Đánh giá tác động của cú sốc kinh tế đến nền kinh tế Việt Nam - Pdf 12



-
1
-

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ - NĂM 2012” TÊN CÔNG TRÌNH:
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CÚ SỐC KINH TẾ
ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM


3. Lịch sử các cú sốc kinh tế và một số cú sốc điển hình 16
3.1 Cú sốc tín dụng năm 2007 16
3.2 Cú sốc dầu mỏ năm 2012 17
3.3 Cú sốc lãi suất năm 2011 17
4. Định nghĩa chu kỳ kinh tế 21
5. Quan hệ của chu kỳ kinh tế với cú sốc kinh tế 22 -
3
-

6. Tình hình hiện nay 22
6.1 Thế giới 22
6.2 Việt Nam 24

CHƯƠNG 2
TRÌNH BÀY BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ CÁC CHU KỲ KINH TẾ
TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM CHƯƠNG 3
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CÚ SỐC KINH TÉ
1. Mô hình thực nghiệm 30
2. Trình bày dữ liệu 32
3. Kết quả mô hình 35
3.1 Kiểm định tính dừng 35
3.2 Kiểm định nhân quả 38
3.3 Sự tương quan giữa các biến 38
3.4 Các kết quả ước lượng 39

3.2 Về phía doanh nghiệp 58
PHẦN KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
5
-

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

OPEC Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
LHQ Liên hợp quốc
EU Liên minh Châu Âu
EUROZONE Khu vực đồng Euro
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTW Ngân hàng Trung ương -
6
-DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH
Danh mục biểu đồ
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Mô hình Ramsey-Cass-Koopmans dùng trong các mô hình tối ưu hóa thời
gian vô hạn với những cú sốc dự báo trước. -
8
-TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cú sốc kinh tế không phải là một khái niệm mới mẻ nhưng vẫn là một ẩn số đối
với các nhà hoạch định chính sách. Hiện nay, những “cú sốc kinh tế” có tác động mạnh
mẽ cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Chính vì thế, việc đo lường
những tác động của “cú sốc kinh tế” và từ đó đề ra những giải pháp thích hợp cho thực
trạng của Việt Nam là một vấn đề bức thiết. Điều đó đã thôi thúc chúng tôi nghiên cứu
đề tài “Đánh giá tác động của cú sốc kinh tế đến nền kinh tế Việt Nam”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Bài viết nghiên cứu những lý thuyết về cú sốc kinh tế. Từ đó tập trung phân tích
những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam thông qua một số cú sốc điển hình để
trả lời cho câu hỏi: “Cú sốc kinh tế tác động đến nền kinh tế Việt Nam như thế nào?”.
Cùng với đó, đề tài đưa ra các dự báo về những cú sốc và hướng đi cho Việt Nam trong
tương lai.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu sử dụng chủ yếu phương pháp định tính, định lượng, thống kê, so
sánh và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu. Đối với nghiên cứu định
lượng được sử dụng trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu dùng mô hình Var 3

một cách hiệu quả nhất những tác động này. Ngoài ra, đề tài còn hướng đến việc nghiên
cứu tác động của các cú sốc nội sinh và ngoại sinh nên trong tương lai đề tài có thể tiếp
tục phát triển việc nghiên cứu và kiểm định tác động của các cú sốc kinh tế đến nền kinh
tế Việt Nam một cách rõ ràng và chi tiết hơn.

-
10
-

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ CÁC CÚ SỐC KINH TẾ
1. Các nghiên cứu trước đây
1.1 Tổng quan các phương pháp nghiên cứu:
Trong số rất nhiều bài nghiên cứu, bài báo trên thế giới tìm hiểu về các tác động của cú
sốc tới nền kinh tế đã sử dụng rất nhiều các phương pháp mà chúng tôi tìm hiểu được như
phương pháp sai biệt – mô hình Ramsey Cass – Koopmans, phương pháp mô hình nhân
tố, phương pháp Matching, mô hình CGE, v.v
Phương pháp sai biệt – mô hình Ramsey Cass – Koopmans chủ yếu được sử dụng
trong nền kinh tế chỉ có một ngành sản xuất, môi trường cạnh tranh hoàn hảo. Các dữ liệu
được quan tâm và đề cập đến trong phương pháp này là vốn, lao động và cung ứng lao
động. Với mục đích là đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng phương pháp
này đã lý giải được sự ảnh hưởng của các yếu tố vốn, lao động và cung ứng lao động đối
với sự tăng trưởng của vốn trong môi trường ổn định. Trong quá trình tìm hiểu phương
pháp, người ta nhận ra rằng đây là phương pháp đơn giản nhất và chỉ áp dụng được trong
môi trường ổn định, khi môi trường bất ổn định hay có cú sốc thì phương pháp này không
thể lý giải được.

toàn bộ nền kinh tế. Trong số đó có thể đề cập đến những bài nghiên cứu của Angrist,
Joshua and Alan Krueger ( 1999); Ian Sue Wing ( 2004 ); Timo Trimborn, University of
Hannover ( 2007 ); Urban Jermann and Vincenzo Quadrini ( 2009); Võ Thị Thúy Anh
(2011); Lê Việt Trung và Nguyễn Thị Thúy Vinh (2011);…
Năm 1999, Angrist, Joshua and Alan Krueger đã cùng nhau nghiên cứu về thị trường
lao động trong nền kinh tế và từ đó đi đến đánh giá các mối quan hệ nhân quả có ích
cho kinh tế lao động (hay còn gọi là chiến lược thực tiễn). Các nhà nghiên cứu đã thu
thập dữ liệu sơ cấp, thứ cấp lẫn cao cấp và sử dụng đạo hàm giá trị trung bình, kiểm
định OLS, CEF và DD model (the differences in differences) . Công trình nghiên cứu của
Angrist, Joshua and Alan Krueger đã cung cấp cái nhìn tổng quan cho mối quan hệ giữa
các yếu tố trường học, công đoàn, nhập cư, nghĩa vụ quân sự và quy mô giáo dục đối với
kinh tế lao động. Tuy nhiên, kết quả của các phương pháp đo lường được sử dụng trong
công trình nghiên cứu này là chưa chắc chắn. -
12
-
“Computable General Equilibrium Models and Their Use in Economy-Wide Policy
Analysis”của Ian Sue Wing(2004) là một trong những công trình được đánh giá rất cao
về trình bày tính toán mô hình CGE của thế giới. Bài nghiên cứu tìm hiểu về số lượng
cung cầu và giá của hàng hóa trong môi trường nền kinh tế đóng bằng cách sử dụng mô
hình CGE và hàm Cobb-doughlas. Kết quả thật bất ngờ khi bài nghiên cứu đã cung cấp
các nguyên tắc cơ bản để tính toán mô hình CGE một cách toàn diện và hơn thế còn nêu
ra các ứng dụng của nó trong nền kinh tế. Mặc dù vậy, nghiên cứu của họ chỉ mới dừng
lại ở việc nghiên cứu trong nền kinh tế khép kín.
Urban Jermann and Vincenzo Quadrini (2009) trong bài viết “Macroeconomic
Effects of Financial Shocks” đã đề cập đến vấn đề thăm dò các động thái của các biến
số thực và biến tài chính của nền kinh tế vĩ mô bị ảnh hưởng bởi những cú sốc tài chính
qua các đối tượng là vốn, nợ nần và quyền chọn mua bán. Nghiên cứu áp dụng mô hình

hai nhóm dữ liệu kết hợp phương pháp phân tích bảng VAR và nhận ra giá dầu, lạm phát
và tỷ giá hối đoái có mối quan hệ dài hạn. Hơn thế, kết quả cho thấy rằng cả hai yếu tố
giá dầu và tỷ giá hối đoái thực sự có tác động đáng kể đối với các hoạt động kinh tế. Sự
gia tăng giá dầu, khấu hao có thể nâng cao hoạt động kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam bị
ảnh hưởng bởi sự thay đổi của giá trị đồng tiền Việt Nam hơn so với biến động của giá
dầu. Lạm phát có tác động tích cực đến hoạt động kinh tế, tuy nhiên tác động của nó
không phải là rất quan trọng.
Và gần đây nhất là giải nobel nghiên cứu khoa học 2011 của Thomas J. Sargent and
Christopher A. Simsvới nghiên cứu của mình là “Empirical Macroeconomics” đã cho
thấy mối quan hệ giữa chính sách kinh tế vĩ mô và tác động của chúng lên nền kinh tế.
1.3 Tổng quan công trình nghiên cứu
Bài nghiên cứu dựa theo ước lượng mức chuyển tỷ giá vào lạm phát ở Việt Nam sử
dụng mô hình tự hồi quy Vectơ VAR, với sự hỗ trợ của phần mềm Eview 6.0 và dựa trên
bài nghiên cứu của Thomas J. Sargent and Christopher A. Sims-Empirical
Macroeconomics. Kế thừa những ý tưởng nghiên cứu đó, áp dụng cho bài nghiên cứu này
với các biến lạm phát, sản lượng , lãi suất. Kết quả thu được cho thấy rằng cú sốc kinh
tế có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Việt Nam.
Các cú sốc tác động vào nền kinh tế gây biến động đột ngột qua các thời kỳ. Nghiên
cứu cũng đã phát hiện ra rằng cú sốc kinh tế ở Việt Nam trong thời gian qua chủ yếu là
do sự biến động một cách bất thường của các yếu tố kinh tế, mà ở đây chúng tôi nghiên
cứu đó là lãi suất, việc tăng lãi suất đã dẫn đến cú sốc lãi suất gây tác động đến nền kinh -
14
-
tế Việt Nam. Do vậy, để đạt được mục tiêu kiểm soát trước hết cần phải ổn định
được các biến, các yếu tố của nền kinh tế, thiết lập một chế độ chính sách phù hợp, theo
dõi và có những biện pháp khắc phục kịp thời nhằm tăng cường sức mạnh, khả năng
chống chọi và sức chịu đựng cho nền kinh tế . Đồng thời, nhà nước cần phải tăng cường

 Những cú sốc gây ra bởi suy thoái trong nền kinh tế quốc dân ( cú sốc suy thoái
kinh tế quốc gia)
 Những cú sốc gây ra bởi suy thoái trong ngành công nghiệp cụ thể mà tạo thành 1
thành phần quan trọng của khu vực cơ sở xuất khẩu (chấn động ngành công
nghiệp)
 Những cú sốc bên ngoài (một thảm họa tự nhiên, đóng cửa một căn cứ quân sự
chuyển động của một công ty quan trọng của khu vực, vv)
Những cú sốc này là không loại trừ lẫn nhau, một nền kinh tế khu vực có thể trải
nghiệm nhiều hơn một hoặc đồng thời các cú sốc.
2.3.2 Theo hình thức
 Cú sốc nội sinh: Là cú sốc có nguồn gốc trong nước, bị gây ra bởi các yếu tố trong
nước như cú sốc chi tiêu,cú sốc tiền tệ…
 Cú sốc ngoại sinh: Là cú sốc có nguồn gốc từ nước ngoài,bị gây ra bởi các yếu tố
bên ngoài như cú sốc thương mại,cú sốc giá cả…
2.3.3 Theo thời gian
 Cú sốc dài hạn (vĩnh viễn): là cú sốc có tác động vĩnh viễn đến nền kinh tế trong
thời gian dài hạn
 Cú sốc ngắn hạn (tạm thời): là cú sốc có tác động tạm thời đến nền kinh tế trong
ngắn hạn
2.3.4 Theo tính chất
 Cú sốc cung: là cú sốc tác động tới tổng cung làm thay đổi tổng cung
 Cú sốc cầu: là cú sốc ngoại sinh tác động tới tổng cầu gây ra dao động về sản
lượng và mức giá
Khi các yếu tố của nền kinh tế như tiêu dùng thực tế, xuất khẩu, giá cả, số lượng
tiền, đầu tư, vốn… đột ngột thay đổi (gia tăng hoặc giảm đi) bởi một sự kiện hoặc
hành động của cá nhân, tổ chức kinh tế trong xã hội và chính phủ thì đó chính là dấu
hiệu của một cú sốc kinh tế sắp xảy ra.
3. Lịch sử các cú sốc kinh tế và một số cú sốc kinh tế điển hình
Ảnh hưởng -
17
-
Có rất nhiều cách mà một cú sốc tín dụng có thể ảnh hưởng đến khách hàng vay. Nó có
thể làm người tiêu dùng thắt chặt chi tiêu, lãi suất và tỷ lệ nhà bị tịch thu tăng lên. Cú sốc
tín dụng còn gây ra một hiệu ứng domino tấn công tất cả các loại khác của các khoản
vay,các ngân hàng thắt chặt tín dụng đối với tất các các loại khác của các khoản vay và
cuối cùng là thất nghiệp gia tăng.
3.2 Cú sốc dầu mỏ năm 2012
Khi cuộc khủng hoảng đồng Euro đang tạm thời được kiểm soát, giá dầu lại trở thành
mối bận tâm nhất của kinh tế thế giới ở thời điểm hiện tại.
Đánh giá những nguy hại gây ra do giá dầu tăng cao đồng nghĩa với việc trả lời bốn
câu hỏi: Đâu là "lực đẩy" của giá dầu? Giá dầu còn leo cao đến đâu? Tác động của nó đến
nền kinh tế cho tới nay là gì?Những lần tăng giá tiếp theo trong tương lai sẽ gây ra những
thiệt hại gì?
Nguyên nhân
 Người ta vẫn cho rằng nguyên nhân của đợt tăng giá dầu thời gian qua là do sự
hào phóng của NHTW các nước. Trong những tháng gần đây các NHTW lớn trên
thế giới đều đồng loạt hỗ trợ thanh khoản, mở rộng chính sách nới lỏng định lượng
như in tiền để mua trái phiếu; hoặc hứa hẹn kéo dài thời gian hạ thấp lãi suất. Từ
đây lại nổ ra cuộc tranh luận về việc liệu có phải chính dòng tiền "giá rẻ" này đã
đưa đẩy các nhà đầu tư đến với những tài sản "vật chất", đặc biệt là dầu.
 Gián đoạn nguồn cung mới là tác nhân góp phần nhiều hơn vào sự đắt đỏ của giá
dầu. Nguồn cung dự trữ quá ít. Dự trữ dầu tại các nước giàu đang ở mức thấp nhất
trong vòng 5 năm trở lại đây. Việc OPEC tăng khả năng dự trữ vẫn chưa có gì là
chắc chắn.Và mối đe dọa về sự thiếu hụt nguồn cung sẽ còn lớn hơn nhiều nếu
Iran hiện thực hóa lời cảnh báo đóng cửa eo biển Hormuz. Thậm chí chỉ cần một

 Hiện tại, dầu có đắt hơn thì cũng chẳng tổn hại gì cho tăng trưởng toàn cầu. Nhưng
nó cũng không giúp được gì cho những nền kinh tế mong manh ở châu Âu. Và nếu
eo biển Hormuz bị đe dọa, dầu sẽ lại tăng giá và đặt dấu chấm hết cho nỗ lực phục
hồi của kinh tế thế giới.
3.3 Cú sốc lãi suất năm 2011
Ứng với các thời điểm Hiệp hội Ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) kêu gọi
đồng thuận và ra quyết định khống chế lãi suất tiền gửi lần lượt ở mức
11%(tháng7/2010), 12% (tháng 11/2010), 14% (tháng 12/2010) và cuối cùng là chế tài
hóa đồng thuận theo Thông tư số 02/NHNN/2011 ngày 3/3/2011, các ngân hàng thông -
19
-
báo mức lãi suất trong giới hạn của đồng thuận song song với việc áp dụng một mức lãi
suất thực chênh lệch khoảng 2 - 3% cho khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, các ngân hàng
áp dụng cùng một mức lãi suất cho các kỳ hạn khác nhau, đặc biệt, cho kỳ hạn từ 6 tháng
trở xuống, cá biệt, có thể áp dụng cho cả kỳ hạn 12 tháng làm cho đường cong lãi suất trở
nên nằm ngang. Nếu loại bỏ phần bù rủi ro tính lỏng ứng với kỳ hạn thì thực chất đường
cong lãi suất ngân hàng luôn có xu hướng dốc xuống từ năm 2009 đến nay, đặc biệt từ
đầu năm 2010 tới nay .
Nguyên nhân
 Vấn đề này đôi khi đến từ các NHTM cổ phần nhỏ vốn gặp khó khăn trong huy
động vốn, buộc phải sử dụng công cụ duy nhất là lãi suất và các phương tiện
khuyến mãi để hấp dẫn người gửi tiền. Để ngăn cản luồng vốn di chuyển, các ngân
hàng lớn cũng buộc phải tăng lãi suất huy động. Kết quả là trào lưu tăng lãi suất
xảy ra không hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu vốn mà từ nhu cầu giữ khách
hàng.Những lý do này cho thấy áp lực về lãi suất không chỉ xuất phát từ nhu cầu
vốn cho sản xuất, tiêu dùng mà còn đến từ các yếu tố liên quan đến tình trạng độc
canh tín dụng, công cụ cạnh tranh thiếu đa dạng và những vấn đề liên quan đến

trong điều kiện năng suất lao động ngày càng giảm, giá xăng dầu, giá điện và
nguồn nguyên liệu đầu vào tăng là các yếu tố làm tăng chi phí sản xuất và đẩy giá
cả hàng hóa lên.
 Lãi suất trên thị trường vốn quốc tế tăng cộng với định mức tín nhiệm quốc gia
của Việt Nam bị giảm buộc Chính phủ phải chấp nhận vay với mức lãi suất cao
hơn để đáp ứng nhu cầu đầu tư năm 2011, 2012.
 Hậu quả của các chính sách ứng phó khủng hoảng nợ công có thể là đợt lạm phát
phi mã và làm tăng lãi suất danh nghĩa ở phạm vi toàn cầu nếu chúng không đi
kèm với các giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế, cải thiện hiệu quả sử dụng vốn nói
chung.
4. Định nghĩa chu kỳ kinh tế
Chu kỳ kinh tế, còn gọi là chu kỳ kinh doanh, là sự biến động của GDP thực tế theo
trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ).
Một chu kỳ kinh tế thường có ba pha
 Suy thoái là pha trong đó GDP thực tế giảm đi. -
21
-
 Phục hồi là pha trong đó GDP thực tế tăng trở lại bằng mức ngay trước suy thoái.
Điểm ngoặt giữa hai pha này là đáy của chu kỳ kinh tế.
 Khi GDP thực tế tiếp tục tăng và bắt đầu lớn hơn mức ngay trước lúc suy thoái,
nền kinh tế đang ở pha hưng thịnh (bùng nổ). Kết thúc pha hưng thịnh lại bắt đầu
pha suy thoái mới. Điểm ngoặt từ pha hưng thịnh sang pha suy thoái mới gọi là
đỉnh của chu kỳ kinh tế
Trong thực tế, các nhà kinh tế học cố tìm cách nhận biết dấu hiệu của suy thoái vì nó
tác động tiêu cực đến mọi mặt kinh tế, xã hội.
Hình 1.1: Các pha của chu kỳ kinh tế


chóng tác động đến nền kinh tế trong nước và đẩy chu kỳ kinh tế đi vào giai đoạn suy
thoái hoặc hưng thịnh.
6. Tình hình hiện nay
6.1 Thế giới
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và LHQ cảnh báo, nền kinh tế thế giới có thể phải đối mặt
nhiều khó khăn hơn trong năm 2012, chủ yếu do chịu tác động của suy thoái tại các nền
kinh tế phát triển. IMF phải điều chỉnh mức dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới xuống
thấp hơn 3,6% trong năm tới. Năm 2012 sẽ là một năm mà kinh tế thế giới hoặc là phục
hồi ở mức chậm, hoặc rơi trở lại suy thoái nếu tình hình không được cải thiện. -
23
-
Châu Âu đứng trước bờ vực suy thoái, những khó khăn của kinh tế châu Âu là mối đe
dọa lớn nhất đối với sự phục hồi kinh tế toàn cầu. Dự báo tăng trưởng GDP châu Âu chỉ
đạt -0,2% năm 2012, và tiếp tục tăng trưởng "yếu ớt" trong những năm tiếp theo.
Kinh tế Mỹ phục hồi "mong manh", trong khi Lục địa già đang tiến dần tới "bờ vực"
suy thoái, Mỹ hiện phải "vật lộn" với khủng hoảng nợ tăng nhanh, cùng những mâu thuẫn
chính trị trong nước. Vừa qua, Chính phủ Mỹ buộc phải nâng mức trần nợ công lên 2.400
tỷ USD và yêu cầu cắt giảm 2.100 tỷ USD chi tiêu công trong mười năm tới. Số người
nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp ở Mỹ tăng mạnh, thị trường nhà đất đóng băng, người
tiêu dùng thắt chặt hầu bao là những minh chứng cụ thể cho thấy, kinh tế Mỹ tuy đang
phục hồi nhưng vẫn khá "mong manh".
Châu Á vẫn được dự báo là sẽ giữ vai trò thúc đẩy kinh tế toàn cầu.Khó khăn của châu
Âu có thể kéo kinh tế toàn cầu sụt giảm vào đầu năm 2012, song tăng trưởng tại châu Á
và Trung Quốc sẽ kéo mọi thứ trở lại quỹ đạo vào cuối năm. Chính các nền kinh tế phát
triển cũng đang ngày càng nhận ra sự thật là sức mạnh kinh tế đang dịch chuyển sang
phía Đông, khi mà phương Tây đang phải vật lộn với sức ép về tín dụng, kinh tế suy thoái
và niềm tin của người tiêu dùng đổ vỡ. Các thị trường mới nổi lần đầu tiên sẽ mua một

chính sách đổi mới để nền kinh tế có được năng suất cao hơn. Sự đổi mới này khả năng
sẽ là một đợt tái cấu trúc mạnh trên tất cả các lĩnh vực. Dù kết quả như thể nào, năm 2012
sẽ vẫn là năm được dự báo có bất ổn bùng phát trên những lĩnh vực được tái cấu trúc.
Dồn dập điều chỉnh tỷ giá và tăng giá xăng, dầu, điện.
"Mở hàng" đầu năm là cú sốc điều chỉnh tỷ giá VND với USD (tăng 9,3% từ ngày
11/2/2011). Tiếp ngay sau đó là những cú sốc dồn dập về tăng giá xăng - dầu (tăng từ 17-
24%) và giá điện (tăng 15,2% từ 1/3/2011). Sự hội tụ tập trung trong thời gian ngắn
những cú sốc tăng giá "khủng" sau thời gian dài cố nén trước đó đã làm bùng phát các
xung lực tiêu cực. Hệ lụy là lạm phát cao kéo dài với mức trên 1% so với tháng trước
suốt 3 quý đầu năm, khiến 3 lần Chính phủ phải chính thức điều chỉnh mức CPI từ mức
kế hoạch đến cuối năm 2011 là 7,5% lên 15%, rồi phấn đấu đạt chỉ 18%, bất chấp đã có
cải thiện rõ rệt so với mọi năm về hạn mức tăng tín dụng (chỉ còn khoảng 12% so với kế
hoạch dưới 20%) và thâm hụt NSNN (chỉ còn 4,8% so với kế hoạch 4,9%).
Cuộc hỗn chiến kiểm soát thị trường ngoại hối, sự chênh lệch kéo dài giá vàng
trong và ngoài nước.
Năm 2011 cũng ghi nhận những cú sốc mới, gây khá nhiều tranh cãi cả trên nghị
trường, cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và tạo lúng túng cho ngân hàng, -
25
-
cũng như những nghi ngại cho người dân về cố gắng kiểm soát thị trường ngoại hối theo
tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 23/2/2011 của Chính phủ, đặc biệt là các động thái
cố gắng không chế trần lãi suất huy động và hạn mức tín dụng, hạn chế đối tượng được
tiếp cận giao dịch tín dụng ngoại tệ, thậm chí tịch thu ngoại tệ buôn bán "ngoài luồng",
lập rào cản hành chính “tiêu chuẩn hóa" nhằm giảm thiểu đối tượng đủ chuẩn được phép
thực hiện nhiệm vụ độc quyền Nhà nước về nhập khẩu, sản xuất và buôn bán vàng
miếng. Điều này cũng khiến chệnh lệch giá vàng trong nước với nước ngoài tăng vọt tới
3-5 tr.đ/lượng (so với tối đa 2 tr.đ/lượng năm 2010) và kéo dài khó hiểu hàng tháng trời,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status