1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ LUẬT
LỚP B2LK92DB BÀI TIỂU LUẬN LUẬT THƯƠNG MẠI II
CHỦ ĐỀ: HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI, ƯU
NHƯỢC ĐIỂM NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ CÁC TÌNH
HUỐNG TRANH CHẤP PHỔ BIẾN GVHD: TS. Lê Văn Hưng
NHÓM 5:
1/ Nguyễn Thị Quỳnh Anh
2/ Lưu Tấn Bảo
3/ Lê Thị Cẩm Hằng
4/ Lê Thị Hồng Thắm
5/ Hồ Thị Minh Thảo
6/ Phùng Nguyễn Thanh Xuân
7/ Lê Xuân An
8/ Bùi Đạt
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19 tháng 12 năm 2011
2
con số không, cũng có những người có vốn lớn họ mua lại cổ phần của nhiều
cổ đông trong công ty cổ phần hay mua lại phần vốn góp trong công ty trách
nhiệm hữu hạn và trở thành những ông chủ mới của các công ty đó để thực
hiện việc kinh doanh của mình… trong các con đường như vậy thì những
người bắt đầu tham gia kinh doanh có thể lựa chọn hình thức nhượng quyền
thương mại.
Hoạt động nhượng quyền thương mại đã có mặt ở Việt Nam được
khoảng 16 năm. Đây là một hoạt động thương mại tương đối phổ biến ở Việt
Nam với sự phát triển mạnh của một số thương hiệu trong lĩnh vực này như
các hệ thống cửa hàng như lottemart, gà rán Kentucky, phở 24 và cà phê
Trung Nguyên…đã làm cho hoạt động của loại hình kinh doanh này ở Việt
Nam ngày càng trở nên hấp dẩn.
Và hiện tại thì pháp luật cũng rất chú ý đến việc điều chỉnh trong lĩnh
vực này. Những quy định chính của pháp luật về hoạt động nhượng quyền
được quy định trong bộ luật thương mại 2005 trong phần chương VI một số
hoạt động nhượng quyền thương mại cụ thể khác từ điều 284 tới điều 291 và
trong nghị định 35/2006/NĐ-CP nghị định chính phủ về hoạt động nhượng
quyền thương mại.
Bài nghiên cứu này của nhóm về hoạt động nhượng quyền thương mại
mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu thế nào là hoạt động nhượng quyền thương
mại, quyền nghĩa vụ của các bên tham gia hoạt động nhượng quyền thương
mại và mục đích cuối cùng cũng quan trọng nhất đó là nhóm nghiên cứu
mong các bạn sẽ nắm được những điều cơ bản trong hoạt động nhượng quyền
thương mại cần có là gì.
Tuy nhóm đã nghiên cứu nhiều để hoàn thành bài nghiên cứu này nhưng
bài nghiên cứu cũng không thể tránh khỏi những sai xót, mong nhận được góp
ý của Thầy và các bạn. Nhóm 5 xin cảm ơn.
Điều kiện với bên nhượng quyền thương mại: theo điều 5 nghị định
35/2006/NĐ-CP thương nhân nhượng quyền thương mại phải thỏa mản 3 diều
kiện sau đây:
Thứ nhất là Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã
được hoạt động ít nhất 01 năm.
Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên
nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo
phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 năm ở Việt Nam trước khi
tiến hành cấp lại quyền thương mại.
Thứ hai là Đã đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại với cơ quan
có thẩm quyền theo quy định Nghị định này.
Thứ ba là Hàng hoá, dịch vụ kinh doanh thuộc đối tượng của quyền
thương mại không vi phạm quy định của Nghị định này.
Bên nhận nhượng quyền: là thương nhân được nhận quyền thương
mại, bao gồm cả Bên nhận quyền thứ cấp trong mối quan hệ với Bên nhượng
quyền thứ cấp.
5
Bên nhận quyền sơ cấp là thương nhân nhận quyền thương mại từ Bên
nhượng quyền ban đầu. Bên nhận quyền sơ cấp là Bên nhượng quyền thứ cấp
trong mối quan hệ với Bên nhận quyền thứ cấp.
Bên nhận quyền thứ cấp là thương nhân nhận lại quyền thương mại từ
Bên nhượng quyền thứ cấp.
Điều kiện của bên nhận quyền là bên nhận quyền phải là thương nhân.
3. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia nhượng quyền thương mại:
Đối với bên nhượng quyền có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại
Điều 286 và Điều 287 LTM 2005. Bao gồm:
Về quyền: Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng
quyền có các quyền sau đây:
Nhận tiền nhượng quyền;
Trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợp đồng
nhượng quyền thương mại;
Đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếp nhận các
quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao;
Chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền;
tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ
của thương nhân nhượng quyền;
Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi
hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc chấm dứt;
Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh
doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc
hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng
quyền thương mại;
Điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thương mại;
Không được nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấp thuận
của bên nhượng quyền.
II. Hoạt động nhượng quyền thương mại:
1. Hợp đồng nhượng quyền thương mại
a. Những quy định chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại:
Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại phải là văn bản hoặc
hình thức có giá trị tương đương.
Ngôn ngữ được sử dụng trong hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
là tiếng việt trừ trường hợp nhượng quyền từ trong nước ra nước ngoài thì
ngôn ngữ được sử dụng trong hợp đồng do các bên tự thỏa thuận.
Thời hạn của hợp đồng nhượng quyền thương mại do các bên tự thỏa
thuận. Tuy nhiên hợp đồng nhượng quyền có thể kết thúc trước hạn trong các
trường hợp sau:
Bên nhận quyền không còn Giấy phép kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị
tương đương mà theo quy định của pháp luật Bên nhận quyền phải có để tiến
hành công việc kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại.
quyền khu vực.
Thời hạn của hợp đồng nhượng quyền: Điều khoản này quy định thời
gian mà bên nhận quyền được quyền sử dụng các quyền thương mại.
Phí sử dụng các quyền thương mại và tổng đầu tư được định trước:
Những nhà nhận quyền phải trả một khoản phí ban đầu cho việc sử dụng các
quyền thương mại được nhượng lại và việc điều hành hệ thống, đồng thời dự
tính mức đầu tư bên nhượng quyền phải đầu tư cho mỗi địa điểm thực hiện
việc kinh doanh.
Thương hiệu, các sáng chế, cách thức sử dụng
Điều này quy định cách thức mà bên nhượng quyền sẽ sử dụng thương
hiệu và các sáng chế được bên nhượng quyền nhượng lại quyền sử dụng.
8
Quyền lợi và các khoản phí khác bên nhận quyền phải trả: Hầu hết
bên nhượng quyền yêu cầu bên nhận quyền phải trả phí để có quyền sử dụng
thương hiệu và các quyền khác thông thường từ 4 – 8% tổng doanh thu mỗi
tháng.
Quảng cáo
Nhà nhượng quyền sẽ thực hiện việc quảng cáo cho cả hệ thống và yêu
cầu bên nhận quyền đóng góp một vào chi phí quảng cáo chung
Phương thức vận hành
Quy định rõ phương thức mà bên nhận quyền sử dụng để vận hành việc
kinh doanh của mình
Tiếp tục, chấm dứt, hủy bỏ
Những điều khoản này quy định điều kiện để các quyền thương mại
được chuyển quyền sử dụng trong hợp đồng được tiếp tục thực hiện hay chấm
dứt hoặc hủy bỏ. Một số nhà nhượng quyền quy định trọng tài giải quyết các
vấn đề này, các nhà nhận quyền phải sử dụng các quyền thương mại được
chuyển nhượng theo cách thức mà bên nhượng quyền cho phép nếu không
một trọng tài sẽ xem xét việc này thay vì đưa nhau ra tòa.
trong khi đó bên nhận quyền lại mong muốn hạn chế thậm chí là trốn tránh
khỏi sự kiểm soát để có thể có nhiều sự độc lập hơn trong công việc kinh
doanh và tạo ra bản sắc riêng cho mình.
Nếu sự kiểm soát càng chặt chẽ thì nó trở thành gánh nặng cho bên nhận
quyền và kết quả là bên nhận quyền lại càng muốn tránh được càng nhiều
càng tốt. Kể cả với một bên nhận quyền thiếu kinh nghiệm lúc ban đầu thì khi
đã vững vàng hơn không ít người cũng cảm thấy những sự kiểm soát, ban đầu
là cần thiết, nay trở thành những rào cản cho việc phát triển các cơ hội kinh
doanh của anh ta. Mâu thuẫn phát sinh có thể dẫn tới những thiệt hại cho công
việc kinh doanh của cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền, đó là một điều
không mong muốn từ các bên song họ lại không nhận thức được.
Để giải quyết mâu thuẫn này, hay nói đúng hơn là ngăn chặn mâu thuẫn xảy
ra, pháp luật về nhượng quyền thương mại ở các nước có phát triển loại hình
kinh doanh này thường quy định bên nhượng quyền phải cung cấp cho bên
nhận quyền bản sao hợp đồng nhượng quyền và bản giới thiệu về nhượng
quyền thương mại của mình cho bên nhận quyền trong một thời hạn nhất định
trước khi hai bên ký kết hợp đồng nhượng quyền.Trong thời hạn đó bên nhận
quyền được khuyên nên đọc kỹ các văn bản được cung cấp, xin ý kiến các
luật sư chuyên về lĩnh vực nhượng quyền thương mại và có những tính toán
cần thiết và đầy đủ về các vấn đề trong hợp đồng, trong đó có vấn đề họ có
thể chấp nhận được sự kiểm soát được áp dụng cho mình hay không. Việc
được cung cấp trước và nghiên cứu trước các điều khoản về hợp đồng nhượng
quyền có ý nghĩa quan trọng với bên nhận quyền tiềm năng trong việc ra
quyết định có đầu tư vào việc kinh doanh nhượng quyền này hay không. Bởi
vậy luật pháp cũng quy định buộc bên nhượng quyền phải cung cấp chính xác
và đầy đủ hợp đồng nhượng quyền và các thông tin về bên nhượng quyền, sự
vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin này sẽ dẫn tới trách nhiệm pháp lý cho
bên nhượng quyền làm sai nếu bên nhận quyền khởi kiện và bên nhượng
quyền không chứng minh được việc thực hiện đúng nghĩa vụ công bố thông
tin.
kinh doanh, và các quyền phân phối của công ty đó. Thông thường khoản phí
này dựa trên giá trị của khu
vực đất đai
hay khu vực buôn bán của người
mua nhượng
quyền thương
mại, nên thị trường của bên nhận quyền càng
lớn thì
khoản
phí mà bên nhận quyền phải trả cũng càng
lớn.
Khoản phí trả trước này có thể nằm ngoài những chi phí
khởi
sự khác
mà bên nhận quyền sẽ phải chịu. Phí nhượng quyền thương mại ban đầu
có thể bao gồm hoặc không bao gồm các
chi
phí khác như chi phí đào tạo;
chi phí khuyến mãi khai trương;
kho
hàng; chi phí xây cất (một số bên
nhượng quyền đòi hỏi
không
gian
bán hàng của bên nhận quyền phải có
những yếu tố kiến
trúc
riêng); chi phí cho các trang thiết bị đồ đạc cố định
(bên
và dịch vụ
phải
mua từ công
ty.
Thông thường những người mua nhượng quyền thương mạ
i
đều phải
trả một phần chi phí cho việc quảng cáo và khuyến
mãi
mà bên nhượng
quyền thực hiện trên phạm vi
địa
phương, khu vực hay toàn quốc. Chi phí
này thường được gộp vào một quỹ quảng cáo tập thể sẽ có lợi cho tất cả
những doanh nghiệp mua nhượng quyền thương mại đó bởi thương hiệu
kinh
doanh của họ sẽ được biết nhiều
hơn.
Ngoài các chi phí, bên nhận quyền thường còn phải đầu
tư
một
khoản
tiền khá lớn vào cửa hàng, cửa hiệu của mình. Các
chi
phí đó bao gồm chi
phí đào tạo, mua sắm hay thuê địa điểm,
máy
móc, bàn ghế hay các vật
nào vào kinh doanh cũng ñược. Bên nhượng
quyền có quyền
xem
xét độ tin cậy, khả năng tài chính, tay nghề của bên
nhận
quyền
trước khi nhận. Nếu không, mọi thiệt hai do bên nhận quyền
gây
ra sẽ ảnh hưởng đến uy tín của tòan bộ hệ thống nhượng
quyền
5. Đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mại
Hoạt động nhượng quyền thương mại, bao gồm việc ký kết, g
ia
hạn,
chuyển nhượng hoặc bổ sung hợp đồng nhượng quyền thương mại phải
được đăng ký tại Sở Thương mại nơi bên
nhận
quyền có trụ sở. Bộ
Thương mại thực hiện đăng ký đối với
hai
trường hợp sau: (i) nhượng
quyền thương mại từ nước ngoài
vào
Việt Nam và (ii) nhượng quyền
thương mại từ Việt Nam ra
nước
ngoài. Hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động
nhượng quyền thương
mại
bao
+
Giấy tờ chứng minh sự chấp thuận về việc cho
phép
nhượng quyền
lại của bên nhượng quyền ban đầu
trong
trường hợp thương nhân
đăng ký hoạt động nhượng quyền là bên nhượng quyền thứ
cấp.
Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ hợp lệ
cơ
quan
đăng ký có trách nhiệm phải đ ăng ký hoặc ra quyết đ
ịnh
từ
chối và thông
báo bằng văn bản cho người nộp đơn. Các
thông
tin về tình hình đ ăng ký
hoạt động nhượng quyền thương mại
sẽ
được đăng lên website của Bộ
Thương mạ
i.
12
Hồ sơ đề nghị đăng ký hoạt động nhượng quyền thương mạ
i
phải
b. Đối với bên nhận quyền
- Kinh doanh một thương hiệu có uy tín với số vốn đầu tư nhỏ
- Giảm thiểu các rủi ro do không phải đầu tư xây dựng một thương hiệu mới.
- Sản phẩm, dịch vụ và hệ thống họat động được chuẩn hóa.
- Hệ thống tài chính và số sách kế toán được thực hiện theo một chuẩn mực.
- Được đào tạo, huấn luyện về quản lý và kinh doanh.
- Hỗ trợ từ các chương trình tiếp thị và khuyến mãi của thương hiệu.
- Quảng cáo tại nơi bán hàng.
- Các họat động hỗ trợ trọn gói, thống nhất
13
- Có phương pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm đồng bộ.
2. Nhược điểm
a. Đối với bên nhượng quyền
- Mất quyền kiểm soát và quyền năng trong kinh doanh.
- Sự tranh chấp của các cơ sở kinh doanh.
- Thiên vị cho một bên nhận nhượng quyền nào đó.
- Hoạt động không kém của một đơn vị sẽ ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu…
b. Đối với bên nhận quyền
- Không phải là thương hiệu riêng của mình.
- Chia sẽ rủi ro kinh doanh của bên nhượng quyền.
- Sự bùng nỗ của các đối thủ cạnh tranh trong cùng hệ thống.
- Hoạt động kinh doanh theo khuôn khổ được qui định trước.
- Không phát huy được khả năng sáng tạo trong kinh doanh.
- Giúp thương hiệu của bên nhượng quyền ngày càng lớn mạnh…
3. Những khó khăn của các nhà nhượng quyền do sự thiếu hoàn chỉnh
của pháp luật về nhượng quyền thương mại
Nếu nhìn qua một mục của Luật Thương mại [Mục 8, Chương VI, 1],
một nghị định và một thông tư về hoạt động nhượng quyền thương mại của
Việt Nam thì ta thấy dường như các nhà xây dựng luật Việt Nam vẫn chưa có
đó bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền luôn gắn
liền với hoạt động kiểm soát này. Bởi vậy sẽ là một trở ngại để giải quyết
những tranh chấp phát sinh từ hoạt động nhượng quyền thương mại có liên
quan tới việc thiết lập và thực thi cơ chế kiểm soát của bên nhượng quyền với
công việc kinh doanh của bên nhận quyền.
Trong thời gian gần đây, các nhà nhượng quyền thương mại nước ngoài
đang bành trướng hệ thống và thương hiệu của nình tại thị trường Việt Nam,
từ các đại gia trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống như KFC, Lotteria, Gloria Jean
Café (Coffee Bean & Tea Leaf, Bread Talk, Pizza Hut, Luis Vuitton,
Gucci)… cho đến các nhà nhượng quyền trong lĩnh vực bất động sản quốc tế
như Sotheby’s International Realty Affiliates, Inc. (hay Coldwell Banker Real
Estate Corporation), nhiều chuyên gia kinh tế cũng đã dự báo một xu thế
nhượng quyền thương mại mạnh mẽ trong tương lai của các nhà nhượng
quyền quốc tế và Việt Nam trong mọi lĩnh vực, kể cả tài chính kế toán. Khó
khăn chung cho các nhà nhượng quyền Việt Nam sẽ là sự thiếu kinh nghiệm
hơn so với các nhà nhượng quyền nước ngoài và như vậy họ cũng sẽ gặp khó
khăn khi cạnh tranh với các nhà nhượng quyền nước ngoài do thua kém về
chất lượng hàng hoá dịch vụ và khả năng kiểm soát với hệ thống nhượng
quyền và các bên nhận quyền. Nguyên nhân một phần do pháp luật về nhượng
quyền thương mại của chúng ta còn thiếu quá nhiều những quy định cần thiết
để tạo điều kiện cho các nhà nhượng quyền trong nước nhượng quyền thành
công và bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ dùng trong kinh doanh và giúp họ
tiếp cận gần hơn với hoạt động nhượng quyền quốc tế.
15
IV. KẾT LUẬN
Với những dự đoán khả quan về sự phát triển của hoạt động nhượng
quyền thương mại trong tương lai, chúng ta cần có những nhận thức đầy đủ
về nó, đặc biệt trong vấn đề kiểm soát của bên nhượng quyền đối với công
việc kinh doanh của bên nhận quyền. Trong hệ thống nhượng quyền thương
với nhau, pháp luật về hoạt động kiểm soát có tính khả thi và hỗ trợ được cho
hoạt động nhượng quyền.
V. Tình huống tranh chấp
16
Tình huống Tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa ông Đoàn
Minh Phúc và DNTN Ba Huân:
Căn cứ vào hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa ông Đòan
Minh Phúc và DNTN Ba Huân do bà Phạm Thị Huân làm chủ (bà Phạm Thị
Kim Anh đại diện ký hợp đồng) và lời khai nhận của các bên đương sự tại
phiên tòa thì ông Đòan Minh Phúc có chuyển giao công nghệ chế biến trứng
vịt bắc thảo cho DNTN Ba Huân với giá thỏa thuận là 40.000.000 đồng, ông
Phúc đã nhận ứng trước 5.000.000 đồng
Lẽ ra, sau khi được chuyển giao công nghệ, nếu có khiếu nại về chất lượng
sản phẩm thử nghiệm (nghĩa là khiếu nại về hiệu quả của công nghệ) thì
DNTN Ba Huân phải có trách nhiệm lưu giữ kết quả thử nghiệm để nhờ cơ
quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu
giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả
thử nghiệm mà không có lý do chính đáng.
Do đó, khiếu nại của DNTN Ba Huân cho rằng kết quả thử nghiệm không đạt
là không có cơ sở để được chấp nhận.
Bản án số : 1929/2007/KDTM-ST Ngày : 16/10/2007
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trong các ngày 11 và 16 tháng 10 năm 2007, tại phòng xử án của Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số
337/2007/TLST-KDTM ngày 25 tháng 5 năm 2007 về tranh chấp hợp đồng
chuyển giao công nghệ theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
1806/2007/QĐST-KDTM ngày 03 tháng 10 năm 2007 giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Ông ĐÒAN MINH PHÚC
Địa chỉ : 165 đường Lò Hột, Phường 5, TX. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (Có mặt)
- Ý kiến của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị đơn :
+ Các bên đã cùng kiểm tra kết quả thử nghiệm, kết quả không đạt (so với
thành phẩm của một cơ sở khác).
+ Lẽ ra, DNTN Ba Huân có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước (5.000.000
đồng) nhưng vì thiện chí, DNTN Ba Huân không yêu cầu ông Phúc phải trả
lại.
+ Hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa hai bên có thể bị vô hiệu vì ông
Phúc có thể đã sử dụng công nghệ thuộc quyền sở hữu của người khác mà
không được phép. Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì ông Phúc cũng không có
quyền đòi thanh tóan số tiền còn lại của hợp đồng.
18
+ Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định :
1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án :
Đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại (chuyển giao công nghệ) giữa
các cá nhân đều có mục đích lợi nhuận, bị đơn có địa chỉ kinh doanh và cư trú
tại TPHCM. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2, Điều 29, khỏan 1 Điều 34, khoản 1
Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; vụ tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân TPHCM theo thủ tục tố tụng dân sự.
2. Về thời hiệu khởi kiện :
Ngày 22/3/2007, các bên ký hợp đồng. Đầu tháng 5/2007, phát sinh tranh
chấp. Ngày 04/5/2007, nguyên đơn đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án.
Căn cứ vào điểm a, khoản 3, Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn đã
làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án trong thời hạn quy định (2 năm kể từ
ngày quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm), do đó, cần
được chấp nhận thụ lý để giải quyết.
dịch cúm gia cầm và ô nhiễm môi trường là không có cơ sở vì trứng nguyên
liệu do chính DNTN Ba Huân cung cấp, phải bảo đảm không nhiễm vi rút
trước khi đưa vào thử nghiệm,và việc ô nhiễm môi trường phải có cơ quan y
tế xác nhận mới có cơ sở). Trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án cũng như tại
phiên tòa hôm nay, các bên đương sự không yêu cầu Tòa án trưng cầu giám
định công nghệ đã được chuyển giao theo hợp đồng.
Do đó, khiếu nại của DNTN Ba Huân cho rằng kết quả thử nghiệm không đạt
là không có cơ sở để được chấp nhận. Yêu cầu của ông Đòan Minh Phúc phù
hợp với quy định của pháp luật tại các điều 292 và 297 Luật thương mại năm
2005; Điều 412 Bộ luật dân sự năm 2005, nên có cơ sở để được chấp nhận
4. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự và các điều 15, 18 và 19
Nghị định số 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ về án phí, lệ phí Tòa án :
- Chủ DNTN Ba Huân phải chịu án phí sơ thẩmtrên số tiền phải trả cho ông
Đòan Minh Phúc.
- Ông Đòan Minh Phúc không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ số
tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 292 và 297 Luật thương mại năm 2005; Điều 412 Bộ luật
dân sự năm 2005; Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự;
20
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị Huân
- Chủ DNTN Ba Huân, phải thanh tóan cho ông Đòan Minh Phúc số tiền còn
nợ của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 giữa hai bên là
35.000.000 đ (ba mươi lăm triệu đồng).
2. Về án phí :
- Bà Phạm Thị Huân phải chịu án phí sơ thẩm là 1.750.000 đ ( một triệu bảy
trăm năm chục ngàn đồng).
quan chuyên môn giám định hoặc khởi kiện ra Tòa án để Tòa án trưng cầu
giám định nhưng DNTN Ba Huân lại đơn phương tiêu hủy tòan bộ kết quả
thử nghiệm mà không có lý do chính đáng (DNTN Ba Huân cho rằng do lo sợ
dịch cúm gia cầm và ô nhiễm môi trường là không có cơ sở vì trứng nguyên
liệu do chính DNTN Ba Huân cung cấp, phải bảo đảm không nhiễm vi rút
trước khi đưa vào thử nghiệm,và việc ô nhiễm môi trường phải có cơ quan y
tế xác nhận mới có cơ sở).
Nguyên đơn : Yêu cầu Chủ DNTN Ba Huân phải thanh tóan số tiền còn nợ
của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày 22/3/2007 là 35.000.000 đồng.
Bị đơn : Không đồng ý thanh tóan tiếp cho nguyên đơn số tiền còn lại của
hợp đồng là 35.000.000 đồng vì kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu.
Quyết định của Tòa án:
Áp dụng các điều 292 và 297 Luật thương mại năm 2005; Điều 412 Bộ luật
dân sự năm 2005; Điều 79 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Thị
Huân - Chủ DNTN Ba Huân, phải thanh tóan cho ông Đòan Minh
Phúc số tiền còn nợ của hợp đồng chuyển giao công nghệ ngày
22/3/2007 giữa hai bên là 35.000.000 đ (ba mươi lăm triệu đồng).