Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi theo hướng kinh tế thị
trường, mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực cũng như toàn cầu. Hệ thống doanh
nghiệp không ngừng được đổi mới và phát triển theo hướng đa dạng hóa các loại
hình doanh nghiệp, loại hình công ty và hình thức sở hữu. Với trên 30 năm xây
dựng, phát triển và trưởng thành, đến nay Viglacera đã trở thành một Tổng công ty
hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng và đầu tư kinh doanh hạ tầng
công nghiệp và dân dụng. Các sản phẩm của Viglacera không những nổi tiếng ở
trong nước mà đã đi đến nhiều Quốc gia trên thế giới. Viglacera còn được biết đến
là một Tổng công ty mạnh trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu
công nghiệp và khu đô thị.
Công ty cổ phần Viglacera Hà Nội là một trong 31 đơn vị thành viên của
Tổng công ty Viglacera, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, gạch
trang trí. Đặc trưng của ngành vật liệu xây dựng là một ngành kinh tế thâm hụt vốn,
các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn và chi phí cố định của ngành khá cao.
Để đảm bảo cho sự ra đời, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải có các yếu
tố cơ bản cho việc thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các yếu tố chính
của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: Vốn, lao động và tài nguyên. Trong
đó: Vốn là yếu tố quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển doanh
nghiệp. Khi một doanh nghiệp hạn chế về vốn sẽ dẫn đến hạn chế về khả năng mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng cường năng lực công nghệ…và sẽ dẫn đến
hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc gia nhập nền kinh tế thị trường
đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho doanh nghiệp.
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
1
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tăng
cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội” làm nội dung nghiên
cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn trong
doanh nghiệp
1.1. Vốn trong doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm vốn
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được hiểu là một tổ chức kinh tế,
có đủ tư cách pháp nhân được tổ chức ra để thực hiện kinh doanh trên một lĩnh vực
nhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận.
Để đảm bảo cho sự ra đời, tồn tại và phát triển, doanh nghiệp phải có các yếu
tố cơ bản cho việc thực hiện các hoạt động kinh doanh. Các yếu tố chính của các
hoạt động kinh doanh đó là: Vốn, lao động và tài nguyên. Trong đó, vốn là yếu tố
quan trọng nhất của quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Vốn luôn
là yếu tố cơ bản, cần thiết, không thể thiếu đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp luôn phải đối mặt
với các câu hỏi về nguồn tài trợ lấy từ đâu, cách thức huy động như thế nào, chi phí
phải trả bao nhiêu…Vốn được coi là nhân tố đầu tiên khởi động toàn bộ quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là điều kiện không thể thiếu được để một
doanh nghiệp được thành lập và tiến hành các hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Vốn trong doanh nghiệp có thể được hiểu chính là biểu hiện bằng giá trị của
các tài sản trong doanh nghiệp và các tài sản đó phải được sử dụng nhằm mục đích
tạo ra lợi nhuận.
1.1.2. Đặc trưng nguồn vốn trong doanh nghiệp
Một là, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản (nguyên liệu, máy móc thiết
bị, chất xám, thông tin…). Tài sản ở tạng thái tĩnh chỉ là vốn tiềm năng, tài sản hoạt
động mới là vốn kinh doanh, điều này có nghĩa là: Vốn là một bộ phận của tài sản,
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
4
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
nhưng không phải toàn bộ tài sản là vốn. Nói cách khác vốn chính là biểu hiện về
mặt giá trị của những tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
1.1.3. Phân loại nguồn vốn trong doanh nghiệp
Dựa vào những tiêu thức phân loại khác nhau, nguồn vốn trong doanh nghiệp
được phân chia thành các bộ phận khác nhau, một số cách phân loại phổ biến hiện
nay gồm:
• Căn cứ vào thời gian sử dụng: nguồn vốn được chia thành nguồn vốn
ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
- Vốn ngắn hạn: là vốn có thòi hạn dưới 1 năm. Bao gồm tín dụng
thương mại, các khoản chiếm dụng về tiền lương, tiến thuế, tín dụng ngắn hạn ngân
hàng và các khoản phải trả khác,...
- Vốn dài hạn: là vốn có thời hạn trên 1 năm. Bao gồm tín dụng ngân
hàng dài hạn, phát hành trái phiếu, huy động vốn góp cổ phần, liên doanh, bổ sung
từ lợi nhuận không chia,...
• Căn cứ theo tính chất luân chuyển vốn: Vốn cố định, vốn lưu động.
- Vốn cố định: là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản cố định của doanh
nghiệp. Đây là các tài sản có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản
suất kinh doanh, thường có giá trị lớn.
- Vốn lưu động: là phần vốn dùng để đầu tư vào tài sản lưu động của
doanh nghiệp. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian sử dụng ngắn, thường
tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và có giá trị nhỏ.
• Căn cứ vào quyền sở hữu đối với khoản vốn sử dụng: nguồn vốn được
chia thành vốn chủ sở hữu và nợ.
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
6
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
- Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc về các chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Gồm: vốn góp ban đầu, lợi nhuận không chia, vốn do phát hành cổ phiếu mới,...
- Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có
trách nhiệm thanh toán cho các tác nhân trong nền kinh tế trong quá trình kinh
doanh bao gồm các khoản chiếm dụng và nợ vay.
1.2. Các phương thức huy động vốn cho doanh nghiệp
thì các doanh nghiệp phải đặt ra mục tiêu có một khối lượng lợi nhuận đủ lớn để bù
đắp chi phí đã bỏ ra, từ đó mới tự đáp ứng được nhu cầu vốn tự bổ sung của doanh
nghiệp.
Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể thực hiện được nếu như
doanh nghiệp đã, đang hoạt động có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Với các
doanh nghiệp Nhà nước, việc tái đầu tư phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh
nghiệp và chính sách khuyến khích tái đầu tư của Nhà nước. Đối với các công ty cổ
phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số yếu tố rất nhạy cảm. Khi doanh
nghiệp quyết định để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, có nghĩa
doanh nghiệp không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không
được nhận tiền lãi cổ phần (cổ tức) nhưng thay vào đó, họ có quyền sở hữu số vốn
cổ phần tăng lên của công ty. Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên
cùng với việc tự tài trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này khuyến khích cổ đông giữ
cổ phiếu lâu dài, nhưng về trước mắt dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu do cổ
đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức thấp, hoặc số
lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu có thể bị giảm.
1.2.1.3. Tăng vốn góp bằng phát hành cổ phiếu mới
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
8
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Trong quá trình hoạt động sản xuất - kinh doanh thì doanh nghiệp có thể tăng
vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút
toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn của tổ
chức phát hành. Việc phát hành cổ phiếu được thực hiện ở các công ty cổ phần.
Phát hành cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp, bao gồm có phát
hành cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong
hai công cụ trên hoặc phối hợp cả hai để đem lại hiệu quả tốt nhất cho doanh
nghiệp.
1.2.2. Phương thức huy động vốn từ bên ngoài doanh nghiệp
Ngoài việc tăng vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp có thể sử dụng
hút tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân để cho vay dài hạn nhằm tài trợ mua nhà ở,
bất động sản hoặc các loại hàng hóa tiêu dùng lâu bền. Tuy nhiên, các hoạt động tài
trợ của hiệp hội này thường được cho vay dưới hình thức cầm cố.
Chính hình thức cho vay này sẽ gây ra một số khó khăn cho các doanh
nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì các doanh nghiệp này thường
không có nhiều tài sản để thế chấp.
• Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ: Là loại trung gian tài chính có rất nhiều
đặc điểm tương đồng với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay. Ngân hàng thu hút tiền
gửi của công chúng và chủ yếu cho các doanh nghiệp, các cá nhân vay để mua nhà
và các loại bất động sản.
• Hiệp hội tín dụng: Là một tổ chức hợp tác xã tín dụng, tổ chức liên kết
các thành viên là những người trong cùng tổ chức nghề nghiệp hay tín ngưỡng.
Nguồn ngân quỹ chủ yếu là tiền gửi của các thành viên, nguồn ngân quỹ này được
sử dụng để cho vay trong nội bộ nhằm tài trợ mua xe, nhà ở và nhiều loại tài sản
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
10
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
khác. Do đặc điểm của hiệp hội là chỉ cho vay trong nội bộ nên các doanh nghiệp
ngoài hiệp hội sẽ khó có cơ hội tiếp cận với nguồn vay này.
• Quỹ trợ cấp và hưu bổng: Được thành lập để tạo nguồn thu nhập cho
những người về hưu và không còn khả năng làm việc. Các quỹ này nhận tiền đóng
góp của công nhân, của chủ doanh nghiệp và sử dụng nguồn ngân quỹ này đầu tư
vào các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc hay trái phiếu đô thị, đầu tư
vào cổ phần, trái phiếu của các doanh nghiệp. Như vậy, doanh nghiệp có thể huy
động vốn từ quỹ này bằng việc phát hành trái phiếu.
• Công ty tài chính: Công ty tài chính phát hành các loại trái phiếu, cổ
phiếu và vay tiền của các ngân hàng thương mại để tài trợ cho các doanh nghiệp và
cá nhân vay. Những khoản cho vay của các công ty tài chính thường chủ yếu dành
cho những khách hàng có mức độ rủi ro tín dụng cao, mà các ngân hàng thương mại
thường từ chối cho vay. Để bù đắp cho mức độ rủi ro cao, lãi suất tài trợ của công
thực hiện nhiều nhiệm vụ tài chính khác.
- Các công ty bảo hiểm trách nhiệm và tài sản thu phí bảo hiểm của
những người được bảo hiểm và những chủ sở hữu các loại tài sản được bảo hiểm.
Một phần phí bảo hiểm được công ty đầu tư vào các loại chứng khoán công ty và
trái phiếu do Chính phủ phát hành.
Một khó khăn của doanh nghiệp khi tiếp cận nguồn vốn này là cũng cần
phải có tài sản hoặc các giấy tờ có giá trị để thế chấp.
• Công ty thuê mua: Là loại định chế tài chính chuyên huy động các
nguồn ngân quỹ trung – dài hạn từ công chúng đầu tư, từ các chủ thể tiết kiệm khác
và từ các ngân hàng để tài trợ cho các hợp đồng thuê mua máy móc thiết bị của các
doanh nghiệp.
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
12
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Nguyên nhân chính thúc đẩy doanh nghiệp tiếp cận với hoạt động cho thuê
tài chính là do nó có tính chất an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả cho các bên giao
dịch. Thêm vào đó, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính không đòi
hỏi sự bảo đảm tài sản có trước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận hình
thức cấp tín dụng mới, giải tỏa được áp lực về tài sản bảo đảm nếu phải vay ở ngân
hàng, hoặc các doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thủ tục thế chấp tài sản để vay
vốn ngân hàng.
1.2.2.2. Phương thức huy động vốn từ thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là thị trường sử dụng các thông tin dữ liệu có liên
quan đến mức sinh lời tiềm năng và coi đó như một chuẩn mực đầu tư, là cơ chế
chuyên giao dịch các loại chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán, để huy động vốn doanh nghiệp có thể phát
hành trái phiếu và cổ phiếu.
• Phát hành trái phiếu
Trái phiếu của các doanh nghiệp khác nhau có những đặc điểm khác nhau và
những đặc điểm này chi phối giá trị của trái phiếu.
Khi quyết định phát hành cổ phiếu ra công chúng, các doanh nghiệp cũng cần
tính đến nhu cầu trên thị trường chứng khoán, nếu không sẽ dễ rơi vào tình trạng
tăng cung nhưng cầu về cổ phiếu không tăng sẽ dễ dẫn đến giá cổ phiếu giảm.
Ngoài ra, vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sự xâm thực bằng cổ
phiếu của các công ty khác cũng là một khía cạnh đặc biệt. Huy động vốn qua phát
hành cổ phiếu phải xét đến nguy cơ bị thôn tính. Do đó, phải tính đến tỷ lệ cổ phần
tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểm soát của công ty.
1.2.2.3. Phương thức huy động vốn thông qua thị trường bất động sản
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
14
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Một nguồn huy động vốn khác mà doanh nghiệp doanh nghiệp có thể khai
thác để huy động vốn là thông qua thị trường bất động sản.
Các doanh nghiệp có thể thực hiện các giao dịch mua bán, cho thuê, thế chấp
góp vốn bằng thế chấp giá trị quyền sử dụng đất vào các dự án liên doanh để huy
động vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay, trên thị trường
bất động sản Việt Nam có đến 70% các giao dịch không đăng ký với các cơ quan
quản lý Nhà nước, nên tác động của việc huy động vốn bằng hình thức này vẫn còn
nhiều hạn chế.
1.2.2.4. Phương thức huy động vốn thông qua các tổ chức tài chính quốc tế
Trên thế giới có rất nhiều tổ chức tài chính chuyên về hỗ trợ khu vực kinh tế
tư nhân, trong đó được biết đến nhiều nhất là Công ty Tài chính Quốc tế (IFC).
Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) là bộ phận phụ trách khu vực tư nhân thuộc nhóm
Ngân hàng Thế giới. Nhiệm vụ của IFC là thúc đẩy đầu tư vào khu vực tư nhân tại
các nước đang phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân.
IFC cấp vốn cho các dự án đầu tư bằng tiền của mình và qua huy động vốn trên thị
trường tài chính quốc tế. IFC cũng cung cấp trợ giúp kỹ thuật và tư vấn cho chính
phủ và doanh nghiệp.
• Điểm đặc biệt trong hoạt động của IFC là bản thân tổ chức này không
tạo ra các dự án mới, mà IFC chỉ đầu tư vào hoặc hỗ trợ cho các dự án, công ty hiện
Đồng thời tăng trưởng kinh tế phản ánh thu nhập bình quân tính trên đầu
người tăng tạo ra nguồn tích lũy, tiết kiệm từ các doanh nghiệp và dân cư. Cùng với
chính sách tiết kiệm chi tiêu, tiêu dùng hợp lý để có và tăng tiết kiệm, từ đó mà các
doanh nghiệp có thể huy động vốn thuận lợi từ các doanh nghiệp, tổ chức tài chính
tín dụng, dân cư, Nhà nước…được thuận lợi.
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
16
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
1.3.1.2. Nhân tố lạm phát
Với chính sách kiềm chế lạm phát ở mức “vừa phải” sẽ tác động tới ổn định
và kích thích tăng trưởng kinh tế. Nếu lạm phát cao hơn nhiều so với tốc độ tăng
trưởng của nền kinh tế (tốc độ tăng GDP) sẽ làm cho đồng tiền mất giá, điều này
không tạo ra sự tin tưởng của các nhà đầu tư nhất là các nhà đầu tư nước ngoài.
Đồng thời, các doanh nghiệp không có một thước đo ổn định bằng đồng tiền, nên
các dự án đầu tư khi thực thi sẽ phản ánh không chính xác từ đó hiệu quả kinh tế
thấp, các nguồn đầu tư sẽ bị hạn chế.
1.3.1.3. Chính sách thuế, lãi suất, tỷ giá của Nhà nước
• Chính sách thuế
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của ngân
sách Nhà nước, đồng thời thuế góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội,
điều tiết và kích thích phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện nay Nhà nước ta thực
hiện chính sách thuế để khuyến khích đầu tư, điều chỉnh lại cơ cấu kinh doanh của
các ngành nghề với chính sách ưu đãi, đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước giúp
cho các doanh nghiệp có điều kiện thu hút được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài,
mạnh dạn đầu tư vào các lĩnh vực mới, dài hạn và có điểm tựa để đảm bảo sự công
bằng giúp cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất
kinh doanh phát triển.
• Chính sách lãi suất
Bất kỳ một tổ chức nào từ doanh nghiệp, ngân hàng, tổ chức tài chính khác,
dân chúng…đều rất coi trọng và quan tâm đến vấn đề lãi suất. Lãi suất là mục tiêu
bay…Nhà nước có quy định một số hàng được lưu thông thu ngoại tệ và Nhà nước
có quy định một số hàng hóa bán cho người nước ngoài được thanh toán bằng ngoại
tệ, còn lại ngăn cấm.
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
18
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Các doanh nghiệp huy động vốn đầu tư từ ngoại tệ ngoài việc phải chịu lãi
suất (đi vay) còn chịu sự trượt giá của đồng ngoại tệ. Đặc biệt trong giai đoạn vừa
qua chủ yếu là trượt giá tăng làm cho chi phí vốn tăng, đây là yếu tố rủi ro mang
tính khách quan mà doanh nghiệp phải gánh chịu; yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả kinh doanh và các dự án đầu tư nếu không lường hết được yếu tố trượt
giá, không có dự phòng về biến động tỷ giá khi huy động bằng ngoại tệ sẽ mang lại
hậu quả thua lỗ khó lường.
1.3.1.4. Môi trường pháp lý
Nền kinh tế của chúng ta mới phát triển ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị
trường chịu sự quản lý điều tiết của Nhà nước. Do vậy, nếu môi trường pháp lý (các
bộ luật, đường lối chính sách…) chưa toàn diện đồng bộ, chưa phù hợp với kinh tế
thị trường thì sẽ không tạo được môi trường kinh doanh công bằng, hấp đẫn. Nếu
không có một hệ thống pháp luật hữu hiệu bảo vệ các nhà đầu tư thì cũng rất khó
kêu gọi đầu tư, vì các nhà đầu tư sẽ không ưu tiên khi bỏ vốn mà chủ yếu đầu tư
trung hạn, dài hạn thiếu sự bảo đảm lâu dài của luật pháp. Như vậy có thể nói môi
trường pháp lý là điều kiện hết sức cần thiết để tạo môi trường kinh doanh lành
mạnh, bảo đảm các điều kiện về lâu dài cho các nhà đầu tư từ đó tạo điều kiện để
các doanh nghiệp mở rộng đầu tư thu hút nhiều nguồn vốn đáp ứng cho các chiến
lược kinh doanh đề ra. Ở Việt Nam, khi luật chứng khoán ra đời là một điều kiện rất
thuận lợi để bảo vệ các nhà đầu tư, nhà phát hành chứng khoán, tạo môi trường lành
mạnh cho doanh nghiệp thu hút vốn trên thị trường này.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
1.3.2.1. Chiến lược kinh doanh
Ngay từ khi mới ra đời cũng như trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
20
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
Nhằm phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật; phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện
nay các doanh nghiệp phải lựa chọn và đào tạo nâng cao trình độ nguồn nhân lực.
Đi đôi với việc tuyển chọn, đào tạo thì việc quản lý sử dụng con người và trả công
người lao động cũng phải phù hợp nếu không dẫn tới tình trạng “chảy máu chất
xám” trong doanh nghiệp.
• Chính sách về tài chính và quản lý kinh doanh
Trên cơ sở các mục tiêu kinh doanh đề ra phải có chính sách tài chính phù
hợp. Mặt khác quản lý kinh doanh cũng phải thường xuyên đổi mới đáp ứng và phù
hợp với nhiệm vụ kinh doanh, có như vậy các mục tiêu của chiến lược kinh doanh
mới có tính khả thi.
Tóm lại: Với mỗi giai đoạn phát triển doanh nghiệp đều có một chiến lược
kinh doanh phù hợp. Xuất phát từ chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp xác định
nhu cầu về vốn cũng phải tương ứng, các giai đoạn kinh doanh khác nhau thì nhu
cầu về vốn cũng khác nhau và phương thức để huy động vốn cũng khác nhau. Khi
mà doanh nghiệp chưa có điều kiện để phát triển hay cơ hội kinh doanh chưa tới thì
vốn kinh doanh cũng không cần nhiều, ngược lại khi kinh doanh phát triển cơ hội
đến đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn lớn cho kinh doanh. Trên cơ sở nhu
cầu vốn, nó là cơ sở để doanh nghiệp lựa chọn và khai thác triệt để các phương thức
huy động vốn hay nói cách khác chiến lược kinh doanh là điểm xuất phát để doanh
nghiệp vạch ra chính sách huy động vốn.
1.3.2.2. Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Tình hình tài chính của doanh nghiệp có lành mạnh hay không nó phản ánh
“sức khỏe” của doanh nghiệp. Xem xét tình hình tài chính của một doanh nghiệp có
thể xem xét ở một số chỉ tiêu sau:
• Tỷ suất lợi nhuận
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
thấp thì doanh nghiệp có thể sẽ không thanh toán kịp thời các khoản nợ đến hạn.
- Xem xét khả năng thanh toán lãi vay: Được tính bằng cách chia lợi
nhuận trước thuế và lãi vay cho lãi vay. Chỉ tiêu này cho biết khả năng lợi nhuận
đảm bảo chi trả lãi vay hàng năm, xem xét chỉ tiêu này để thấy được khả năng kinh
doanh của doanh nghiệp khi huy động các nguồn vốn phải trả lãi vay có đảm bảo
hay không. Từ đó doanh nghiệp có thể vay tiếp hoặc hạn chế nhằm sử dụng triệt để
nguồn vốn chủ sở hữu.
Như vậy, thông qua việc xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp từ đó
có các phương hướng kinh doanh mở rộng, liên doanh liên kết hay thu hẹp…cho
phù hợp với điều kiện hiện tại. Mặt khác, tình hình tài chính của doanh nghiệp được
công bố công khai là cơ sở để các nhà đầu tư xem xét lựa chọn có đầu tư, cho vay
vốn đối với doanh nghiệp hay không.
1.3.2.3. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp
Nguồn vốn trong doanh nghiệp thể hiện bằng bảng cân đối kế toán bao gồm:
Các khoản nợ như nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, trái phiếu phát hành (nếu có), các
khoản nợ khác. Vốn chủ sở hữu có thể bao gồm cả cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
và lợi nhuận không chia. Tỷ trọng các nguồn đó trong tổng nguồn vốn tạo nên cơ
cấu vốn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh đòi
hỏi phải có một cơ cấu vốn hợp lý trong mối quan hệ giữa các khoản nợ và vốn chủ
sở hữu.
Cơ cấu vốn của doanh nghiệp có thể thay đổi theo những điều kiện tác động
từ bên ngoài, nhưng tuỳ theo mục đích kinh doanh và yêu cầu của nhà quản lý
doanh nghiệp mà tại những thời điểm nhất định doanh nghiệp phải lựa chọn cho
mình một cơ cấu vốn phù hợp. Việc thay đổi cơ cấu vốn có thể làm cho doanh
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
23
Đề tài: Tăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần Viglacera Hà Nội
nghiệp lựa chọn các hình thức huy động vốn khác nhau, chẳng hạn: khi tỷ lệ vốn
vay cao hơn tỷ lệ nợ trong cơ cấu vốn tối ưu mà doanh nghiệp đã dự tính thì lúc này
doanh nghiệp có thể mở rộng vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới; ngược
ra, đồng thời phải tăng cường quay vòng vốn nhanh để tiết kiệm chi phí sử dụng
vốn nhằm đem lại hiệu quả kinh doanh, hiệu quả thiết thực của việc huy động vốn.
Vốn cho kinh doanh của doanh nghiệp là rất cần thiết. Tuy vậy, không phải
bất cứ lúc nào việc huy động được nhiều nguồn vốn (đặc biệt là vốn vay) cũng là
tốt, đôi khi nó là gánh nặng đè lên tình hình tài chính mất cân đối của doanh nghiệp.
Huy động vốn phải đảm bảo sử dụng triệt để và có hiệu quả các nguồn vốn huy
đông, việc sử dụng tốt các nguồn vốn sẵn có cũng là một biện pháp huy động vốn
tích cực. Như vậy, có thể nói sử dụng vốn có hiệu quả hay không phản ánh quá
trình huy động vốn có mang lại lợi ích thiết thực hay là nhân tố gây nên sự bất lợi
cho doanh nghiệp.
Kết luận:
Qua việc xem xét, đánh giá những vấn đề cơ bản có tính chất lý luận về vốn,
nguồn vốn kinh doanh và một số phương thức huy động vốn cho các doanh nghiệp
trong điều kiện nền kinh tế thị trường cho thấy: vốn là yếu tố cơ bản nhất cho việc
ra đời, hoạt động và phát triển của một doanh nghiệp; trong nền kinh tế thị trường
hiện nay nguồn vốn cũng như các phương thức huy động vốn rất đa dạng phong
phú mà một doanh nghiệp có thể khai thác lựa chọn thu hút vốn đáp ứng các yêu
cầu kinh doanh của mình. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện của mỗi doanh nghiệp,
trong mỗi thời kỳ nhất định, để có thể sử dụng các phương thức huy động vốn thích
hợp, khai thác có hiệu quả nhất các nguồn vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh
luôn là vấn đề quan tâm bức xúc của doanh nghiệp.
Học viên: Hoàng Thị Bình Minh CH K16_ĐH KTQD
25