sĩ tâm
lý Huỳnh Văn Sơn cùng với các cộng sự của mình đã tiến hành một cuộc khảo sát ở
1000 sinh viên và có kết quả như sau:
36% sinh viên cho biết làm việc theo lương tâm sẽ bị thua thiệt;
32% chấp nhận hành vi vô ơn;
41% bảo rằng không nhất thiết phải sống cao thượng;
28% có tư tưởng trả thù, báo oán;