Đề tài : Nghiên cứu tuyển chọn cây trội loài xoan ta ( melia azedarach linn) trong rừng trồng và cây mọc rải rác tại huyện thiệu hoá, tỉnh thanh hoá và huyện ba bể, tỉnh bắc kạn - Pdf 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
***************** BẠCH TUẤN ĐỊNH
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN CÂY TRỘI LOÀI XOAN TA’
(Melia azedarach Linn) TRONG RỪNG TRỒNG VÀ CÂY MỌC
RẢI RÁC Ở TẠI HUYỆN THIỆU HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
VÀ HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP


Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Thu Hà THÁI NGUYÊN-2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này hoàn
toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài
liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc./.

Tác giả Bạch Tuấn Định

1.1 Vai trò của giống trong sản xuất lâm nghiệp
4
1.2 Cơ sở khoa học của chọn giống cây rừng
5
1.2.1 Cơ sở khoa học khảo nghiệm loài và xuất xứ
6
1.2.2 Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế
8
1.3 Nghiên cứu về chọn lọc cây trội
12
1.4 Một số đặc điểm cây Xoan ta
20
Chƣơng 2. TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
24
A. Huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
24
2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ba Bể tỉnh Bắc Cạn
24
2.1.1 Vị trí địa lý
24
2.1.2 Địa hình địa thế
24
2.1.3 Điều kiện khí hậu
25
2.1.4 Chế độ thủy văn
25
2.2 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng huyện Ba bể, tỉnh Bắc cạn
26
2.2.1 Hiện trạng các loại đất đai
26

3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu
32
3.3.1 Ngoại nghiệp
32
3.3.2 Nội nghiệp
36
Chƣơng 4 . KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
38
4.1 Đánh giá lâm phần Xoan ta chọn cây trội, chọn cây trội dự tuyển
38
4.1.1 Xác định các lâm phần tuyển chọn cây trội Xoan ta
38
4.1.2 Đánh giá các lâm phần tuyển chọn cây trội
39
4.1.3 Chọn cây trội dự tuyển
41
4.2 Xác định độ vƣợt của cây trội dự tuyển
41
4.2.1 Theo phương pháp điều tra thống kê
41
4.2.2 Theo phương pháp 5 cây so sánh
43
4.3 Đánh giá các cây trội dự tuyển theo chỉ tiêu tổng hợp
45
4.4 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh và quản lý cây trội để thu hái quả
51
4.4.1 Biện pháp kỹ thuật lâm sinh
51
4.4.2 Biện pháp quản lý cây trội
51

Chiều cao dưới cành
H
vn

Chiều cao vút ngọn
TB
Trung bình
D
1.3m
Đường kính ở vị trí 1.3m
Lp
Lâm phần
Dt
Đường kính tán
[1]
Số hiệu tài liệu trích dẫn trong danh sách tài liệu tham khảo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
DANH MỤC CÁC BẢNG

TT
bảng
Nội dung
Trang
4.1
Thông tin về các lâm phần tuyển chọn cây trội Xoan ta
rừng Xoan khu vực nghiên cứu
38

8 DANH MỤC CÁC HÌNH

TT
hình
Nội dung
Trang
4.1
Biểu đồ sinh trưởng về chiều cao vút ngọn
53
4.2
Biểu đồ sinh trưởng về đường kính gốc
53
4.3
Biểu đồ về chất lượng cây con tại vườn ươm
53
4.4
Ảnh cây giống Xoan ta được gieo từ hạt thu hái từ các cây trội đã chọn
54 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
lêi c¶m ¬n

Luận văn này được hoàn thành tại trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, theo chương trình cao học, chuyên ngành lâm nghiệp, khoá XVII

trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng.
Một chương trình cải thiện giống muốn đạt được kết quả tốt không chỉ dừng
lại ở chỗ có những nguồn giống được cải thiện mà điều quan trọng tiếp theo là
cần phải sản xuất được những giống đó trên quy mô lớn để phục vụ lâu dài
cho các chương trình trồng rừng nhằm đáp ứng được các giá trị xã hội, cho
năng suất và giá trị kinh tế cao. Vì vậy các nhà chọn tạo giống cây trồng một
mặt vừa áp dụng các biện pháp chọn lọc, một mặt vừa nghiên cứu gây tạo
giống mới, nhất là đối với các giống cây được trồng rộng rãi hiện nay có giá
trị kinh tế cao. Áp dụng các phương pháp chọn lọc đã có được nhiều giống
cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứng với những
vùng sinh thái có điều kiện hoàn cảnh khắc nghiệt và nhiều đặc tính mới khác.
Việc xây dựng rừng giống và vườn giống vẫn là một biện pháp quan trọng
trong các chương trình cải thiện giống cây rừng và vẫn được áp dụng phổ biến
ngay cả khi đã sản xuất được giống này bằng con đường sinh dưỡng.
Trong chương trình cải thiện giống cây rừng, việc thu hái hạt giống cây
trội để thiết lập làm rừng giống từ hạt được coi là hướng đi chủ yếu trong giai
đoạn đầu của quá trình cải thiện giống. Các rừng giống sau khi được tỉa thưa di
truyền sẽ là nơi cung cấp hạt giống được cải thiện cho sản xuất và tạo lập được
quần thể chọn giống có mức độ di truyền cao phục vụ cho công tác cải thiện
giống ở các mức độ cao hơn. Đồng thời tiến hành xây dựng các khảo nghiệm
tăng thu di truyền sử dụng nguồn hạt giống dùng trong sản xuất đại trà và chọn
được những giống có giá trị cao phục vụ cho công tác trồng rừng trong giai
đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2
Trong các phương pháp chọn lọc tạo ra giống mới hiện nay thì phương
pháp chọn lọc cây trội được áp dụng rộng rãi. Nguồn giống thu nhận được từ
phương pháp chọn lọc cây trội đã khẳng định được chất lượng giống và đã


1.1 Vai trò của giống trong sản xuất lâm nghiệp
Giống cây rừng là khái niệm chung về nguồn giống phục vụ cho công
tác trồng rừng. Cây rừng có đời sống lâu năm, diện tích gieo trồng thường rất
lớn, việc tác động vào điều kiện hoàn cảnh chỉ có thể thực hiện tốt đối với cây
con ở giai đoạn vườn ươm và một hai năm đầu sau khi gieo trồng mà không
thể chăm sóc cho đến khi khai thác như cây nông nghiệp ngắn ngày. Do đó
giống là một trong những khâu quan trọng nhất trong sản xuất lâm nghiệp,
không có giống tốt thì không thể đưa năng suất rừng lên cao. Davidson
(1996), nghiên cứu so sánh vai trò của giống được cải thiện và các biện pháp
kỹ thuật lâm sinh như ruột bầu, làm đất, bón phân, làm cỏ từ giai đoạn vườn
ươm đến năm thứ 6 sau khi trồng cho các loài cây mọc nhanh như Keo, Bạch
đàn trên một số lập địa ở một số nước nhiệt đới đã đi đến nhận xét rằng, trong
giai đoạn vườn ươm và một năm đầu sau khi trồng cải thiện giống chỉ chiếm
15% năng suất, đến năm thứ ba cải thiện giống đã tăng lên 50% và đến năm
thứ sáu cải thiện giống chiếm đến 60% năng suất [20].
Thực tế cho thấy ở nước ta trong những năm trước đây năng suất rừng
tự nhiên chỉ đạt từ 2-3 m
3
/ha/năm, năng suất rừng trồng cũng chỉ đạt 5-
10m
3
/ha/năm. Gần đây do những thành quả của cải thiện giống, năng suất
rừng trồng một số loài cây ở một số nơi đã tăng lên rõ rệt. Tuy vậy, vẫn chưa
thoả mãn được nhu cầu ngày một gia tăng về gỗ, củi và các lâm sản khác của
xã hội đòi hỏi ngành lâm nghiệp phải đáp ứng. Điều đó chỉ có thể giải quyết
khi công tác tuyển chọn giống được đẩy mạnh kết hợp với các biện pháp lâm
sinh thâm canh theo chiều sâu. Tuyển chọn giống có nghĩa là chọn loài cây

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
lần so với các cây trồng khác (Hamrick và cộng sự, 1979) [23]. Vì vậy các
bước đi cơ bản được áp dụng trong các chương trình cải thiện giống cây rừng
là từng bước chọn lọc loài, xuất xứ và chọn lọc cá thể nhằm lợi dụng một
cách triệt để những biến dị sẵn có trong tự nhiên để tạo ra các giống được cải
thiện đưa vào sản xuất. Mặt khác, do cây rừng sống lâu năm, khó áp dụng
phương pháp chọn lọc nhiều lần như cây nông nghiệp ngắn ngày để loại bỏ
kiểu hình không có kiểu gen tương ứng. Vì thế, bên cạnh việc kiểm tra và
đánh giá kiểu gen của cây mẹ bằng con đường hữu tính thông qua các khảo
nghiệm hậu thế thì các khảo nghiệm dòng vô tính bằng cây ghép, cây hom
hoặc cây mô là rất cần thiết. Trong lâm nghiệp để có giống tốt đưa ra sản
xuất, không thể thực hiện trong một thời gian ngắn mà phải cần nhiều thời
gian vì cây rừng có tuổi sinh học cao và biến dị các tính trạng rất phức tạp.
Nhưng do tính cấp thiết hiện nay của xã hội, đòi hỏi giống có năng xuất cao
để phục vụ công tác trồng rừng, vì vậy cải thiện giống cây rừng phải kết hợp
giữa mục tiêu lâu dài là chọn, tạo được những giống cây di truyền ổn định các
tính trạng mong muốn cho các thế hệ sau và mục tiêu trước mắt vẫn đảm bảo
có giống tốt phục vụ sản xuất. Từ đó có thể thấy cải thiện giống phải là một
việc làm thường xuyên liên tục trong nhiều thế hệ và qua mỗi thế hệ đưa năng
suất rừng từng bước tăng lên.
1.2.1 Cơ sở khoa học khảo nghiệm loài và xuất xứ
Khảo nghiệm loài và xuất xứ là những bước đầu tiên của các chương
trình cải thiện giống cây rừng nhằm xác định được các loài và xuất xứ phù
hợp với mục tiêu kinh tế hoặc phòng hộ, đồng thời lại phải có khả năng thích
ứng tốt với lập địa gây trồng.
Trong quá trình chọn lọc tự nhiên cây rừng đã có tính thích ứng với
những điều kiện địa lý – sinh thái nhất định và hình thành nên các biến dị di
truyền hết sức phong phú cả về hình thái, tập tính sinh trưởng và khả năng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
- Khảo nghiệm nhiều xuất xứ: Xác định quy mô và kiểu biến dị giữa
các xuất xứ của những loài có triển vọng để chọn ra một số ít xuất xứ có triển
vọng nhất.
- Khảo nghiệm ít xuất xứ: Xác định được những xuất xứ có triển vọng
nhất phù hợp với từng lập địa ở các nơi khảo nghiệm.
- Khảo nghiệm chứng minh xuất xứ: Xác định chính xác một hoặc hai
xuất xứ tốt nhất đưa vào trồng rừng ở mỗi lập địa hay theo mục tiêu sử dụng
cuối cùng.
Như vậy, khảo nghiệm xuất xứ là bước tiếp sau của khảo nghiệm loài
và chỉ tiến hành đối với các loài đã được khẳng định. Tuy nhiên trong thực tế
khi người làm công tác chọn giống nắm vững các thông tin cần thiết về đặc
tính sinh học, phân bố và đặc điểm sinh thái cũng như khả năng cung cấp sản
phẩm theo mục tiêu kinh tế hoặc phòng hộ của loài cây định lựa chọn thì việc
chọn lọc loài được kết hợp với chọn lọc xuất xứ trong cùng một khảo nghiệm
và được gọi là khảo nghiệm loài xuất xứ. Đây là một phương thức khảo
nghiệm giống được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng nhằm rút ngắn thời
gian nghiên cứu để chuyển giao nhanh các tiến bộ kỹ thuật về cải thiện giống
vào thực tế sản xuất.
1.2.2 Chọn lọc cây trội và khảo nghiệm hậu thế
Sau khi đã xác định được loài và xuất xứ tốt đáp ứng với mục tiêu chọn
giống và phù hợp với mỗi vùng sinh thái thì chọn lọc cây trội là bước đi quan
trọng nhất của bất kỳ một chương trình nào về cải thiện giống cây rừng [7].
Theo Eldridge (1977) cây trội là nền tảng của một chương trình chọn giống.
Khi các cây trội được chọn lọc cẩn thận và được đánh giá thông qua các khảo
nghiệm hậu thế để từ đó xây dựng vườn giống cung cấp giống cho sản xuất
thì năng suất rừng sẽ từng bước được nâng cao. Ngoài ra cây trội cũng là vật


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
- Phải điều tra tỉ mỉ và có hệ thống trên toàn bộ diện tích lâm phần được
chọn làm quần thể để chọn lọc cây trội nhằm không bỏ qua các kiểu hình
xuất sắc.
- Việc so sánh và đánh giá cây trội phải được thực hiện một cách khách
quan, thống nhất do tập thể cán bộ có kinh nghiệm thực hiện.
Các cây trội đã chọn và đánh giá theo những nguyên tắc nêu trên về
thực chất chỉ là chọn lọc được kiểu hình theo mục tiêu đề ra, vì vậy chưa hẳn
đã phản ánh đúng bản chất di truyền của chúng. Kiểu hình (phenotype - P) là
sự biểu hiện của kiểu gen (genotype - G) trong những điều kiện môi trường
(environment - E) xác định và là sự tương tác giữa kiểu gen và điều kiện
môi trường :
P = G + E
Như vậy một kiểu hình tốt có thể phản ánh một kiểu gen tốt song cũng
có thể do hoàn cảnh thuận lợi tạo nên. Do đó không phải cây trội nào cũng di
truyền kiểu hình tốt cho các thế hệ sau, vì lẽ đó để đánh giá khả năng di
truyền các tính trạng trội của chúng nhất thiết phải tiến hành xây dựng các
khảo nghiệm hậu thế hoặc khảo nghiệm dòng vô tính.
Trong thực tế các cây trội chọn lọc theo kiểu hình thường được sử dụng
trực tiếp như các cây mẹ để lấy giống phục vụ sản xuất. Nếu hạt của những
cây mẹ đã chọn được thu hái hỗn hợp thì đó là chọn lọc hàng loạt (mass
selection) và tăng thu di truyền (G) đạt được bằng phương pháp chọn lọc
này phụ thuộc vào quy mô biến dị của kiểu hình (ú
p
), cường độ chọn lọc cây
trội (i) và khả năng di truyền các tính trạng cần cải thiện (h
2
).

40% so với rừng trồng bằng hạt chưa được cải thiện. Các tác giả này đã chỉ ra
lợi nhuận kinh doanh rừng trồng, ngoài các biện pháp thâm canh còn chịu ảnh
hưởng sâu sắc của hai yếu tố là chất lượng di truyền của cây hom và giá cả
của việc chọn lọc và nhân giống. Tuy vậy chiến lược nhân giống sinh dưỡng
chỉ có thể đạt hiệu quả khi có các cá thể tốt đã qua chọn lọc và khảo nghiệm
có số lượng đủ lớn các dòng trội đảm bảo nền tảng di truyền cần thiết trong
rừng trồng. Tuy vậy nhân giống sinh dưỡng phải được kết hợp với chương
trình chọn giống cụ thể để cung cấp thường xuyên các dòng mới có sinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
trưởng tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh cho sản xuất (Turnbull và
cộng sự, 1997) [25].
Sơ đồ chung của cải thiện giống cây rừng

ngược lại.
Để chọn lọc và tạo ra được các giống có sinh trưởng, phẩm chất tốt đạt
mục tiêu đề ra đòi hỏi các nhà chọn giống luôn luôn cần tìm tòi nghiên cứu và
phát hiện ra tính chất mới của loài, cá thể dựa trên mục tiêu đặt ra. Nhưng
điều đó thật khó khi công tác trồng rừng cần lượng giống lớn và có chất
lượng tốt đạt được mục đích trồng rừng. Các nhà chọn giống không thể mang
từng cá thể đi nghiên cứu và phân tích tính di truyền của từng tính trạng. Đây
là công việc tốn thời gian mà lượng giống thu lại nhỏ không đáp ứng nhu cầu
của công tác trồng rừng. Vì vậy để chọn lọc được cây có phẩm chất, chất
lượng tốt để làm giống. Các nhà chọn giống đã quan tâm đến mối quan hệ
giữa phẩm chất di truyền (tức kiểu gen) với môi trường để chọn lọc ra những
cá thể đạt chọn làm giống với mục tiêu thu nhận được một lượng đáng kể
tăng thu di truyền càng nhanh và càng rẻ càng tốt nhưng đồng thời duy trì
đựơc một vốn di truyền phong phú đảm bảo tăng thu trong tương lai. Để nhận
được những tăng thu đó cần phải dựa trên các phương pháp chọn lọc nhằm
tạo ra những cá thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của nhà chọn lọc giống để dùng
như những cây bố mẹ trong các chương trình chọn giống và sản xuất hạt. Cây
trội là những cây biểu hiện ra kiểu hình có phẩm chất, chất lượng tốt có độ
vượt so với trị số bình quân trong lâm phần.
Với mục tiêu đề ra là chọn được loài và xuất xứ phù hợp với vùng, thì
chọn lọc là then chốt của bất kỳ một chương trình nào về cải thiện giống cây
rừng. Cây trội là cây dự tuyển đã được đánh giá (là cây có kiểu hình đáp ứng
các yêu cầu sơ bộ của nhà chọn giống, song những cây này còn chưa được
đánh giá và phân cấp hoặc thoả thuận) và được kiến nghị để sản xuất giống
và xây dựng thành rừng giống và vườn giống.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Đây là những cây có kiểu hình ưu trội về sinh trưởng, về hình dạng

Sau khi đã chọn được loài và xuất xứ đáp ứng mục tiêu kinh tế và phù
hợp với mỗi vùng thì chọn lọc cây trội là phần then chốt của bất kì một
chương trình nào về cải thiện giống cây rừng. Chọn lọc là phương pháp tạo
giống, ở đó người ta chọn ra từ quần thể những cỏ thể tốt theo mục đích yêu
cầu chọn giống (chọn dương), hoặc loại ra quần thể những cá thể xấu (khử
âm). Những cá thể được chọn ra hoặc giữ lại trong quần thể là nền tảng hình
thành quần thể mới. Chọn lọc là một trong những phương pháp chọn giống
cơ bản, nó được con người biết đến và sử dụng thường xuyên từ lâu đời và nó
có vai trò rất to lớn trong quá trình chọn tạo ra các giống cây trồng mới, duy
trì và phát triển các đặc tính tốt cũng như trong cải tạo các đặc tính xấu của
giống cây trồng đó có. Hiệu quả chọn lọc cao hay thấp, nhanh hay chậm là
tuỳ thuộc vào những phương thức sinh sản của từng loại cây, mức độ biến dị,
di truyền của tính trạng định chọn và phụ thuộc vào phương pháp chọn lọc.
Khi chọn lọc cây trội phải căn cứ vào mục tiêu chọn lọc để xác định
tiêu chuẩn, phương pháp chọn lọc cho từng trường hợp cụ thể. Mục tiêu khác
nhau thì tiêu chuẩn chọn lọc cũng phải khác nhau, như mục tiêu chọn cây trội
lấy gỗ, chọn cây trội lấy quả, chọn cây trội lấy lá, lấy nhựa.
Với mục tiêu chọn cây trội để lấy gỗ, Lê Đình Khả, Hoàng Thanh Lộc
và Phạm Văn Tuấn (1986) đã triển khai đề tài: “Chọn lọc cây Mỡ mọc nhanh
có hình dáng tốt cho vùng trung tâm” và có một số kết luận như sau: trong số
các rừng Mỡ ở Cầu Hai bên cạnh Mỡ trứng là dạng vỏ nhẵn, chiếm tỉ lệ gần
như tuyệt đối, sinh trưởng tương đối nhanh đó tồn tại dạng nứt vỏ sâu sinh
trưởng chậm và dạng nứt vỏ trung gian sinh trưởng nhanh hơn hai dạng trên.
Các cây trội đó được chọn lọc ở Cầu Hai, Thanh Sơn, xí nghiệp giống 97 và ở
Hương Sơn đều có độ vượt lớn hơn so với chỉ số trung bình của những cây so
sánh và tương ứng với tiêu chuẩn về độ vượt trội được áp dụng ở Liên Xô và
một số nước. Các cây trội đều có khả năng di truyền, đặc điểm sinh trưởng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn



16
có 14 cây có hàm lượng dầu vượt cây trung bình 2 - 8 lần. Hàm lượng dầu
của 21 cây dự tuyển cũng nhiều gấp 3 lần hàm lượng dầu ước tính trung bình
[14].
Trần Vinh và Dương Mộng Hùng (2004) thực hiện đề tài “ Nghiên
cứu tuyển chọn đào lộn hột có năng suất hạt cao chất lưọng tốt cho vùng Tây
Nguyên”. Qua tuyển chọn và bình tuyển cây đào lộn hột trộn tại Đắk Lắc và
Gia Lai đó có cơ sở tuyển được 171 cây đào lộn hột. Qua phân tích chất
lượng thương phẩm bình chọn được 106 cây trội có năng suất cao, phần trăm
vượt trội về năng suất lớn, số cây có cỡ hạt lớn (<180hạt / kg) là tiêu chuẩn
xuất khẩu chiếm tỷ lệ 82,8%, và độ vượt về năng suất đạt 500% . Tỷ lệ nhân
trung bình của cây trội bình tuyển tai Đăk Lăc 27% và Krông Pa – Gia Lai là
27,3% (tiêu chuẩn xuất khẩu tỉ lệ nhân lớn 25%) [18].
Dương Mộng Hùng (2004) tiến hành “Tuyển chọn cây Dẻ Trùng
Khánh trội về sản lượng quả và nhân giống bằng phương pháp ghép”. Kết
quả đã tuyển chọn được 34 cây Dẻ trội với giá trị trung bình của 5 cây so
sánh trên là trên 200 %. Những cây trội được chọn đều có tuổi cao nên sản
lượng khá ổn định và là những cây có có chỉ tiêu sinh trưởng sinh khối lớn.
Phương pháp ghép nêm và phương pháp ghép bình thường cho tỷ lệ cao. Đặc
biệt phương pháp phép nêm đạt tỷ lệ sống 89,5 % sau 42 ngày ghép, phương
pháp ghép bên thân tuy có tỉ lệ sống ít hơn song cùng đạt 78,1%, phương
pháp ghép mắt tỷ lệ thành cây thấp chỉ đạt khoảng 1/16 so với ghép nêm [6].
Với mục tiêu chọn cây trội phục vụ trồng rừng cung cấp gỗ gia dụng,
Nguyễn Việt Cường và Nguyễn Minh Chí (2005, 2006, 2007) đã thực hiện đề
tài : “Nghiên cứu tuyển chọn và nhân nhanh dòng ưu trội về sinh trưởng và
chất lượng gỗ Keo tai tượng tại Tuyên Quang để phục vụ trồng rừng cung cấp
gỗ gia dụng”. Kết quả nghiên cứu đã tuyển chọn được 116 cây trội Keo tai
tượng tại 5 lâm trường thuộc tỉnh Tuyên Quang. Khối lượng thể tích của 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status