a-/ Lời nói đầu
"Vai trò kinh tế của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN
ở nớc ta hiện nay" là đề tài nghiên cứu sự kết hợp hài hoà tơng hỗ lẫn nhau giữa
"Bàn tay vô hình" và "Bàn tay hữu hình". Hay nói một cách khác là nghiên cứu
sự kết hợp, sự quản lý của Nhà nớc và cơ chế thị trờng để thúc đẩy nền kinh tế
tăng trởng và phát triển ở mức cao nhất đồng thời hạn chế khắc phục những
khuyết tật một cách có hiệu quả nhất. Tìm ra nghệ thuật quản lý xuyên suốt từ
định hớng chiến lợc hệ thống luật đến các công đoạn trong các khâu kế hoạch
từ vĩ mô đến vi mô.
Nh chúng ta đã biết, kinh tế thị trờng là một kiểu tổ chức xã hội mà trong
đó sản xuất và tài sản sản xuất gắn chặt với thị trờng tức là gắn chặt với quan hệ
hàng hoá tiền tệ với quan hệ cung cầu. Kinh tế thị trờng không phải là một chế
độ kinh tế đồng nhất với chủ nghĩa T bản. Thực ra nó là thành quả của lịch sử
nhân loại gắn với sản xuất hàng hoá.
Đối với nớc ta việc chuyển từ cơ chế cũ sang cơ chế thị trờng là hết sức
cần thiết để đảm bảo phát triển tăng trởng ổn định kinh tế - xã hội đẩy lùi nguy
cơ tụt hậu, nhanh chóng thực hiện thành công công việc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nớc. Tuy nhiên cơ chế thị trờng cũng không phải là cái gì hoàn hảo
tốt đẹp cả mà đi kèm với nó là những khuyết tật rất đáng lo ngại. Vì vậy cần có
vai trò quản lý can thiệp của Nhà nớc để khắc phục, hạn chế những khuyết tật
của cơ chế thị trờng. Mà quan trọng nhất là sự định hớng của Nhà nớc để phát
triển kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã chọn. Đây là sự
khác biệt giữa cơ chế thị trờng ở nớc ta và nớc khác.
Tuy nhiên vấn đề vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN ở nớc ta hiện nay là một vấn đề đang có nhiều tranh cãi với những ý
kiến khác nhau nhằm tìm ra một cách giải quyết khả thi mang lại hiệu quả cao.
Vấn đề quan trọng bức xúc này có ảnh hởng lớn đến tiến trình phát triển kinh tế
của đất nớc. Chính vì vậy để góp phần vào sự lựa chọn cơ chế quản lý cho phù
hợp đặc biệt là giai đoạn Việt Nam hiện nay em chọn đề tài "Vai trò kinh tế của
Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện
nay" để nghiên cứu.
3-/ T sản:
Trên thế giới vào thế kỷ XV xuất hiện các nhà t bản là quá trình tích luỹ
nguyên thuỷ đợc thực hiện nên kinh tế thị trờng dần dần hình thành. Nhằm giúp
các nền kinh tế của mình phát triển nhanh, tất nhiên giai cấp t sản phải thực
hiện thúc đẩy, vai trò quan trọng của Nhà nớc t sản nh là một bà đỡ bởi vậy
ngày càng xác định rõ vai trò của giai cấp t sản và nâng cao dần dần.
Sự quản lý Nhà nớc cũng rất khác tức là hết sức nghiêm ngặt, họ quản lý
chặt chẽ vốn của mình, họ tìm cách giữ chặt nguồn vốn của mình không để
chạy tuột ra nớc ngoài, Nhà nớc của các nớc t bản giai đoạn này đã đề ra luật
buộc các thơng nhân nớc ngoài không đợc mang tiền ra khỏi nớc họ, chỉ mang
hàng mà thôi. Nhà nớc còn quy định những nơi đợc phép buôn bán để dễ dàng
cho việc kiểm soát của mình. Các chính sách để có số nhân tiền lớn, tạo ra một
lợng tiền nhỏ chạy ra ngoài lu thông và quay vòng vốn nhanh, có hiệu quả.
Trong chính sách ngoại thơng họ dùng hàng rào thuế quan bảo hộ, đánh thuế
nhập khẩu cao và thuế nhập khẩu các hàng sản xuất trong nớc thấp chỉ xuất
thành phẩm chứ không xuất nhiên liệu, cũng nh các hàng xa xỉ phẩm. Mặt khác
Nhà nớc còn thực hiện việc hỗ trợ cho các thơng nhân trong nớc các phơng tiện
vật chất, tài chính khi họ tham gia buôn bán quốc tế. Đồng thời với nó Nhà nớc
quy định chặt chẽ tỷ giá hối đoái cấm trả cho ngời nớc ngoài cao hơn mức giá
đó. Nhờ vậy mà các nớc t bản đã tích luỹ đợc một lợng của cải, tiền tệ đáng kể.
Đầu thế kỷ XVIII giai cấp t sản tập trung phát triển mạnh lĩnh vực sản xuất nhờ
áp dụng công nghệ mới, nền sản xuất của các nớc t bản phát triển rất nhanh, các
nhà t bản đua nhau mở rộng quy mô sản xuất. Tự do cạnh tranh đã trở thành đòi
hỏi cấp thiết trong đời sống của nền kinh tế này.
4-/ Nhà nớc Xã hội chủ nghĩa:
Nhà nớc Xã hội chủ nghĩa (XHCN) là Nhà nớc kiểu mới không dựa trên cơ
sở t hữu t nhân về t liệu sản xuất mà có nhiệm vụ bảo vệ sở hữu toàn dân và các
hình thức sở hữu hợp pháp khác.
Quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa (TBCN) ở thời kỳ đầu mới xuất hiện đã
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển lực lợng sản xuất. Khi CNTB phát triển
nền kinh tế là do các quy luật khách quan tự phát chi phối sự hoạt động của thị
trờng, là do quan hệ cung cầu và sự biến đổi tự phát của giá cả hàng hoá trên thị
trờng quyết định quan hệ giữa ngời với ngời là quan hệ lợi ích kinh tế. Ông còn
cho rằng mỗi ngời hoạt động chỉ nhằm lợi ích của bản thân, song do Bàn tay
vô hình chi phối buộc con ngời phải phục tùng lợi ích chung của xã hội và điều
4
này nằm ngoài ý định của các nhà kinh doanh. Để cho nền kinh tế phát triển
lành mạnh Nhà nớc không nên can thiệp vào kinh tế thị trờng, vào hoạt động
của các doanh nghiệp.
Mặc dù coi trọng Bàn tay vô hình song A. Smith cũng cho rằng đôi khi
Nhà nớc cũng có những nhiệm vụ kinh tế nhất định, đó là trong các trờng hợp
các nhiệm vụ kinh tế vợt quá khả năng của một doanh nghiệp nh làm đờng, xây
bến cảng, đào các con kênh lớn,...
Thực tế chỉ ra là nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất nớc phải có
một cơ sở hạ tầng (phục vụ sản xuất và đời sống) hiện đại. Điều này đã làm cho
các nhà kinh tế học thời kỳ này thấy rằng: nền kinh tế phát triển càng cao xã hội
hoá càng mở rộng, thị trờng càng phát triển, càng cần có sự quản lý kinh tế của
Nhà nớc đối với nền kinh tế. Song, họ vẫn coi tự do kinh tế là sức mạnh của nền
kinh tế thị trờng, quy luật kinh tế là vô địch, mặc dù chính sách kinh tế có thể
làm kìm hãm hay thúc đẩy ở mức độ nhất định sự hoạt động của nó.
Nhng vào những năm 30 của thế kỷ XX, những cuộc khủng hoảng kinh tế
nổ ra thờng xuyên đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933)
cho thấy Bàn tay vô hình không thể đảm bảo những điều kiện ổn định cho
kinh tế thị trờng phát triển. Thêm vào đó trình độ xã hội hoá phát triển ngày
càng cao đã chỉ cho các nhà kinh tế thấy rằng: cần phải có một lực lợng nhân
danh xã hội can thiệp vào quá trình hoạt động của nền kinh tế, điều tiết nền
kinh tế.
2-/ Quan điểm của Keynes:
Nhà kinh tế học ngời Anh John Meynard Keynes (1884-1946) đã đa ra lý
thuyết nền kinh tế thị trờng. Theo J.M Keynes sự tăng lên của sản xuất sẽ dẫn
hợp đó tạo nên nền kinh tế hỗn hợp.
4-/ Trờng phái Kinh tế thị trờng xã hội:
Trờng phái này cũng mang tính chất hỗn hợp Bàn tay vô hình của thị tr-
ờng và Bàn tay hữu hình của Nhà nớc. Tuy vậy t tởng can thiệp của Nhà nớc
cũng rất đa dạng. Các nhà t tởng chủ nghĩa tự do muốn phát triển kinh tế tự do,
Nhà nớc chỉ can thiệp mức độ nhất định. Quan điểm của họ là tự do thị trờng
nhiều hơn, Nhà nớc can thiệp ít hơn. Trong khi đó các nhà t tởng Bắc Âu lại chủ
trơng tăng cờng vai trò Nhà nớc, đặc biệt trong lĩnh vực xã hội, xây dựng kiểu
kinh tế thị trờng xã hội.
T tởng vai trò kinh tế Nhà nớc đợc vận dụng vào các nớc mang tính chất đặc
thù. Nh ở Mỹ ở đầu thế kỷ XX đã bắt đầu mở rộng sự can thiệp của Nhà nớc liên
6
bang đối với nền kinh tế. Vai trò của Chính phủ liên bang tạo ra môi trờng tự do
cạnh tranh, xây dựng các đạo luật chống độc quyền, kiểm soát các hoạt động kinh
tế bằng các công cụ tài chính, tiền tệ, tổ chức ngân hàng thơng mại, trong đó ngân
hàng Trung ơng vừa làm chức năng dự trữ, vừa làm chức năng điều tiết, kiểm soát
lợng tiền tệ đợc cung ứng thông qua ngân hàng thơng mại, xây dựng kết cấu hạ
tầng của nền kinh tế, giao thông,...
ở Đức thì nền kinh tế thị trờng đợc hình dung nh một sân bóng trong đó
mỗi doanh nghiệp là một cầu thủ Nhà nớc đóng vai trò là trọng tài, là ngời thiết
kế luật chơi và dùng luật chơi để điều khiển nền kinh tế sao cho nền kinh tế
tránh những tai hoạ khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát. Nhà nớc rất tôn trọng
quyền tự do cạnh tranh trên thị trờng của các chủ doanh nghiệp, và chỉ giữ ở
mức độ tối thiểu Nhà nớc coi trọng chỉ tiêu xã hội.
5-/ Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin:
Bất cứ Nhà nớc nào cũng có vai trò và chức năng kinh tế. C. Mác coi
quyền lực của Nhà nớc nh vai trò bã đỡ cho xã hội cũ thai nghén của xã hội
mới. F. Ăngghen trong tác phẩm Chống Đuy-ring cũng nhấn mạnh rằng Giai
cấp vô sản chiếm lấy chính quyền Nhà nớc và biến t liệu sản xuất trớc hết thành
sở hữu Nhà nớc (Tuyển tập, tập V - NXB ST, HN 1983).
thiện hoá mà thôi.
Thứ nhất, kinh tế thị trờng là nơi để diễn ra sự cạnh tranh, sự đào thải của
cái cũ để dẫn đến đa mọi sự vật phát triển cao hơn. Nói đến kinh tế thị trờng là
nói đến sự cạnh tranh kinh tế giữa các chủ thể tham gia kinh tế thị trờng. Cạnh
tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên thị trờng, để giành sản xuất,
tiêu dùng hàng hoá có lợi cho mình nhằm thu lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh
đối với tất cả các ngành giữa ngời bán, ngời mua,...
Do vậy nền kinh tế thị trờng kích thích việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật để
nâng cao năng suất lao động, để nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất giá thành
rẻ, chất lợng cao, chỉ còn cách là nâng cao kỹ thuật công nghệ để cạnh tranh với
các hãng khác nhằm tối đa hoá lợi nhuận. C.Mác cũng đánh giá vai trò lợi
nhuận đối với các nhà t bản với t cách là chủ thể của nền kinh tế thị trờng. Theo
Mác, những nhà kinh doanh ghét cay ghét đắng tình trạng không có lợi nhuận
hay lợi nhuận quá ít chẳng khác gì giới tự nhiện ghê sợ chân không. Vậy mà
cuộc sống lại đi lên hàng ngày vấn đề phải thờng xuyên áp dụng kỹ thuật mới,
hợp lý hoá sản xuất làm cho năng suất lao động cá biệt và năng suất xã hội tăng
lên. Nhờ đó mà nền kinh tế thị trờng tuy mới ra đời mấy năm lại đây nhng bề
thế đã tạo cho mình khá dầy dặn là một khối lợng, lực lợng sản xuất xã hội cao
cha từng thấy trong lịch sử xã hội loài ngời.
Thứ hai, kinh tế thị trờng có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh
chóng khi sản xuất một mặt hàng nào đó cái cần thiết là phải biết đợc thị hiếu
của dân chúng, hãng nào sản xuất các mặt hàng lạ, đẹp mắt và hợp thời trang sẽ
đạt nhiều lợi nhuận hơn. Muốn vậy có nhiều hình thức nh quảng cáo, tiếp thị,
9
thu nhập thông tin khi thấy mặt hàng của mình ít u chuộng hoặc là u chuộng
giảm tức là cầu đang giảm dần thì ngời sản xuất phải ngừng ngay sản xuất lại.
Chính điều đó dẫn tới sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội vì vậy trong nền kinh
tế thị trờng luôn luôn diễn ra sự đổi mới. Nhiều sản phẩm trớc đây vẫn bán nay
mất đi vì không có nhu cầu, nhiều sản phẩm mới với chất lợng, quy cách ngày
càng đợc hoàn thiện hơn.
đến có thể làm đảo lộn nền kinh tế khi một công ty tung tiền ra với một lợng
quá lớn sẽ gây ra lạm phát cao và gây ra sự mất hiệu quả của nền kinh tế, không
có sự canh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau mà chỉ có một mức giá cố
định.
II-/ Những đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng:
Đây là những đặc trng nội cộm nhất, tiêu biểu nhất của một nền kinh tế
vận hành theo cơ chế thị trờng.
Có năm đặc trng lớn:
Thứ nhất, đó là thể chế của những chủ thể tự chủ, tự do kinh doanh theo
pháp luật, các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh, vừa liên kết, hợp tác và phát
triển xã hội hoá cao.
Thứ hai, khi ở nền kinh tế thị trờng thông tin là một điều tối quan trọng và
ngày càng đóng vai trò trực tiếp hớng dẫn sản xuất các hãng kinh doanh lựa
chọn phơng án sản xuất cho mình để ngày càng mở rộng quy mô sản xuất, lợi
nhuận nhiều hơn hay có hiệu quả trong việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên,
lựa chọn các phơng án sản xuất bao gồm thời gian tiến hành, nơi tiến hành, thiết
bị, lực lợng lao động,... tất cả những điều này là thể chế của những chủ thể tự
chủ. Các hãng tự quyết định lấy hành vi của mình nhng phải theo một khuôn
khổ với sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc và tuân theo pháp luật. Do lợi nhuận các
hãng luôn thay đổi các thiết bị, mẫu mã để cạnh tranh với các hãng khác, giành
giật hợp đồng cũng nh khách hàng. Nhng trong nền kinh tế thị trờng vẫn phải có
khuôn phép, có luật bảo vệ. Ngoài ra, ở nền kinh tế thị trờng không nên dàn đều
các mặt quan trọng nh một tổ chức ta sẽ phân công cho phát triển các vị trí then
chốt, vị trí không thể thiếu đợc của cuộc sống, để tạo ra thế vững chắc, đồng
đều và cân bằng.
Trong nền kinh tế thị trờng điều thiết yếu là sở hữu cá nhân và t nhân (về
lao động, vốn, tài sản,...) đợc tôn trọng, đồng thời phải phát triển các hình thức
sở hữu, hỗn hợp, đan xen trong các tổ chức kinh doanh. Đối với các tổ chức
11
kinh tế quốc doanh ta nên tách quyền sở hữu tài sản của Nhà nớc với quyền
kinh tế của nớc nhà, suy cho cùng nền kinh tế thị trờng không phải là vạn năng,
có nhiều cái nó không thể làm đợc. Tầm quan trọng của kế hoạch ở năng lực
12
điều chỉnh hành vi của nó, đó là khi ta dự đoán chính xác đa ra các chính sách
phơng án và phơng hớng phát triển nền kinh tế đa cái nào là mũi nhọn nh phát
triển công nghiệp, sự nghiệp công ích mà thị trờng không đoái hoài đến. Đồng
thời là sự uốn nắn những sai lầm của thị trờng loại bớt, giảm và hạn chế tối đa.
Thứ năm, mọi yếu tố sản xuất phải đi vào thị trờng bởi nó tạo điều kiện
cho nền kinh tế hoạt động bình thờng phải đa tất cả vào đừng vì bất cứ cái gì mà
chần chừ. Tiếp tục đẩy mạnh cơ chế lu thông hàng hoá xây dựng hệ thống thị tr-
ờng thông suốt và thống nhất ở các thị trờng hàng hoá dịch vụ, vốn, kỹ thuật,
chứng khoán, bất động sản.
Đặc trng xã hội cũng nh vai trò xã hội to lớn của Nhà nớc XHCN trở thành
đặc trng nổi bật của thể chế nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa mô hình kinh tế mà con ngời là nhân vật trung tâm.
Một nền kinh tế thị trờng thành công không phải dừng lại đơn thuần là sự
tăng trởng kinh tế mà đi kèm với nó là không ngừng nâng cao chất lợng cuộc
sống nh lơng và thu nhập thực tế tăng trởng mạnh, y tế tăng, phân hoá giầu
nghèo không còn rõ nét, không làm phơng hại lớn đến chúng, mặt khác phải giữ
vững vai trò cũng nh bảo tồn nền văn hoá truyền thống của xã hội.
Muốn vậy khi quyết định ta phải nêu ra các chi tiêu cần phải đạt đợc về
mặt giáo dục, y tế, việc làm, xoá đói giảm nghèo, lĩnh vực văn hoá xã hội, đảm
bảo môi sinh môi trờng, đồng thời nâng cao vai trò xã hội của Nhà nớc XHCN
theo chế độ bảo hiểm xã hội, theo nguyên tắc công bằng, bình đẳng, tuy vậy ta
phải quan tâm chú ý săn sóc đến các thành viên có công với cách mạng, các bà
mẹ anh hùng, liệt sỹ, thơng binh, ngời già, trẻ em mồ côi.
13
Chơng III
Mục tiêu, chức năng, vai trò quản lý kinh tế
vĩ mô của nhà nớc