Kiểm định các nhân tố tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào Việt Nam, khuyến nghị giải pháp cho giai đoạn 2012 - 2020 - Pdf 12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

====0==== CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ NĂM 2012”

TÊN CÔNG TRÌNH:

KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀO VIỆT NAM, KHUYẾN NGHỊ GIẢI PHÁP

2.1.3 FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa -
hiện đại hóa 11
2.1.4 FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực 12
2.1.5 FDI tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩ mô 13
2.2 Diễn biến thu hút FDI tại Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2012 13
ii

2.2.1 Những cải cách về chính sách đầu tư 13
2.2.2 Các giai đoạn thu hút FDI 15
2.3 Một số đặc điểm FDI tại Việt Nam 18
2.3.1 Qui mô vốn trên một dự án 18
2.3.2 Hình thức sở hữu các dự án FDI 19
2.3.3 Cơ cấu đầu tư theo ngành 21
2.3.4 Các địa bàn thu hút đầu tư 22
2.3.5 Đối tác đầu tư FDI vào Việt Nam 23
CHƯƠNG 3: KIỂM ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DÒNG VỐN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI FDI VÀO VIỆT NAM 24
3.1 Một số mô hình được đề nghị 24
3.1.1 Mô hình thực nghiệm (the Empirical model) 24
3.1.2 Mô hình trọng lực (the Gravity model) 25
3.1.3 Mô hình bảng trọng lực (the Panel Gravity model) 27
3.1.3.1 Mô hình Panel Gravity với chuỗi biến Corruption 27
3.1.3.2 Mô hình Panel Gravity với chuỗi biến EF 28
3.2 Lựa chọn mô hình cho Việt Nam 31
3.2.1 Cơ sở của mô hình Empirical 31
3.2.2 Các lý thuyết chứng minh sự cần thiết của các biến trong mô hình
Empirical 35
3.2.3 Mô hình Empirical và biến số 38
3.3 Vận dụng mô hình Empirical đối với Việt Nam 42
3.3.1 Dữ liệu và kết quả chạy mô hình 42

4.2.2.12 Nhóm giải pháp về người lao động 69
iv

4.2.2.13 Nhóm giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ 70
4.2.2.14 Nhóm giải pháp khác 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phục lục 1: Đầu tư trực tiếp nước ngoài phân theo khu vực
Phụ lục 2: Các quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam
Phụ lục 3: Số liệu, kết quả và các kiểm định của mô hình Empirical

v DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Đóng góp FDI trong GDP qua một số năm 10
Hình 2.2: Sự gia tăng vốn FDI vào một số ngành công nghiệp 11
Hình 2.3: Biểu đồ thị trường lao động khu vực FDI 12
Hình 2.4: Số dự án FDI qua các năm 17
Hình 2.5: Số vốn FDI đăng ký 17
Hình 2.6: Số vốn FDI thực hiện 18
Hình 2.7: Qui mô vốn trên một dự án 18
Hình 3.1: Giá nhiên liệu thực tế và dự kiến của thế giới 44
Hình 3.2: Đầu tư thế giới trong thăm dò và khai thác dầu 45
vi

DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Đóng góp của FDI vào cán cân thanh toán 13
Bảng 2.2: Những nét thay đổi chính trong các lần thay đổi luật đầu tư nước
ngoài 14
Bảng 2.3: Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tài Việt Nam 19

WBES
World Business Environment
Survey
Khảo sát môi trường kinh doanh thế
giới
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ĐTNN Đầu tư nước ngoài viii

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là động lực quan trọng cho sự phát triển kinh
tế xã hội của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Hơn 20 năm đổi mới
và phát triển, nước ta đã và đang thu hút rất nhiều nguồn đầu tư nước ngoài. Năm
2010, các nhà đầu tư nước ngoài đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam 18,59 tỷ USD,
ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 11 tỷ USD
1
. Tuy
vậy, một thực trạng đáng quan tâm là lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
đã giảm mạnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2010. Cụ thể, năm 2008,
tổng vốn đăng ký đầu tư cao kỷ lục là 71.7 tỷ USD, tổng số vốn thực hiện là 11.5 tỷ
USD
2
. Tính chung, năm 2010, tổng vốn đầu tư đăng ký chỉ bằng 25.9% và tổng
vốn thực hiện bằng 95.7% so với năm 2008. Sau khủng hoảng, kinh tế thế giới dự
báo sẽ có nhiều biến động bất thường, dòng vốn đầu tư trên thế giới cũng bất ổn
theo xu hướng chung đó. Hiểu được các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI và làm
thế nào để nước ta có thể giữ vững và tăng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước nước

- Kiểm định các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI vào Việt Nam bằng mô hình
thực nghiệm (the Empirical model), qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố vào dòng vốn FDI.
- Từ kết quả kiểm định, đưa ra các khuyến nghị trong thực hiện chính sách nhằm
gia tăng thu hút FDI trong giai đoạn tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu các phương pháp định tính, định lượng, thống kê,
so sánh, và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu. Đối với nghiên
cứu định lượng được sử dụng trong nghiên cứu này, chúng tôi kiểm định bẳng mô
hình Empirical nhằm làm rõ mức độ tác động của các biến số kinh tế lên FDI.
5. Nội dung nghiên cứu
- Chương 1: Giới thiệu và lược khảo các nghiên cứu trong lịch sử
- Chương 2: Tình hình thu hút FDI và vai trò của FDI đối với nền kinh tế của Việt
Nam
x

- Chương 3: Kiểm định các nhân tố tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào FDI vào Việt Nam
- Chương 4: Định hướng thu hút và quản lý nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho giai
đoạn 2012-2020
6. Ý nghĩa nghiên cứu công trình
Về lý luận đề tài này giúp cho chúng ta có một cái nhìn sâu hơn về dòng vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài thông qua những lược khảo và phân tích về các nghiên cứu
FDI trước đây. Bên cạnh đó, dựa trên mô hình Empirical đã được áp dụng khá
thành công tại nhiều nước (đặc biệt là nhóm các nước chuyền tiếp-transition
countries), đề tài này đánh giá định lượng được các biến kinh tế tác động trực tiếp
đến dòng vốn FDI vào Việt Nam trong giai đoạn 1990-2010. Bên cạnh đó, các mô
hình kiểm định được giới thiệu trong bài nghiên cứu này có thể được sử dụng để
kiểm định đồng thời về FDI và kiểm định cho các vấn đề kinh tế khác như, cán cân
thương mại, GDP, v.v Về mặt thực tiễn, đề tài này đã đóng góp một công cụ định

bằng thực nghiệm rằng dòng vốn FDI định hướng đáng kể lên xuât khẩu của những
nước đó. Bilsen và Maldegem (1999), bằng cách sử dụng dữ liệu từ 450 tập đoàn ở
Nga và Ukraine, cũng đã nhận thấy sự chuyên môn hóa trong xuất khẩu của những
doanh nghiệp có dòng vốn FDI. Sharma (2000) đã sử dụng dữ liệu dòng lưu
chuyển FDI hàng năm trong giai đoạn từ 1970 đến 1998 ở nền kinh tế Ấn Độ để
điều tra liệu những dòng lưu chuyển này có liên quan đến xuất khẩu của một nước
đó trong cùng một khoảng thời gian hay không. Các kết luận đưa ra nhiều mối quan
hệ không đáng kể mặc dù rất tích cực.
Trong bối cảnh sự tương đồng trong việc định hướng, những sự ưu đãi trong khu
vực dòng vốn FDI cũng rất quan trọng và gần đây đang trở thành một xu hướng
toàn cầu của những tập đoàn đa quốc gia hướng đến lĩnh vực dịch vụ đang được
chú ý (UNCTAD 2003), cái mà đã được tiếp nhận giữa những quốc gia phát triển
và những quốc gia đang có tốc độ phát triển rất nhanh. Những ngành công nghiệp
dịch vụ thường bị bỏ quên trong chế độ thị trường kế hoạch hóa tập trung, nơi mà
đã nhấn mạnh sản xuất là yếu tố chính đối với sự phát triển của nền kinh tế, trong
khi việc phân loại khu vực thứ ba (tertiary sector) không hiệu quả (Eschenbach và
Hoekman 2006). Dịch vụ cấp thấp đã phản ánh qua hiện tượng thắt cổ chai trong
2

lưu thông, chất lượng viễn thông nghèo nàn, thiếu trung gian tài chính và sự thiếu
hụt trầm trọng trong việc làm ở khu vực dịch vụ hơn so với những nước nằm trong
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD countries). Nhiều dịch vụ trọng yếu
ngày nay vào thời đó đơn giản là không tồn tại, chẳng hạn như thiết kế, quảng cáo,
đóng gói, phân phối, hậu cần, quản lý, dịch vụ sau bán hàng, vv … Do điều kiện tự
nhiên ban đầu của một thị trường cụ thể, người ta dự kiến rằng dòng vốn FDI có thể
sẽ tác động tích cực trong các lĩnh vực đặc thù này.
Nhờ có được hiệu quả và tương tác trong kinh doanh, mối quan tâm chính ở đây là
liệu những công ty có nguồn vốn từ FDI có thực hiện tốt hơn so với các công ty
trong nước hay không, và liệu những hiểu biết hiện nay có cung cấp đúng nhận
thức về điều này hay không. Yasar và Morrison (2007) đã sử dụng dữ liệu từ

vốn đầu tư nước ngoài FDI. Campos và Giovannoni (2007) cũng đã sử dụng dữ liệu
BEEPS 1999 để nghiên cứu những yếu tố quyết định vận động hành lang và mối
liên quan giữa việc vận động hành lang đối với sự tham nhũng đang diễn ra tại
những thị trường đang quá độ. Các tác giả đã tìm thấy một mối liên hệ đáng kể
tương tự như thế giữa những công ty nước ngoài và việc vận động hành lang. Kết
quả của họ đã chỉ ra rằng vận động hành lang có liên quan đến quy mô doanh
nghiệp và sự ổn định chính trị, trong khi đó việc vận động hành lang và tham nhũng
ở những nước sở tại là hai vấn đề hoàn toàn thay thế lẫn nhau. Cuối cùng, họ cũng
đã chỉ ra được là việc vận động hành lang là một công cụ thực sự hiệu quả hơn rất
nhiều so với tham nhũng lên những tác động về chính trị, ngay cả ở các nước kém
phát triển.
Tuy nhiên, việc vận động hành lang không phải là cách thức duy nhất để đạt được
những kết quả đó. Trong quan điểm này và đối với những đặc điểm của dòng vốn
FDI có liên quan tới những tác động đối với tổng thể môi trường xung quanh, mối
quan tâm này cũng đã đặt ra vấn đề là làm thế nào mà những công ty nước ngoài có
thể xử lý các hiện tượng trục trặc trong nội bộ cơ quan hành chính, điều mà trong
nhiều trường hợp được xem như là sự tham nhũng. Helman, Hones và Kaufmann
(2000) mô tả cường độ khá cao của Grand Corruption (State Capture) – sự tham
nhũng đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến những đặc điểm của dòng vốn FDI, khi
mà trong một tài liệu có liên quan đã chia thành hai nhóm, đó là những người ủng
hộ ý tưởng là hiện tượng tham nhũng đã gây ra nhiều phiền toái cho các nhà đầu tư
nước ngoài, và những người khác với quan điểm cho rằng chính sự tham nhũng
4

không những không gây ra phiền toái mà thậm chí có thể khuyến khích những nhà
đầu tư trong nhiều trường hợp. Smarzynsja và Wei (2000) đã gợi ý rằng sự tồn tại
của việc tham nhũng dẫn đến một thực trạng là cần phải có những yêu cầu trong
việc sử dụng những dòng vốn cụ thể chảy vào thị trường khi mà những người đại
diện tại nước sở tại có liên quan đến việc sử dụng những nguồn vốn này, và dòng
vốn FDI đang chảy vào luôn sở hữu những sự phức tạp tìm ẩn chẳng hạn như nguy

thuế đối với dòng vốn FDI và cho dù các công ty nước ngoài có được phân biệt so
với các công ty trong nước trong những vấn đề này.
Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các khía cạnh trong việc
điều hành của chính phủ cũng được phân tích. Một vài phân tích cho rằng một sự
điều hành tốt cũng giúp thu hút FDI (Shleifer & Vishny, 1998; World Bank, 2002;
Globerman & Shapiro, 2002; Globerman & Shapiro, 2003; Globerman et al, 2004;
La Porta et al, 1997,
1998; Gani, 2007)
. Một cái nhìn tổng quát cho thấy rằng các
nước có sự điều hành tốt của chính phủ có xu hướng thu hút nhiều FDI hơn bởi vì
nếu thiếu đi việc điều hành tốt này thì việc đầu tư sẽ không được bảo hộ
(Globerman & Shapiro,
2003) và việc điều hành yếu kém sẽ làm tăng chi phí
và sự bất ổn
(Cuervo-Cazurra, 2008a,b). Sự điều hành của chính phủ được định
nghĩa một cách tổng quát là: “Nhà điều hành của một đất nước sử dụng tính bắt
buộc và các cơ sở hạ tầng để thực thi quyền lực của mình” (Kaufman, Kraay and
Zoido-Lobaton, 1999), và việc điều hành tốt là: “bộ máy tư pháp độc lập, bộ máy
lập pháp, luật pháp công bằng và minh bạch với tính cưỡng chế công bằng, thông tin
tài chính cộng đồng đáng tin cậy và lòng tin lớn vào bộ máy công”.(Li,2005)
Tuy nhiên, quan điểm này đã có sự không nhất trí và tranh cãi giữa Li và Filer
(2004), Li (2005) và Zhu (2007). Li (2005) tranh luận rằng việc điều hành không tốt
thì không liên quan gì đến việc không có sự bảo hộ bởi vì: hệ thống “điều hành dựa
trên mối quan hệ” đã thay thế hệ thống “điều hành dựa trên luật lệ” để quản lí các
vấn đề kinh tế và xã hội. Mặt khác, với sự điều hành không tốt, những công ty vượt
trội hơn lại dựa vào mối quan hệ cá nhân để bảo hộ công việc kinh doanh của họ.
Trong hệ thống “dựa trên mối quan hệ”, hệ thống chính trị có xu hướng được bảo
trợ bởi những nhà làm luật đầy quyền lực, và các chính sách có xu hướng ủng hộ
những nhà kinh doanh lớn, những người cung cấp nguồn lực lớn cho MNEs (các
công ty đa quốc gia).

đồng lần sau. Việc phê phán về vấn đề điều hành tệ hại thì dường như tạo ra nhiều
thì địch hơn, giảm đi các cơ hội để có được hợp đồng trong tương lai.
7

Đối với trường hợp tham nhũng, thì có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này.
Nhiều nhà nghiên cứu đã tranh luận rằng mức độ lạm phát cao sẽ gây nên một rào
cản trong việc thu hút FDI ở các nước quá độ (Resmini 2000, Hellman, Jones and
Kaufmann 2002, Bevan and Estrin 2004, Caetano 2005). Tuy nhiên, có rất nhiều
tác giả ủng hộ quan điểm rằng vấn đề tham nhũng là nguyên nhân gây nên việc
điều hành yếu kém, việc đó hóa ra lại cho rằng vấn đề tham nhũng lại là một đặc
điểm thu hút FDI (Leys, 1965; Bailey, 1966; Huntington, 1968; Lui, 1985; Beck
and Maher, 1986; Lien, 1986; Shleifer and
Vishny, 1994; Bardhan, 1997;
Kaufmann and Wei, 2000; Aidt, 2003; Meon and Sekkat,
2005). Điều này thường
được thực hiện thông qua các lựa chọn mà vấn đề tham nhũng mang đến
(thường qua việc hối lộ) để loại bỏ đi chủ nghĩa chính quyền trì trệ, cũng như
những công chức nhà nước không có tinh thần làm việc. Vì thế, tham nhũng có
thể bù đắp cho vấn đề điều hành yếu kém và thu hút thêm FDI. Cần phải chú ý
rằng, vấn đề được tranh luận ở đây là không phải là thông thường thì việc tham
nhũng sẽ làm giảm FDI, nhưng vấn đề tham nhũng sẽ bù đắp cho tình trạng
mập mờ vẫn còn tiếp diễn bởi vì chất lượng yếu kém trong việc điều hành của
chính phủ. Điều này ngụ ý rằng, FDI nên được giảm bớt bởi vì vấn đề tham
nhũng ở các nước mà chất lượng điều hành của chính phủ là tương đối. Trong
trường hợp vấn đề tham nhũng đòi hỏi chi phí và sẽ không có lỗi lầm nào được
được thông qua.
Tài liệu về các yếu tố tác động đến FDI chỉ ra rằng các công ti đa quốc gia
(MNEs) chịu ảnh hưởng rất lớn từ vấn đề tham nhũng. Có hai phương pháp:
“sand of wheels” và “grease of wheels”. Phương pháp thứ nhất cho rằng tham
nhũng ngăn cản FDI vì nó thể hiện ra vấn đề trục trặc của việc điều hành,

thể hiện tính kiên nhẫn cực kì lớn. Như một lựa chọn, các hãng nước ngoài có
thể chỉ chọn để khai thác tình trạng phổ biến như họ, bằng việc trở người chơi
mạnh mẽ và linh hoạt hơn trong trò chơi tham nhũng, và thường thì việc này chỉ
kết thúc với tình trạng là mức tham nhũng ngày càng gia tăng.

9

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THU HÚT FDI VÀ VAI TRÒ CỦA FDI ĐỐI VỚI
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Sự cần thiết thu hút FDI
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhiều nước thừa nhận là một trong số
những nhân tố quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là
về lĩnh vực kinh tế.
Từ khi luật đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành được và đưa vào hoạt động
từ tháng 12 năm 1987, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng được Đảng
và Nhà nước ta khẳng định là một bộ phận cấu thành quan trọng trong nền kinh tế
thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển các nguồn lực trong nước. Sự xuất hiện
của FDI trong những năm vừa qua đã mang lại cho chúng ta những tác động tích
cực về kinh tế xã hội ở các mặt như:
 FDI có những đóng góp tích cực đối với tổng đầu tư trong toàn xã hội, tăng khả
năng thu hút các nguồn vốn khác.
 Tăng cường xuất khẩu.
 FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa.
 Tăng nguồn thu ngân sách quốc gia, tạo việc làm và cải thiện cuộc sống người
dân.
 Chuyển giao công nghệ một cách thuận lợi và nhanh chóng.
Ngoài các hoạt động trên FDI còn góp phần tích cực vào phát triển lực lượng sản
xuất. Tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp với tổng số dự án cho lĩnh vực
này tính đến tháng 2-2012 là 7819 dự án (chiếm 57.8% tổng số dự án).

khai thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử, xây dựng hạ tầng v.v.
Hằng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu công nghiệp, khu chế
xuất (KCN, KCX) chiếm từ 35-40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước,
trong đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80%
tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước.
Tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, KCX đã thu hút được 4.113 dự án có vốn
đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD, tổng
vốn đầu tư thực hiện đạt 27 tỷ USD, bằng 45% tổng vốn đầu tư đăng ký.
Hình 2.2: Sự gia tăng vốn FDI vào một số ngành công nghiệp
Nguồn : Cục đầu tư nước ngoài
Khu vực FDI cũng chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam. Nếu như năm 1995, khu vực FDI, (kể cả dầu thô) chỉ chiếm 27%
tổng xuất khẩu cả nước thì đến năm 2011 đã chiếm tới 59%.
2.1.3 FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa -
hiện đại hóa
FDI cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công
nghiệp. Theo đó, tỷ trọng nông nghiệp từ chỗ 80% vào năm 1988, đến năm 2011
chỉ còn 22%, công nghiệp - dịch vụ chiếm 78%. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
140000
160000
Khai
khoáng
Công

tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực FDI là 21,7% trong khi tốc độ tăng
trưởng công nghiệp cả nước là 14,2%. Năm 2000, tốc độ này tương ứng là 21,8%
và 17,5% ; năm 2005 là 21,2% và 17,1%; năm 2010 là 17,2% và 14,7%.
Trong hoạt động đổi mới và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam, FDI cũng đóng
một vai trò quan trọng, góp phần vào việc tăng cường cơ sở vật chất cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.1.4 FDI đối với việc làm và cải thiện nguồn nhân lực
Mỗi năm FDI mang lại khoảng hơn 2 triệu việc làm trực tiếp và một số lượng lớn
việc làm cho lao động gián tiếp. FDI xuất hiện chủ yếu trong các ngành tập trung
vốn và sử dụng lao động có trình độ cao. Hơn nữa, số lao động này được tiếp cận
với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức lao
động tiên tiến. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh
nghiệp FDI đã có thể thay thế dần các chuyên gia nước ngoài trong việc đảm nhiệm
những chức vụ quản lý doanh nghiệp và điều khiển các qui trình công nghệ hiện
đại.
Hình 2.3: Biểu đồ thị trường lao động khu vực FDI

Nguồn: Cục thống kê Việt Nam và Tạp chí phát triển kinh tế 2000 2001 2002 2003 2004 2006 2007 2008 2009 2010
407565
489287
691088
860259
1044851
1163886
1400685
1712152
2107428

 Sự thay đổi về nhận thức và quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với khu vực
có vốn FDI.
 Chính sách thu hút FDI của các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo nên áp
lực cạnh tranh đối với dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam.
 Những cam kết quốc tế của Việt Nam về đầu tư nước ngoài.
Bảng 2.2: Những nét thay đổi chính trong các lần thay đổi luật đầu tư nước ngoài

Trích đoạn Những biện pháp thu hút nguồn vốn ĐTNN trong những năm 2012- Nhóm giải pháp thuộc chính sách thu hút vốn đầu tư Nhóm giải pháp thuộc chính sách tài chính Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực Nhóm giải pháp xúc tiến đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status