Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành y tế của Việt Nam - Pdf 12

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Tiếng Anh Tiếng Việt
AFTA Asian Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do Asean
ASEAN
Assosiasion of South East
Asean Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á
Bộ KH& ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FII Foreign Indirect Investment Đầu tư gián tiếp nước ngoài
IMF
International Moneytary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
M&A Mergers and Acquisitions Mua lại và sáp nhập
ODA
Official Development
Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
PERC
The Property and
Environment Research
Centre
Trung tâm nghiên cứu đất đai và
môi trường
R&D Research and Development Ngiên cứu và phát triển
TNCs Transnational Corporations Các tập đoàn đa quốc gia
USAID
United States Agency for
International Development
Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ

45
Biểu 2.5. Xếp hạng mức độ quan trọng của các yếu tố tác động đến
quyết định đầu tư
56
2
Hộp
Trang
Hộp 1.1. Các phương thức cung cấp dịch vụ 24
Hộp 2.1. Tiềm năng du lịch chữa bệnh tại Việt Nam rất lớn 52
Hộp 2.2. M&A ở Việt Nam cần nhiều hơn 1 khung pháp lý 58
Hộp 2.3. Đơn vị công “chảy máu chất xám” vì đâu 61
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Trong thời đại ngày nay, cùng sự phát triển của thương mại quốc tế, liên kết
kinh tế quốc tế, không một quốc gia nào dù lớn hay nhở, từ những cường quốc
kinh tế lớn mạnh nhất như Mỹ, Nhật Bản, EU đến các nước chậm phát triển lại
không cần nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và coi đó là nguồn lực quan trọng
cho phát triển đất nước. Nhu cầu về vốn đầu tư của tất cả các quốc gia đều rất
lớn, vượt xa khả năng cung cấp của thế giới là nguyên nhân dẫn đến cuộc cạnh
tranh gay gắt giữa các quốc gia trong việc tìm kiếm vốn. Quốc gia nào có môi
trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, sử dụng vốn hiệu quả hơn sẽ giành được
ưu thế trong cuộc cạnh tranh này. Thu hút FDI đã trở thành một tất yếu mang
tính quy luật chung đối với tất cả các nước. Quy luật này ngày càng bức bách
hơn đối với những nước đang phát triển như nước ta. FDI được coi là chìa khoá
của sự phát triển, là giải pháp chiến lược giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu vốn
lớn cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá và nguồn vốn trong nước eo
hẹp. Sự kiện chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO càng tạo
điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc thu hút FDI từ các nước phát triển,
đặc biệt là thu hút FDI vào ngành y tế - một lĩnh vực mới nhưng rất quan trọng

3. Đối tượng, phạm vi và giác độ nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu hút FDI vào phát triển ngành y tế
của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu việc phát triển ngành
y tế Việt Nam dưới sự tác động của nguồn vốn FDI từ năm 1989 đến nay.
Giác độ nghiên cứu: vĩ mô
5
4. Kết cấu đề tài
Đề tài được chia làm 3 chương như sau:
Chương I: Những lý luận chung về thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam
Chương II: Thực trạng thu hút FDI vào ngành y tế của Việt Nam
Chương III: Những giải pháp tăng cường thu hút FDI vào ngành y tế Việt Nam

6
NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT FDI VÀO
NGÀNH Y TẾ CỦA VIỆT NAM
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI.
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Trước khi đi tìm hiểu về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), ta cần làm rõ
các khái niệm về đầu tư. Trong thực tiễn quản lý đầu tư hiện nay có khá nhiều
quan niệm về đầu tư, đầu tư quốc tế, song mỗi quan niệm lại đứng trên một giác
độ khác nhau để định nghĩa. Theo giáo trình Quản trị dự án và doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, đầu tư được hiểu
như sau:
“Đầu tư là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chương
trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu
được lợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư, cho xã hội và cộng đồng.”

trữ (gồm cả lợi nhuận giữ lại) thuộc về công ty mẹ, cộng thêm các khoản nợ
ròng của các công ty thành viên.
Hoa Kỳ là một trong những nước tiếp nhận đầu tư và tiến hành đầu tư lớn
nhất trên thế giới cũng đưa ra định nghĩa: “FDI là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở
hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho
vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài.” Sở hữu đa phần ở
đây theo Mỹ quy định là lớn hơn 10% giá trị của doanh nghiệp nước ngoài.
Không phải tất cả các quốc gia đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế, có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của
chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh
nghiệp, trong khi có những trường hợp chủ đầu tư sở hữu hơn 10% giá trị tài sản
8
của doanh nghiệp nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.
Quan điểm về FDI của Việt Nam được quy định trong Luật đầu tư nước
ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 như sau: “FDI là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền bạc hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành
các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này.” Trong đó, nhà đầu tư nước
ngoài được hiểu là các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam.
Từ các định nghĩa FDI trên, ta có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài như
sau: FDI là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ
nước đi đầu tư đến nước tiếp nhận đầu tư để thành lập hoặc kiểm soát doanh
nghiệp nhằm mục đích kinh doanh có lãi.
1.1.1.2. Thu hút FDI.
Cùng với hoạt động ngoại thương, các hoạt động thu hút FDI trên thế giới
đang ngày càng phát triển mạnh mẽ với nhiều phương pháp, hình thức tuỳ thuộc
vào đặc điểm của từng quốc gia. Các phương pháp và hình thức đó chung quy
lại cũng là quá trình xây dựng môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tạo
điều kiện không những cho vốn đầu tư nước ngoài mà cả vốn đầu tư trong nước
(phần vốn góp của nước sở tại trong liên doanh) cũng được thực hiện một cách

- Hầu hết hoạt động đầu tư nước ngoài đều gắn liền với 3 yếu tố: hoạt động
thương mại, chuyển giao công nghệ, di cư lao động quốc tế, chuyển giao kỹ
năng quản lý doanh nghiệp ở nhiều hình thức và mức độ khác nhau.
- FDI gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong đó, chính sách
về đầu tư trực tiếp nước ngoài của mỗi quốc gia tiếp nhận thể hiện chính sách
mở và quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế về đầu tư của quốc gia đó.
1.1.3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là cách thức nhà đầu tư ở một nước
có thể và được phép áp dụng để chuyển đổi quyền sở hữu vốn (bằng tiền hoặc bất
10
kỳ tài sản nào) của mình thành quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát
một thực thể kinh tế ở một nước khác. Với quan niệm này, mọi cách thức huy
động vốn FDI từ bên ngoài của nước chủ nhà hoặc các cách thức nhà đầu tư sử
dụng số vốn của mình nhằm đạt được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm
soát một thực thể kinh tế ở nước ngoài đều được xem là hình thức đầu tư.
Ngoài các hình thức đầu tư chủ yếu đã tồn tại từ lâu như hợp tác kinh doanh
trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài, những năm gần đây, với sự phát triển khoa học công nghệ và xu hướng
toàn cầu hoá, do nhu cầu đa dạng hoá hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước
ngoài nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã áp dụng các hình thức FDI mới. Các
hình thức FDI được phép áp dụng ở Việt Nam được quy định cụ thể trong Luật
đầu tư chung năm 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật
đầu tư. Đó là:
1) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng
2) Doanh nghiệp liên doanh
3) 100% vốn đầu tư nước ngoài
4) BOT/ BTO/ BT
5) Công ty cổ phần có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
6) Đầu tư phát triển kinh doanh
7) Mua lại và Sáp nhập (M&A)

Thứ tư là sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học và công
nghệ và hệ thống doanh nghiệp trong nước và trên địa bàn. Đây là điều kiện
hàng đầu để một nước, địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên
thiên nhiên và trở nên hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Việc thiếu các nhân lực kỹ
thuật lành nghề, các nhàquản lý cao cấp, và sự lạc hậu về trình độ khoa học-
công nghệ trong nước sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư, làm
chậm và thu hẹp dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước và địa phương.
12
Thứ năm là sự phát triển của nền hành chính quốc gia và hiệu quả của các
dự án FDI đã triển khai. Một bộ máy hành chính hiệu quả phải thống nhất, gọn
nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách, thủ tục hành chính, qui định pháp lý
có tính tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những
con người có trình độ chuyên môn cao, có kỷ luật, tôn trọng pháp luật. Bên cạnh
đó, nếu các dự án FDI đã được triển khai đạt kết quả tỷ suất lợi nhuận cao sẽ
khuyến khích và củng cố niềm tin cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục đầu tư,
đồng thời có sức thuyết phục các nhà đầu tư nước ngoài khác yên tâm bỏ vốn.
1.1.4.2. Nhóm nhân tố đẩy.
Trong xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hóa trên thế giới ngày nay, hoạt
động FDI ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn một phần do sức kéo của các nhân
tố bên trong quốc gia tiếp nhận đầu tư, song bản thân những nhà đầu tư nước
ngoài cũng có động cơ lợi nhuận rất lớn khi thực hiện các dự án đầu tư ở nước
ngoài. Đó là:
Thứ nhất, quá trình hội nhập của các nền kinh tế quốc gia đã làm cho các
nước dần dỡ bỏ những kiểm soát chặt chẽ đối với hàng hoá, nhân công, luồng
vốn lưu chuyển trên thị trường. Do đó, nguồn vốn được vận động theo đúng quy
luật của nó là chảy vào những nơi có khả năng sinh lời cao trên phạm vi toàn thế
giới.
Thứ hai, cùng với di chuyển vốn quốc tế, hoạt động chuyển giao công nghệ
cũng ngày càng phát triển mạnh với nhiều hình thức và mức độ. Nhờ việc đầu tư
các dự án ở những nước kém phát triển hơn mà các nhà đầu tư có khả năng kéo

được tham gia như nhau, không có bất cứ sự phân biệt hay trói buộc nào; hai là
đảm bảo cho mọi người dân đều có quyền được hưởng các dịch vụ y tế tốt nhất.
Bên cạnh đó, để có một nền y tế phát triển thật bền vững, điều kiện đầu tiên
đó là y tế phải thuộc về xã hội. Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để huy động
được tối đa mọi nguồn lực trong xã hội cùng tham gia vào lĩnh vực y tế, tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở y tế công lập và tư nhân, trong nước
và nước ngoài, khuyến khích và tạo cơ hội, thậm chí đầu tư cho các cơ sở y tế có
14
tiềm năng để có những bước phát triển vượt trội, hỗ trợ các cơ sở y tế chưa có
tiềm năng không bị thua thiệt và có cơ hội phát triển, tránh sự phân hóa về trình
độ chuyên môn và chất lượng khám chữa bệnh, đảm bảo mọi người dân đều có
cơ hội được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế với chất lượng cao.
1.2.1.3. Tính kinh tế của ngành y tế.
Thực tiễn cho thấy,nếu không có sự quản lý đúng đắn, những chính sách
điều chỉnh của nhà nước, dưới sự tác động của cơ chế thị trường, ngành y tế sẽ
nảy sinh rất nhiều hạn chế và tiêu cực, thậm chí sẽ gây ra những khủng hoảng
sâu sắc, để lại những hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, xã hội. Ví dụ như
lãng phí do không huy động và sử dụng hết các nguồn lực trong xã hội, khủng
hoảng thừa và thiếu nhân lực cũng như trang thiết bị máy móc y tế, sự chênh
lệch trình độ khám chữa bệnh…. Cũng vì những lý do này mà cần có sự can
thiệp của chính phủ vào hoạt động y tế và chăm sóc sức khoẻ. Vì là hàng hoá
ngoại ứng cho nên rủi ro bệnh sẽ gây chi phí xã hội lớn hơn chi phí cá nhân từng
người phải trả. Nói cách khác với mỗi người bệnh, ngoài chi phí cá nhân người
này trả, xã hội cũng gánh một phần chi phí. Đây không còn là vấn đề cá nhân mà
cả xã hội. Vì thế, giải pháp cho vấn đề này cần phải nhìn ở nhiều phương diện.
Thứ nhất, ngành y tế có tính kinh tế nhờ quy mô, phạm vi và kinh nghiệm,
chi phí cố định lớn, càng vận hành thì chi phí biên sẽ giảm. Vì thế cần có đầu tư
vốn lớn để khai khác hiệu ứng kinh tế này.
Thứ hai, trong vấn đề phòng ngừa, các tổ chức y tế tư nhân thường sẽ
không đầu tư nhiều cho công tác này vì một phần đây là hàng hoá công cộng,

giữa các quốc gia, các tập đoàn kinh tế ngày càng tăng. Do đó, để một quốc gia
có thể đứng vững trong cuộc chạy đua kinh tế này thì cần có một môi trường
kinh tế - chính trị - xã hội ổn định. Y tế chính là một trong các nhân tố đảm bảo
điều đó, vì một nền y tế vừa có chất lượng lại vừa có tính xã hội hoá cao sẽ tạo
lòng tin và động lực cho người dân để xây dựng nền chính trị xã hội ổn định mà
còn nâng cao chất lượng nguồn lao động cho phát triển kinh tế.
16
Xu thế toàn cầu hoá cũng đòi hỏi ngày càng cao đối với việc phát triển dịch
vụ y tế. Bởi toàn cầu hoá sẽ dẫn đến sự di chuyển vốn, công nghệ, lao động ngày
càng nhiều giữa các quốc gia, đẩy mạnh phân công lao động quốc tế, do đó chỉ
khi có một nền y tế phát triển ngang tầm thế giới thì Việt Nam mới có thể tham
gia triệt để vào quá trình này.
Y tế đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển nhân tố con
người trong tương lai. Giáo dục mang đến tri thức cho con người, giúp con
người có kiến thức để sản xuất và sáng tạo, song y tế mới là yếu tố đảm bảo cho
con người có đủ sức khoẻ và thể chất để làm được những việc đó một cách hiệu
quả nhất. Nền y học phát triển sẽ là yếu tố hàng đầu để xây dựng một thế hệ
tương lai tiên tiến hơn.
Tóm lại, y tế không những là mục tiêu mà còn là động lực để phát triển kinh
tế xã hội, vì y tế góp phần đảm bảo sức khoẻ cho con người thông qua công tác
từ phòng bệnh đến chữa bệnh. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ưu tiên đặc
biệt cho phát triển ngành này, trong đó có Việt Nam. Hàng năm, nhà nước đều
tổ chức các chương trình nhằm động viên, khuyến khích và tôn vinh những y
bác sĩ tâm huyết với nghề, góp nhiều công sức vào sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ
nhân dân.
b) Nhu cầu vốn để phát triển ngành y tế Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển đông dân, nhu cầu khám chữa bệnh
là hết sức lớn. Tuy nhiên, trên thực tế ngành y tế của Việt Nam vẫn chưa đáp
ứng được nhu cầu của người dân, chưa đảm bảo được mọi người dân đều có thể
tiếp cận được tới các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, ngay cả dịch vụ khám chữa,

y tế, trong khi ngân sách nhà nước chỉ chiếm 20%, bảo hiểm y tế 7%, viện trợ
2% và các nguồn khác 10%. Với mục tiêu đến năm 2010 các cơ sở khám chữa
bệnh công cộng miễn phí thì con số 61% chi từ người dân là quá cao. Bên cạnh
đó, ngân sách nhà nước cũng không thể tăng chi nhiều cho y tế vì hiện nay với
lộ trình giảm thuế theo cam kết với WTO và ASEAN thì trong những năm tới
nguồn thu ngân sách sẽ bị ảnh hưởng đáng kể. Vì vậy, hướng huy động của Việt
Nam trong tương lai là bảo hiểm y tế toàn dân, tiếp nhận viện trợ và thu hút
đầu tư tư nhân đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
18
1.2.2.2. Nhu cầu vốn FDI để phát triển ngành y tế của Việt Nam.
Khái niệm đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế là một khái niệm tương đối
mới mẻ ở một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trước đây, y tế
thường được coi là hoạt động phúc lợi xã hội nhằm chăm sóc và nâng cao sức
khoẻ cho người dân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, với quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế thì đầu tư vào y tế không còn là việc riêng của
Nhà nước mà cần có sự tham gia góp sức của tất cả các thành phần trong xã hội
không kể trong ngoài nước.
Như phần trước đã phân tích, nhu cầu đầu tư vốn cho y tế là rất lớn, nhưng
thực trạng phương pháp, công nghệ, cơ sở hạ tầng, trình độ quản lý đối với
ngành y tế Việt Nam đang lạc hậu so với nhu cầu phát triển hiện tại, nên đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này sẽ mang lại không chỉ vốn mà còn công
nghệ và trình độ khám chữa bệnh tiên tiến, hiện đại. Đây chính là chìa khoá hiệu
quả để giải quyết những mâu thuẫn và khó khăn mà các nước đang phát triển
như Việt Nam phải đối mặt.
Trong những năm gần đây, số lượng người có thu nhập cao ở Việt Nam đi
sang các nước phát triển hơn để khám chữa bệnh ngày càng tăng. Điều này
không chỉ gây tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán quốc gia do việc chuyển
tiền ra nước ngoài mà còn càng thể hiện rõ hơn hố ngăn cách giàu nghèo ở Việt
Nam vì trong khi những người giàu được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ tốt
nhất, có cơ hội được phát triển hơn thì phần đông người nghèo thậm chí còn

ngành, phân ngành cụ thể của biểu cam kết. iv) Các điều kiện hoạt động của nhà
cung cấp dịch vụ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam sẽ không bị hạn chế
hơn so với mức thực tế tại thời điểm Việt nam gia nhập WTO. v)Các doanh
nghiệp FDI được các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cho phép thuê đất để
thực hiện dự án đầu tư. vi)Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đựơc phép góp vốn
dưới hình thức mua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam và không được vượt
quá 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp trừ khi có quy định khác. Một năm sau
khi gia nhập, mức 30% trên sẽ bị bãi bỏ trừ một số ngành không cam kết.
20
Phương thức hiện diện thể nhân chưa được cam kết trong Biểu cam kết của
Việt Nam với WTO trừ các biện pháp liên quan đến nhập cảnh và lưu trú tạm
thời của các thế nhân thuộc các nhóm: người di chuyển trong nội bộ doanh
nghiệp; nhân sự khác; người chào bán dịch vụ; người chịu trách nhiệm thành lập
hiện diện thương mại; và nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng.
1.2.3.2. Cam kết của Việt Nam đối với phát triển ngành y tế trong WTO.
Trong Biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam chỉ có 2 phân ngành đã được
cam kết là: Dịch vụ bệnh viện (CPC9311)và các dịch vụ nha khoa và khám bệnh
(CPC9312). Y tế là một ngành dịch vụ, do đó nó cũng có thể được cung cấp
thông qua 4 phương thức như quy định trong Cam kết chung. Trong đó, hai
phương thức cung cấp qua biên giới và tiêu thụ ngoài lãnh thổ đều không bị hạn
chế tiếp cận thị trường cũng như hạn chế đối xử quốc gia, tức là mọi quốc gia
Hộp 1.1. Các phương thức cung cấp dịch vụ
(1) Cung cấp qua biên giới: là việc cung cấp dịch vụ được tiến hành từ lãnh
thổ của một nước này sang lãnh thổ của một nước khác. Ví dụ: gọi điện thoại quốc
tế, khám bệnh từ xa trong đó bệnh nhân và bác sĩ khám ngồi ở hai nước khác nhau…
(2) Tiêu dùng ở nước ngoài: đó là việc người sử dụng dịch vụ mang quốc tịch
một nước đi đến một nước khác và sử dụng dịch vụ ở nước đó. Ví dụ: du học, sửa
chữa tàu biển, du lịch, khám bệnh ở nước ngoài…
(3) Hiện diện thương mại: là phương thức trong đó người cung cấp dịch vụ
mang quốc tịch một nước đi đến một nước khác, lập ra một pháp nhân và cung cấp

Từ năm 1988 đến 2008 tình hình đầu tư nước ngoài tại Vịêt Nam có nhiều
khởi sắc. Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm
trong khi vốn đăng ký và số dự án mới biến động. Nếu như cả giai đoạn
1991-1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD thì trong thời kỳ 1996-2000 vốn
thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng 89% so với 5 năm trước. Trong giai đoạn
2001-2005, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, tăng 6% so với 5 năm 1996-2000.
Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ
khi ban hành luật đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 2006 cả nước thu hút được
12tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005. Năm 2007, vốn đăng ký tiếp
tục lập kỷ lục mới với 21,3tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006. Riêng năm
2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007. Như vậy,
chỉ tính từ 2006 đến hết 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6tỷ USD. Trong khi, suốt
giai đoạn từ khi bắt đầu thu hút FDI cho đến năm 2005 tổng vốn đăng ký chỉ đạt
52,2 tỷ USD, chưa bằng vốn đăng ký của 1 năm 2008. Cùng với sự gia tăng
mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác
đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực; cụ thể là:
Theo ngành, lĩnh vực: Biểu đồ 2.1 thể hiện sự thay đổi trong cơ cấu ngành
của FDI đăng ký vào Việt Nam giữa 2 giai đoạn 1988-2005 và 2006-2008.
23
Biểu 2.1: Cơ cấu vốn FDI đăng ký theo ngành giai đoạn
1988-2005 và 2006-2008
62.18
56.7
31.42
40.8
6.4
1.2
0
10
20

6.303 87.799.745.637 29.663.816.911
CN dầu khí 48 14.477.841.815 4.658.841.815
24
Đơn vị: %
CN nhẹ 2.740 15.680.141.811 6.884.439.318
CN nặng 2.602 47.164.684.169 14.132.235.521
CN thực phẩm 350 4.199.005.162 1.875.954.424
Xây dựng 563 6.278.072.680 2.112.345.833
II Nông, lâm nghiệp 976 4.792.791.569 2.290.827.787
Nông-Lâm nghiệp 838 4.322.791.540 2.024.892.567
Thủy sản 138 470.000.029 265.935.220
III Dịch vụ 2.524 57.182.184.193 20.059.393.674
Dịch vụ 1.438 3.332.641.410 1.347.865.673
GTVT-Bưu điện 235 6.254.568.683 3.475.235.406
Khách sạn-Du lịch 250 15.411.708.335 4.465.834.460
Tài chính-Ngân hàng 68 1.057.777.080 991.354.447
Văn hóa-Ytế-Giáo dục 294 1.758.606.263 642.864.566
XD Khu đô thị mới 14 8.224.680.438 2.841.813.939
XD Văn phòng-Căn hộ 189 19.361.686.326 5.735.689.586
XD hạ tầng KCX-KCN 36 1.780.515.658 558.735.597
Tổng số 9.803 149.774.721.399 52.014.038.372
(Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ KH&ĐT (2008))
Theo đối tác đầu tư: Có khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại
Việt Nam, trong 3 năm gần đây Malaysia đứng vị trí thứ nhất, chiếm 17,0% tổng
vốn đăng ký; Đài Loan đứng thứ hai, chiếm 13,1%; Nhật Bản đứng thứ 3, chiếm
11,1%; tiếp đến là Hàn Quốc và Bristish Virgin Islands chiếm tương ứng 10,8%
và 9,3%. Cơ cấu đầu tư theo đối tác đã đa dạng hơn và có sự chuyển dịch theo
hướng tích cực từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á như Hàn Quốc,
Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông… sang các khu vực khác như châu
Âu (British Virgin Islands, Thụy Sĩ, Anh, Samoa, Síp, Cayman Islands, Pháp,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status