Icon Nga qua hai tác phẩm nổi tiếng nhất
Đối với người trong làng mỹ thuật, nói đến icon, hầu hết, đều nói đến icon Nga.
Khi nói đến icon Nga, cũng gần như hầu hết, đều nhắc đến "Đức Mẹ Đồng Trinh
(của) Vladimir" (Tên tiếng Anh: Our Lady of Vladimir hoặc Virgin of Vladimir )
có từ thế kỷ 12, và "Ba Ngôi Thiên Chúa - theo Cựu Ước" (Tên tiếng Anh: The
Holy Trinity hay The Old Testament Trinity) của Andrei Rublev ở thế kỷ 14.
Trước khi tìm hiểu hai tác phẩm danh giá này, có lẽ cũng nên có cái nhìn khái lược
về icon Nga.
Tuy chịu ảnh hưởng truyển thống icon Byzantium từ thế kỷ thứ 4, nhưng icon Nga
chỉ thực sự phát triển với sắc thái riêng bắt đầu khi Giáo hội Chính Thống Nga tách
ra khỏi ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo ở Constantinople (tên cũ là Byzantium)
từ đầu thế kỷ 11.
Phát triển muộn, và mang màu sắc Chính thống giáo, icon Nga không còn chịu sự
trói buộc bởi quá nhiều qui phạm chặt chẽ như ở icon Byzantium. Xin nhớ lại, icon
Byzantium ra đời từ thế kỷ thứ 3, và trong suốt thời gian dài trải qua nhiều thế kỷ
đã phát triển trong tư thế đối đầu với khuynh hướng Bài trừ ảnh thánh
(Iconoclasm) - cấm thể hiện và thờ hình ảnh Chúa Cứu Thế hoặc các vị Thánh vì
coi đó là sùng bái ngẫu tượng - do Hoàng đế La Mã Đông phương Lêô III (685 –
741) chủ trương, và kéo dài cho đến sau thời Lêô V (813-820) (chỉ đến thế kỷ 11
mới chấm dứt hẳn). Để tồn tại cân bằng trong tư thế đối đầu dai dẳng này, icon
Byzantium phải tuân thủ các qui phạm thần học hết sức nghiêm ngặt và được kiểm
soát chặt chẽ. Một hoạ sĩ icon Byzantium, chỉ cần có một chút sai lạc là có thể bị
kết tội lạc giáo, tà giáo và có thể bị đưa lên giàn hoả thiêu Phát triển từ thế kỷ 11,
icon Nga, không còn chịu sức ép của cuộc đối đầu như vậy nữa. Các qui phạm thần
học, do đó, cũng được thả lỏng hơn. Dấu ấn của các nhà thần học trên icon dần dần
dựng ở đây một ngôi nhà thờ lớn dành riêng cho "Thánh tượng". Bắt đầu từ đó, tác
phẩm có tên "Đức Mẹ Đồng Trinh (của) Vladimir". Năm 1395, trong cơn hoảng
loạn trước cuộc tàn phá của quân Mông Cổ xâm lược, tác phẩm đã được chuyển
đến Moscow. Lúc tác phẩm được chuyển đến Moscow, cũng là lúc quân Mông Cổ
rút lui ra khỏi đây. Điều này, đã khiến cho người dân Nga tin tưởng mãnh liệt hơn
vào quyền uy linh thiêng của "Thánh tượng". Trong một khoảng thời gian ngắn, tác
phẩm đã được nhân bản (với vô số biến thể) và được thờ kính ở khắp nơi trên đất
nước Nga
Câu chuyện lịch sử gắn bó với người Nga ở trên chỉ là một khía cạnh. Quan trọng
hơn, điều khiến người ta xem tác phẩm này như một "đại diện" của icon Nga, bởi
thực tế, cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện, nó gần với truyền thống icon Nga
hơn là truyền thống icon Byzantium.
Như đã nói ở trên, icon Byzantium vốn nặng phần duy lý. Tác phẩm icon, thực sự
chỉ là một văn bản thần học kinh điển bằng hình ảnh. Trong mỗi icon Byzantium,
dấu ấn của các nhà thần học che khuất bóng dáng của người nghệ sĩ. Tác phẩm
"Chúa Thánh Thần hiện xuống" và "Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp" tôi giới thiệu trong
hai bài trước là hai ví dụ điển hình: tất cả, đều chỉ là những tượng trưng, và, "cái
đẹp" được hiểu là sự sáng tỏ của chân lý "thánh thiêng" được thể hiện qua hình
thức tinh lọc của hình ảnh phi-cá-tính hoá (1)(2). Icon Nga thì khác. Khác, trước
hết, bởi nó nghiêng về tự nhiên, thể hiện Thiên Chúa bằng các hình ảnh mang tình
cảm con người. Và kế đến, khác, là vì tình cảm cá nhân của người nghệ sĩ được thể
hiện trong icon qua những khác biệt trong ngôn ngữ tạo hình. "Cái đẹp" ở đây, bên
cạnh tính chuẩn mực tương đối trong cách lý giải chủ đề, còn được diễn tả qua
những tình cảm rung động và dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ
Hãy nhìn kỹ tác phẩm "Đức Mẹ Đồng
Trinh (của) Vladimir". Tuy vẫn là sự cách điệu hoá với ngôn ngữ biểu trưng của
"Thánh tượng", nhưng nổi bật ở đây là tình cảm mẹ con. Đức Mẹ Đồng Trinh đang
biểu lộ sự đau thương, sầu muộn trước viễn cảnh Khổ Nạn của con mình. Còn
Chúa Hài Đồng, thì như mọi em bé khác, hồn nhiên áp má âu yếm mẹ mình.
Tình cảm biểu hiện trong tranh đã làm xúc động lòng người. Nó làm cho "Thiên
Sự giản lược này không thể có trong truyền thống Byzantium. Chính sự giản lược
này đã khiến cho tác phẩm của Andrei Rublev có cấu trúc hình hoạ gần với tự
nhiên hơn. Khi các nhân vật được thể hiện gần hơn với hình ảnh con người trong
tự nhiên, câu chuyện trong tác phẩm đã hoàn toàn mang một dáng vẻ hiện thực.
Cách lý giải chủ đề trong tranh của Andrei Rublev, do đó, cũng đã mang một tính
cách khác, và dường như ông hoàn toàn tự chủ trong việc này.
Ở tác phẩm cùng chủ đề Chúa Ba Ngôi nói trên, chủ đề căn bản được triển khai
dựa vào các biểu tượng thuần lý thuộc truyền thống Byzantium (tương quan của
các biểu tượng hình học trong tác phẩm là các yếu tố để nhận biết Thiên Chúa, và
sự hợp nhất Ba Ngôi Thiên Chúa: Hình tròn của mặt bàn đó là biểu tượng của
Thiên Chúa; Ba người ngồi ba góc, hợp lại thành một tam giác - một mặt phẳng cơ
bản - là biểu tượng của sự hợp nhất ). Trong tác phẩm Ba Ngôi Thiên Chúa của
mình, Andrei Rublev đã làm khác: ông đã dựa chủ yếu vào sắc thái biểu cảm của
hình, của màu để diễn tả chủ đề.
Ngôn ngữ biểu tượng của các ký hiệu hình học vẫn có đó nhưng trở thành tiềm ẩn.
Nổi bật trong tranh chính là dáng vẻ thanh cao hiếm có nơi hình ảnh các nhân vật
cùng sự hài hoà siêu thoát của bố cục. Theo các nhà nghiên cứu, chính sự hài hoà
với dáng vẻ thanh cao này, đã khiến cho tác phẩm có sức lay động tức thì và sâu xa
mà không cần đến bất cứ sự diễn giải có lý nào.
Thực tế thì cũng đã có nhiều ý kiến tranh cãi với cố gắng "giải mã" ba nhân vật
trong tranh, ai là Chúa Cha, ai là Chúa Con và ai là Chúa Thánh Thần v.v nhưng
rốt cuộc, hầu hết đều thừa nhận, những cố gắng đó của lý trí vẫn là cái gì hết sức
khập khiễng trước trữ lượng cảm xúc cùng sức mạnh siêu hình vô biên nơi tác
phẩm
Henri Nouwen - một chuyên gia về icon - đã viết về tác phẩm: "Andrew Rublev vẽ
bức tranh này không chỉ để chia sẻ thành quả những suy ngẫm trong thiền định của
mình về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mà còn mang lại cho mọi người một tình
cảm trong sáng và nồng nhiệt hướng về Thiên Chúa. Sự thánh thiện cùng sự hài
hoà tuyệt hảo nơi tác phẩm đã nuôi dưỡng đức tin chúng ta. Sẽ rất khó khăn để tìm