Báo cáo "Nguyên tắc một quốc tịch trong thực tiễn lập pháp của Việt Nam và một số nước trên thế giới " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 3

nguyên tắc một quốc tịch
nguyên tắc một quốc tịch nguyên tắc một quốc tịch
nguyên tắc một quốc tịch trong thực tiễn lập pháp của
trong thực tiễn lập pháp củatrong thực tiễn lập pháp của
trong thực tiễn lập pháp của

Việt Nam và một số nớc trên thế giới
Việt Nam và một số nớc trên thế giớiViệt Nam và một số nớc trên thế giới
Việt Nam và một số nớc trên thế giới
ThS. Lê Mai Anh *
1. Quốc tịch là chế định quan trọng
trong cả hai hệ thống pháp luật quốc gia
và pháp luật quốc tế.
Trớc hết, quốc tịch ra đời và tồn tại
trong pháp luật quốc gia với ý nghĩa là
khái niệm chính trị - pháp lí, nó nói lên
mối quan hệ gắn bó, bền vững về mặt

ngời trong cộng đồng dân c sinh sống
trên lnh thổ quốc gia (công dân sở tại,
ngời nớc ngoài, ngời không quốc
tịch). Pháp luật của từng quốc gia khi quy
định về quốc tịch đều phải tính đến khả
năng tạo cơ chế phù hợp, bảo đảm cho sự
hợp tác quốc tế trong việc thực hiện các
quyền cơ bản của con ngời, trong việc
giải quyết các vấn đề dân c, điều kiện
khoảng cách về địa lí, lnh thổ đang đợc
rút ngắn lại bởi xu thế hợp tác của thời
đại. ý nghĩa to lớn đó thể hiện quốc tịch
là chế định quan trọng của pháp luật quốc
tế.
2. Tính hai mặt (đảm bảo lợi ích của
từng quốc gia và lợi ích của cộng đồng
các quốc gia) của quốc tịch có ảnh hởng
sâu sắc đến việc xác định các nguyên tắc
trong pháp luật quốc tịch. ở Việt Nam,
ngoài những nguyên tắc nh "nguyên tắc
quyền có quốc tịch", "nguyên tắc bình
đẳng trong việc hởng quốc tịch" thì
"nguyên tắc một quốc tịch" là nguyên tắc
thống nhất, xuyên suốt, mang tính định
hớng trong chỉ đạo, xây dựng và thực
hiện các quy định của pháp luật quốc tịch
Việt Nam. Giống nh pháp luật của nhiều
quốc gia, "nguyên tắc một quốc tịch" tồn
tại trong hệ thống văn bản pháp luật quốc
tịch của Việt Nam ngay từ ngày đầu

nào đó đ đợc sinh ra. Quyền có một
quốc tịch là quyền đợc quy thuộc về một
quốc gia, nó luôn đợc bảo đảm bằng hệ
thống chính sách pháp luật quốc gia và
các thỏa thuận pháp lí quốc tế, tạo thành
thể thống nhất của hai phạm trù quyền
con ngời và quyền công dân. Trong biên
độ của pháp luật quốc tế và pháp luật
quốc gia, các quyền tự nhiên của con
ngời và các quyền công dân của ngời
đó do pháp luật quy định để đợc thực
hiện phải phụ thuộc trớc hết vào yếu tố
quốc tịch. Nhìn chung, ở tất cả các quốc
gia, dù pháp luật quốc tịch có quy định
nguyên tắc một quốc tịch hay không thì
đa số cá nhân của mỗi nhóm ngời thuộc
cộng đồng dân c của từng quốc gia đều
có một quốc tịch nào đó.
Trái với thực tiễn nói trên, ở từng
quốc gia hiện nay, trờng hợp một ngời
ở vào tình trạng không quốc tịch hoặc
đồng thời có hai, thậm chí nhiều quốc
tịch là trạng thái pháp lí không bình
thờng. Ngời có hai (hay nhiều) quốc
tịch do nhiều lí do chủ quan, khách quan
mang lại, trong đó phần đáng kể là do sự
quy định khác nhau về cách thức hởng,
mất quốc tịch theo pháp luật của từng
nớc đ góp phần tạo ra thực trạng phức
tạp này. Vì vậy, "nguyên tắc một quốc

đợc quy định trong các điều luật cụ thể
nhng có thể thấy rằng "nguyên tắc một
quốc tịch" khó đạt đợc hiệu quả triệt để
trên thực tế, bởi nội dung các điều luật
quy định của pháp luật quốc tịch từng
quốc gia thờng tiềm ẩn trong nó nguyên nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 5

nhân của trạng thái hai quốc tịch của một
ngời, cụ thể:
Quốc tịch hiện có của một ngời có
thể là quốc tịch gốc hoặc quốc tịch do gia
nhập. Khi xác định quốc tịch gốc (quốc
tịch khi mới sinh ra), những đạo luật hiện
hành về quốc tịch của các nớc đa số áp
dụng nguyên tắc quyền huyết thống có
kết hợp nguyên tắc quyền nơi sinh.
Chẳng hạn, theo Điều 2, 3 Luật quốc
tịch Nhật Bản, trẻ em có quốc tịch Nhật
Bản do sinh ra trong các trờng hợp:
"- Cha hoặc mẹ có quốc tịch Nhật
Bản vào thời điểm đứa trẻ đợc sinh ra.
- Cha có quốc tịch Nhật Bản vào thời
điểm chết nếu ngời cha chết trớc khi
đứa trẻ sinh ra.
- Đứa trẻ sinh ra tại Nhật Bản mà
không rõ cha mẹ là ai hoặc mẹ là ngời

định quốc tịch gốc theo pháp luật quốc
tịch các nớc (kể cả Luật quốc tịch Việt
Nam 1998 ở các điều 16, 17, 18), việc áp
dụng nguyên tắc quyền huyết thống kết
hợp nguyên tắc quyền nơi sinh đều dễ
đa đến tình trạng trẻ em có thể là ngời
mang hai quốc tịch ngay từ khi sinh ra
(một là quốc tịch theo quốc tịch của cha
mẹ đẻ và một quốc tịch là của nớc nơi
áp dụng nguyên tắc quyền nơi sinh). Hai
quốc tịch trong trờng hợp này là nằm
ngoài ý chí chủ quan của đơng sự. Khắc
phục việc có thể có hai quốc tịch gốc từ
sự quy định kết hợp nguyên tắc quyền
huyết thống và nguyên tắc quyền nơi sinh
là khó làm đợc. Không dễ thay đổi lại
cách quy định căn cứ xác định quốc tịch
gốc. Và càng không thể có sự thống nhất
trong pháp luật quốc tịch của tất cả các
quốc gia chỉ theo nguyên tắc quyền huyết
thống hoặc nguyên tắc quyền nơi sinh khi
xét quốc tịch gốc cho một ngời. Đó là
cha kể trờng hợp thay vì đơng sự có
thể có hai quốc tịch, rất có thể đơng sự
lại rơi vào trạng thái không quốc tịch.
Về cơ bản, "nguyên tắc một quốc
tịch" tự nó không có ý nghĩa loại bỏ ngay
từ đầu hiện tợng ngời có hai quốc tịch.
Đối với những quốc gia có quy định trong
luật "nguyên tắc một quốc tịch" thì khi

"Điều 1: Mỗi nớc sẽ quy định bằng
luật ai là công dân của nớc mình ".
"Điều 5: Tại một nớc thứ ba, một
ngời có nhiều quốc tịch sẽ đợc coi nh
chỉ có một quốc tịch ".
Và "nớc thứ ba sẽ chỉ công nhận duy
nhất một quốc tịch trong số các quốc tịch
mà ngời đó có hoặc công nhận quốc tịch
của nớc mà ngời đó thờng trú và c
trú chủ yếu hoặc quốc tịch của nớc mà
lúc đó trên thực tế ngời đó có mối quan
hệ gắn bó nhất" (Điều 5 Công ớc La
Hay 1930).
Cũng cần phải thấy rằng, về phía cá
nhân ngời có hai quốc tịch, mặc dù có
khó khăn nhất định khi cùng một lúc phải
thực hiện nghĩa vụ công dân ở hai nớc
khác nhau (nghĩa vụ tài sản, thuế, nghĩa
vụ quân sự ) nhng thuận lợi do hai
quốc tịch mang lại cũng không phải nhỏ.
Cho nên, để đơng sự tự nguyện từ bỏ
hoặc lựa chọn lấy một trong số quốc tịch
đang có của mình là rất khó khăn. Chính
vì vậy, đối với cá nhân ngời có hai quốc
tịch, "nguyên tắc một quốc tịch" có ý
nghĩa là sự yêu cầu hoặc buộc đơng sự
phải lựa chọn quốc tịch theo quy định của
pháp luật khi xin gia nhập, xin thôi, xin
giữ quốc tịch. Nội dung những vấn đề yêu
cầu mà pháp luật từng nớc đặt ra cho

Điều 20: Những ngời thuộc một
trong các hạng kể sau đây đều là công
dân Việt Nam:
1. Cha là công dân Việt Nam.
2. Cha không rõ là ai hay không thuộc
quốc tịch nào mà mẹ là công dân Việt
Nam.
3. Đẻ ra trên lnh thổ nớc Việt Nam nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 7

mà cha mẹ không rõ là ai hay không
thuộc một quốc tịch nào".
Ngoài những đối tợng xác định theo
Điều 2 của Sắc lệnh đợc có quốc tịch
Việt Nam thì những ngời Việt Nam đ
có quốc tịch Pháp sẽ đợc coi là công dân
Việt Nam nếu họ khai bỏ quốc tịch Pháp.
Phụ nữ Việt Nam lấy chồng là ngời
nớc ngoài thì mất quốc tịch Việt Nam,
trừ khi lúc khai giá thú có xin đăng kí giữ
quốc tịch Việt Nam. Và đặc biệt, Sắc lệnh
quy định rõ công dân Việt Nam sẽ mất
quốc tịch Việt Nam nếu nhập quốc tịch
nớc ngoài (Điều 7).
Qua các điều 2, 7 của Sắc lệnh 53/SL
ngày 20/10/1945 thì xét về hình thức,
trong Sắc lệnh 53/SL, vấn đề "một quốc

thể hiện quan điểm một quốc tịch nhng
không triệt để. Ví dụ: Công dân Mĩ sẽ
mất quốc tịch Mĩ nếu gia nhập quốc tịch
nớc ngoài nhng công dân nớc ngoài
nhập quốc tịch Mĩ không phải từ bỏ quốc
tịch nớc ngoài (các điều 311, 312, 313
và 316 Luật nhập c và quốc tịch của
Hợp chủng quốc Hoa Kì). Nghiên cứu
nguyên tắc một quốc tịch trong Luật quốc
tịch Việt Nam 1998 ta thấy rõ là luật của
ta quy định theo xu hớng không hoàn
toàn triệt để.
Cụ thể:
- Công dân Việt Nam gia nhập quốc
tịch nớc ngoài, đ có quốc tịch nớc
ngoài, không đăng kí giữ quốc tịch Việt
Nam không đơng nhiên mất quốc tịch
Việt Nam. Nhng nếu là công dân nớc
ngoài muốn nhập quốc tịch Việt Nam
phải xin thôi quốc tịch nớc ngoài, trừ
trờng hợp do Chủ tịch nớc quyết định.
- Công dân Việt Nam đ có quốc tịch
nớc ngoài, mất quốc tịch Việt Nam, nếu
xin trở lại quốc tịch Việt Nam và đợc cơ
quan có thẩm quyền giải quyết cho trở lại
quốc tịch Việt Nam không bị mất quốc
tịch nớc ngoài.
- Đối với quốc tịch của trẻ em là công
dân Việt Nam đợc nhận làm con nuôi
ngời nớc ngoài hoặc trẻ em có quốc

hay hai quốc tịch là công việc nội bộ của
từng quốc gia xuất phát từ lợi ích quốc
gia và điều kiện cụ thể của mỗi nớc.
Hiểu và vận dụng đúng nội dung yêu cầu
của "nguyên tắc một quốc tịch" trong quy
định của Luật quốc tịch Việt Nam năm
1998 sẽ không hề làm ảnh hởng đến
pháp chế x hội chủ nghĩa, không làm
giảm đi hiệu lực thực thi của pháp luật
trong điều kiện quan hệ quốc tế và quan
hệ trong nớc của Việt Nam.
Mặt khác, khi xem xét nội dung cụ
thể pháp luật quốc tịch của nhiều quốc
gia ta cũng dễ nhận thấy một điều: Một
quốc tịch không phải là xu hớng mang
tính phổ biến. Vì khi quy định nguyên tắc
này phụ thuộc trớc hết vào từng quốc
gia, lại vừa khó đảm bảo trên thực tế hoàn
toàn có thể triệt tiêu đợc các nguyên
nhân nảy sinh tình trạng hai quốc tịch. Do
đó, theo chúng tôi, thực hiện tốt nhiệm vụ
của các cơ quan có liên quan trong việc
quản lí nhà nớc về quốc tịch, sử dụng
đúng và phù hợp quyền tài phán của nhà
nớc đối với các vấn đề về quốc tịch - dân
c sẽ thực tế hơn là đi sâu bàn bạc xem
cần phải hoàn thiện nguyên tắc một quốc
tịch theo hớng "một quốc tịch cứng" nh
thế nào. Ngoài ra, phơng pháp truyền
thống mà các quốc gia vẫn thờng sử

tác quản lí công dân Việt Nam cũng sẽ có
những bớc chuyển hớng mới.
Tóm lại, đặt vấn đề nghiên cứu
"nguyên tắc một quốc tịch" trong hoàn
cảnh cụ thể của Việt Nam theo hớng nêu
trên là một trong những phơng pháp tiếp
cận phù hợp với nguyên tắc này cả từ góc
độ lí luận lẫn góc độ thực tiễn./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status