Nghiên cứu trật tự từ câu đơn tiếng Anh trên bình diện kết học, nghĩa học, dụng học (có so sánh đối chiếu với tiếng Việt) - Pdf 12


1
Mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Cho tới nay đã có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu về trật
tự từ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Các công trình này đã đa ra đợc những
nét phổ quát về trật tự từ, một số chức năng cơ bản của trật tự từ nói chung
và trật tự từ trong câu nói riêng. Bên cạnh đó, cũng có khá nhiều công trình
đi sâu so sánh trật tự từ trong câu giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Tuy nhiên,
nhìn chung, các công trình này chủ yếu chỉ dừng lại ở sự so sánh về trật tự từ
trong cấu trúc cú pháp và ít nhiều trong cấu trúc ngữ nghĩa; cha có công
trình nào đi sâu so sánh trật tự từ trong câu đơn trần thuật giữa tiếng Anh và
tiếng Việt ở bình diện ngữ dụng. Mặt khác, trong quá trình giảng dạy tiếng
Anh nhiều năm, chúng tôi nhận thấy rằng đa số học sinh Việt Nam rất lúng
túng khi học hay sử dụng những câu tiếng Anh có trật tự từ không giống với
các câu tiếng Việt.
Kết quả nghiên cứu của luận án do đó, sẽ góp phần vào việc nghiên
cứu so sánh trật tự từ tiếng Anh và tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học,
nghĩa học và dụng học, đồng thời sẽ giúp ích cho ngời học cũng nh ngời
sử dụng tiếng Anh và tiếng Việt.
2. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận án khảo sát trật tự từ trong 3 loại câu trần thuật SVO, SVC và
SVA của tiếng Anh, trong đó S là chủ ngữ, V là động từ, O là tân ngữ trực
tiếp, C là bổ ngữ cho chủ ngữ và A là trạng ngữ , và sau đó so sánh với tiếng
Việt. Cụ thể là luận án tập trung miêu tả các kiểu trật tự từ cơ bản và các
trờng hợp thay đổi trật tự từ trong các loại câu trên, chỉ ra các nguyên nhân
dẫn đến những sự thay đổi trật tự từ này. Việc đối chiếu sẽ đợc tiến hành
trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học.
3. Mục tiêu của luận án
- Tổng quan tình hình nghiên cứu trật tự từ trong câu tiếng Anh và tiếng

đơn trần thuật giữa hai ngôn ngữ, từ đó xác định những ảnh hởng tích
cực và tiêu cực của chúng đối với thực tiễn học tập và sử dụng tiếng Anh
của ngời Việt.
6. Nguồn t liệu nghiên cứu
T liệu của luận án đợc rút ra từ các câu trích dẫn trong các tác phẩm
văn học nổi tiếng ở các nớc bản xứ nh Anh, Mỹ, úc (có đối chiếu với bản
dịch của các dịch giả Việt Nam) và các tác phẩm văn học của ngời Việt.
Khi cần thiết, chúng tôi sử dụng cả nguồn t liệu là các từ điển, sách giáo
khoa, tạp chí
7. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả liên
quan đến luận án, tài liệu tham khảo và t liệu trích dẫn, luận án bao gồm 4
chơng với 174 trang chính văn. Nội dung chính của luận án
Chơng 1: cơ sở lý luận về nghiên cứu trật tự từ
tiếng Anh v tiếng Việt
1.1. Khái niệm trật tự từ
Khái niệm trật tự từ đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau: là trật tự
của các yếu tố cấu tạo từ trong các từ ghép; là trật tự kết hợp giữa các từ
trong cụm từ; là trật tự trớc sau của các thành phần trong câu; và là thứ tự
sắp xếp của các vế trong một câu ghép.

3
1.2. Khái niệm về câu và phát ngôn
Trên cái nền của sự phân biệt ngôn ngữ và lời nói, cần thiết phải
phân biệt các khái niệm: câu và phát ngôn; trật tự của câu và chuỗi
các từ của phát ngôn.
1.3. Sự phân loại câu đơn tiếng Anh

Khi nghiên cứu trật tự từ trong câu đơn, chúng ta cần phải xem xét một
số đặc điểm chính của câu, trong đó có hai đặc điểm sau đây: tính hình tuyến
và tính tầng bậc. Theo R. A.Jacobs [1995], các câu đợc sản sinh ra và đợc
tiếp nhận trong một chuỗi hình tuyến. Không ai có thể phát ngôn cùng một
lúc tất cả các từ trong một câu, các từ đợc nói (hay viết) và đợc nghe (hay
đọc) trong một chuỗi thời gian từ trớc cho đến sau, một chuỗi đợc đa ra

4
trong hệ thống chữ viết tiếng Anh là một quá trình viết từ trái sang phải. Các
câu còn đợc cấu tạo có tính tầng bậc. Câu không chỉ đơn giản là những
chuỗi từ, mà các từ hợp thành những nhóm từ. Nhóm từ này lại có thể nằm
trong những nhóm lớn hơn nữa.Trong câu những thành phần nhỏ hơn là
thành viên của những phần lớn hơn, những phần này đến lợt chúng lại là bộ
phận của những thành phần lớn hơn nữa. Mọi việc đều dễ giải quyết hơn nếu
chúng đợc đặt trong một cái khung lớn hơn.
1.6. Nghiên cứu trật tự từ trên bình diện kết học
Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu trật tự từ ở bình diện này và đã đạt đợc
nhiều kết quả. Chẳng hạn nh: trật tự từ là một bộ phận của cú pháp; trật tự từ
của các thành phần trong cú là một trong những thông số loại hình trật tự từ
quan trọng nhất; tất cả các ngôn ngữ đều có một trật tự từ trội (dominant), phổ
biến nhất; trong các câu trần thuật có chủ ngữ và tân ngữ là danh từ, thì trật tự
phổ biến là trật tự mà ở đó chủ ngữ đứng trớc tân ngữ; nếu một ngôn ngữ có
trật tự từ tự do, nó sẽ có sự phù hợp về ngôi, trái lại, nếu một ngôn ngữ không
có sự phù hợp về ngôi, nó sẽ không có trật tự từ tự do; về mặt lô gích có thể có
sáu loại trật tự từ: SOV, SVO, VSO, VOS, OVS, OSV
1.7. Nghiên cứu trật tự từ trên bình diện nghĩa học
ở bình diện nghĩa học, các tác giả đã chỉ ra đợc những vai trò của trật
tự từ nh sau: trật tự từ là một trong các phơng tiện biểu hiện các quan hệ
cách; trật tự từ xác định vị trí các loại chủ ngữ ngữ pháp, chủ ngữ lô-gích
và đề ngữ (chủ ngữ tâm lý) trong cú; sự lựa chọn kẻ hành động, kẻ bị tác


Chơng 2: nghiên cứu kết học v nghĩa học của Trật
tự từ kiểu SVO v SVC trong tiếng Anh
(đối chiếu với tiếng Việt)

2.1. Trật tự từ thuận SVO trong tiếng Anh
Cấu trúc SVO là loại cấu trúc câu mà đa số các nhà ngôn ngữ học đều
lấy đó làm trật tự từ cơ bản của câu tiếng Anh. Trật tự này là trật tự trội nhất
của tiếng Anh. Thí dụ:
- He built a house. Anh ta đã xây một ngôi nhà.
2.2. Các biến thể trật tự từ của cấu trúc SVO tiếng Anh
Những t liệu chúng tôi thu thập đợc trong các tác phẩm văn học của
Anh, Mỹ và úc, cho thấy ở loại cấu trúc SVO của tiếng Anh, thành phần tân
ngữ trực tiếp có thể đợc chuyển lên đầu câu, đứng trớc chủ ngữ và động từ,
khi đó chúng ta có trật tự: OSV. Những trờng hợp chuyển thành phần tân
ngữ trực tiếp lên đầu câu trong tiếng Anh gọi là sự chuyển di về phía trớc
(fronting/preposing). ở đây chúng ta cần phân biệt rõ hai khái niệm: sự
chuyển di về phía trớc và đảo ngữ (inversion) trong tiếng Anh. Sự chuyển di
về phía trớc là việc chuyển thành phần tân ngữ trực tiếp của các câu trần
thuật lên đầu câu, còn vị trí của thành phần chủ ngữ và toàn bộ các yếu tố
của động ngữ vẫn giữ nguyên không thay đổi. Trong khi đó thì đảo ngữ là
những cấu trúc câu trần thuật mà trong đó chủ ngữ lại đi theo sau một phần
hoặc toàn bộ các yếu tố của động ngữ, do đó chúng ta sẽ có trật tự nh sau:
OVS. Tuy nhiên, theo R. Quirk [1976], hiện tợng đảo ngữ thờng gặp hơn
ở các cấu trúc SVC và SVA vì ở hai cấu trúc này thành phần đi sau động từ
(C và A) liên kết chặt chẽ với động từ khi chúng làm chủ đề đánh dấu (tức
chủ đề đợc nhấn mạnh đặc biệt) thì động từ cũng bị thu hút vào vị trí
trớc chủ ngữ. Để tiện cho việc dùng tên gọi, trong luận án này, chúng tôi
gọi tất cả các trờng hợp thay đổi trật tự từ của các cấu trúc SVO, SVC và
SVA là các biến thể trật tự từ.

Tự nhiên à! Phải, nhng chúng ta nghe theo Chúa chứ không theo tự
nhiên đợc!)
2.2.2. Biến thể trật tự từ OVS
Theo S. Steele [1976], trên thực tế ở rất nhiều ngôn ngữ có trật tự từ cơ
bản SVO thì chủ ngữ của các nội động từ có thể đi sau động từ, nhng chủ
ngữ của các ngoại động từ thì không, (tức là không có kiểu cấu trúc OVS).
Trong quá trình xử lý t liệu chúng tôi phát hiện thấy tuy có số lợng không
nhiều nhng thực tế là có tồn tại loại câu có trật tự đảo là OVS. Ví dụ:
The first of the Seventy-First is come. Brethren, execute upon him the
judgment written. Such honour have all His saints
!
(Giờ đến tội thứ nhất của loạt thứ bẩy mơi mốt. Giáo hữu hãy thi
hành sự phán xử đã thành văn đối với hắn. Vinh dự ấy thuộc về mọi ngời
thánh thiện của chúa!) 7
2.3. Nhận xét chung về trật tự từ của cấu trúc SVO tiếng Anh
i) Trong cấu trúc trật tự từ thuận SVO, thành phần động từ (V) sẽ chi
phối thành phần tân ngữ trực tiếp (O) đi ngay sau nó. Và các động từ này
phải là các ngoại động từ (transitive verbs). Thành phần tân ngữ trực tiếp là
danh từ hay đại từ.
ii) Các câu OSV của tiếng Anh khi đợc dịch sang tiếng Việt thờng có
hai trờng hợp:
- Các câu tiếng Việt thờng cũng thay đổi trật tự từ theo, đặc biệt là các
biến thể có thành phần tân ngữ trực tiếp là các đại từ, nhng đôi lúc phải
dùng thêm các h từ hay giới từ trớc hoặc sau tân ngữ. Đó là các từ nh:
mà, thì, do, về
- Các câu tiếng Việt không thay đổi trật tự từ, tức là lại dịch với cấu trúc
thuận SVO

Có thể tạm xếp các biến thể trật tự từ vào 3 trờng hợp, trong đó thành
phần tân ngữ đợc đa lên đầu câu có những đặc trng ngữ pháp và ngữ
nghĩa nh sau:
2.5.1.1. Thành phần bổ ngữ / tân ngữ là danh từ. Ví dụ:
Những cơ hội tốt nhất trong đời họ bỏ lỡ cả rồi.
2.5.1.2. Thành phần bổ ngữ / tân ngữ là cụm động từ. Ví du:
Cứu ngời, họ không hề ngần ngại.
2.5.1.3. Thành phần bổ ngữ / tân ngữ là cụm S V. Ví dụ:
Kiến vốn cục tính, nh chúng ta đã biết.
2.5.2. Các biến thể khác (VOS).
Trong t liệu mà chúng tôi có, duy nhất chỉ có một trờng hợp có trật tự
từ thay đổi VOS. Ví dụ:
Còn nhớ chuyện ấy, bây giờ có lẽ chỉ rất ít ngời.
Còn trờng hợp thay đổi trật tự từ OVS thì chúng tôi không tìm thấy
trờng hợp nào.
2.6. Đối chiếu trật tự từ của cấu trúc SVO tiếng Anh vơí các cấu
trúc tơng đơng của tiếng Việt
2.6.1. Những nét tơng đồng
Cấu trúc SVO là cấu trúc điển hình ở cả hai ngôn ngữ, tiếng Anh và
tiếng Việt. Nó có thể đại diện cho hai ngôn ngữ khi nói về đặc điểm trật tự từ
trong câu đơn; ở cấu trúc này của cả hai ngôn ngữ thành phần V là các ngoại
động từ và chúng luôn phải có mặt; thành phần tân ngữ ở cả hai ngôn ngữ
đều có thể đợc đa lên đầu câu trớc chủ ngữ, đặc biệt là trong những tình
huống để trả lời câu hỏi trớc đó.
2.6.2. Những nét khác biệt
Trong tiếng Việt không có biến thể về trật tự từ OVS. Trong tiếng Anh
có thể có loại biến thể này nhng rất ít gặp; câu cảm thán trong tiếng Anh có
trật tự từ OSV; còn trong tiếng Việt các câu này có trật tự thuận SVO.
2.7. Trật tự từ thuận SVC trong tiếng Anh
Trong cấu trúc SVC của tiếng Anh, thành phần động từ là các động từ

man he was.
(Hồng y đờ Brikaxxa mỉm cời tiến một bớc về phía cô; ông không
còn trẻ chút nào, nhng đẹp biết bao!)
2.8.2. Biến thể trật tự từ CVS
Trong quá trình sử lý t liệu chúng tôi phát hiện thấy ngoài các biến thể
CSV đối với loại câu SVC còn có các biến thể CVS. Các câu này có thành
phần bổ ngữ cho chủ ngữ gồm hai đặc trng sau:
2.8.2.1. Thành phần bổ ngữ cho chủ ngữ là danh từ. Ví dụ:
The moment the clock struck twelve, the little goblins came dancing in
and skipped as usual on to the beachThey danced together over the chairs
and tables and hugged each other with joy as they sang: Smart little
gentlemen now are we
(Lúc đồng hồ điểm mời hai tiếng, những con ma bé xíu nh thờng lệ
đến múa và nhảy phốc lên ghế Chúng cùng nhau khiêu vũ trên ghế và trên
bàn, và ôm ghì nhau sung sớng khi chúng hát: Chúng ta bây giờ là những
con ngời thanh lịch bé tí)
2.8.2.2. Thành phần bổ ngữ cho chủ ngữ là tính từ. Ví dụ:
Meggie would not have heard them anyway, so engrossed was she in
Agnes, humming softly to herself.
(Nhng dù sao Mecghi cũng không thể nghe thấy tiếng động của chúng,
nó chỉ mải mê với Agơnex và lẩm nhẩm hát điệu gì với con búp bê.)

10
2.9. Nhận xét chung về trật tự từ của cấu trúc SVC tiếng Anh
i)Thành phần động từ trong cấu trúc SVC là các động từ nối hay các
động từ quan hệ. Bổ ngữ cho chủ ngữ có thể là một cụm tính từ hay một cụm
danh từ có danh từ trung tâm chỉ cấp độ (gradable).
ii) Cấu trúc SVC tiếng Anh có hai loại biến thể trật tự từ CSV và CVS.
iii) ở loại biến thể trật tự từ CSV, các động từ quan hệ của tiếng Anh,
nhất là động từ be có thể đứng độc lập ở cuối câu; còn các động từ quan hệ

CSV và CVS và trong các câu này luôn phải có động từ. Còn trong tiếng Việt
loại câu này chỉ có một biến thể VS và thành phần V hầu nh không có động
từ mà chỉ có cụm tính từ làm vị ngữ. Các động từ quan hệ trong tiếng Anh có

11
thể đứng sau thành phần bổ ngữ, còn trong tiếng Việt thì không có khả năng
nh vậy.
2.13. Tiểu kết
Trong cấu trúc SVO tiếng Anh, thành phần V phải là các ngoại động từ.
Cấu trúc này có hai loại biến thể trật tự từ, đó là OSV và OVS. Tuy nhiên,
biến thể OVS rất ít xuất hiện. Trong tiếng Việt cũng có biến thể OSV, tuy
nhiên số lợng ít hơn nhiều so với các biến thể OSV của tiếng Anh. Trong
tiếng Việt không có biến thể OVS. Trong cấu trúc trật tự từ thuận SVC tiếng
Anh thành phần V là các động từ quan hệ, điển hình là hai động từ be và
become. Thành phần bổ ngữ C có thể là một cụm danh từ hay một cụm tính
từ. Cấu trúc SVC của tiếng Anh có hai biến thể CSV và CVS. Trong cấu trúc
SVC tiếng Anh, thành phần V luôn phải có mặt, và nó có thể đứng trớc chủ
ngữ và ở cuối câu. Điều này rất khác so với cấu trúc SVC tiếng Việt. Hầu hết
các biến thể CSV và CVS tiếng Anh đều đợc dịch sang tiếng Việt với trật tự
từ thuận.Trong tiếng Việt cũng có các loại câu có trật tự từ tơng đơng với
loại câu SVC của tiếng Anh mặc dù chúng có các tên gọi khác nhau. Đặc biệt
là các loại câu này của tiếng Việt có thể không có động từ. Trong tiếng Việt
cũng có sự thay đổi về trật tự từ của cấu trúc này: đối với cấu trúc SVC thì có
biến thể VS, thành phần V ở đây có thể chỉ là cụm danh từ hay cụm tính từ;
trong các biến thể này thờng không sử dụng động từ và chúng ta hay gặp
chúng trong thể loại thơ ca, ca dao. Loại biến thể này thể hiện rõ đặc trng
riêng của ngữ pháp tiếng Việt là câu có thể không có động từ. Đối chiếu với
các câu dịch sang tiếng Việt, chúng ta thấy chủ yếu xảy ra hai trờng hợp:
i) Các câu tiếng Việt cũng thay đổi trật tự từ theo nhng thờng phải
thêm các h từ trớc và sau tân ngữ. Đó là các từ nh: mà, thì, do, về (đối

Bedroom doors were opened as the guests woke up. Whats
happening? Fetch a candle! Is it a fire? Are there
burglars?Wheres Rochester? He isnt in his room!. Here I am!
called the master of the house, descending with a candle from the top floor.
(Các vị khách thức giấc rồi các cửa phòng ngủ mở ra. Có chuyện gì
xảy ra vậy? Hãy tìm một cây nến! Cháy phải không? Kẻ trộm à?
Rochester đâu rồi? Ông ta không có trong phòng của ông!
Tôi đây này! Ông chủ nhà nói lớn, đang từ lầu trên cùng đi xuống,
cầm theo một cây nến.)
3.2.1.2. Thành phần trạng ngữ là từ there đứng đầu câu. Ví dụ:
She must stand half an hour longer on that chair, and nobody may
speak to her for the rest of the day. So there I was, high up on the chair,
publicly displayed as an ugly example of evil.
(Cô ta phải đứng trên cái ghế ấy thêm nửa giờ nữa và từ giờ cho đến tối
không ai đợc nói với cô ta cả. Thế là tôi đứng đó, cao chót vót trên chiếc
ghế, trng bầy trớc mắt mọi ngời nh một gơng xấu kinh tởm.)
3.2.1.3. Thành phần trạng ngữ là các giới từ chỉ phơng hớng đứng
đầu câu. Ví dụ:
Good-bye! Good-bye! said the swallow, and off it flew from the warm
countries, far away back to Denmark.
(Tạm biệt, - chim nhạn nói, lại bay đi khỏi những xứ sở ấm áp, đi xa, trở
về Đan mạch.)
3.2.1.4. Thành phần trạng ngữ nằm trong câu cảm thán. Ví dụ:
Come, come, be merry and like yourself! Look at little Hareton!
Hes dreaming nothing dreary. How sweetly he smiles in his sleep
!
(Thôi nào, hãy vui lên, cho đúng với bản chất mình. Hãy nhìn bé
Heơtơn đấy! Nó chẳng mơ cái gì buồn thảm cả. Nó mỉm cời trong giấc ngủ,
mới dịu dàng làm sao! )


Amos shook his head and smiled. The shepherds saw in his face a
wonder even in a night of wonders. No, Amos said. There was no great
voice from heaven.
But to my heart there came a whisper
.
(Amos lắc đầu và mỉm cời. Những mục đồng trông thấy trên gơng
mặt anh ta một vẻ kỳ diệu nh những điều kỳ diệu trong đêm qua. Amos nói:
Không, không có tiếng nói nào từ Thợng Đế, nhng trong tim tôi có tiếng
thì thầm.)
3.2.2.5. Thành phần trạng ngữ là từ there đứng đầu câu. Ví dụ:
You neednt get any more wine, said Johnsy, keeping her eyes fixed
out the window. There goes another
. No, I dont want any broth. That
leaves just four. I want to see the last one fall before it gets dark. Then Ill
go, too.

14
(Chị không cần mua thêm rợu làm gì, - Gion-xi nói, mắt vẫn đăm đăm
nhìn ra phía ngoài cửa sổ. - Lại một chiếc lá nữa rơi. Không, em không cần
nớc xúp đâu. Giờ chỉ còn có bốn. Em muốn nhìn thấy chiếc lá cuối cùng lìa
cành trớc khi trời tối. Rồi thì em cũng sẽ ra đi.)
3.2.2.6. Thành phần trạng ngữ nằm trong câu mã hoá (code). Ví dụ:
Tom learned of Hucks sickness and went to see him on Friday, but could
not be admitted to the bedroom; neither could he on Saturday or Sunday.
(Tom hay tin Hấc ốm, hôm thứ sáu đến thăm nhng không đợc phép
vào buồng;
Cả hôm thứ bảy và chủ nhật cũng vậy.)
3.2.2.7. Thành phần trạng ngữ là cú danh động từ. Ví dụ:
and before he could find it again it was evening, and much too far to
get to the town or back home before nightfall.

vi) Đối với các câu tiếng Anh có trợ động từ đợc đảo lên trớc chủ
ngữ khi dịch sang tiếng Việt các câu này cũng đợc dịch bằng trật tự thuận,
vì trong ngữ pháp tiếng Việt không có các trợ động từ tơng đơng, nên các
trợ động từ này (chỉ có nghĩa về ngữ pháp) không đợc dịch ra.
3.4. Trật tự từ thuận SVA trong tiếng Việt
Các câu có cấu trúc SVA của tiếng Anh tơng đơng với các loại câu
chỉ quan hệ có vị tố là những từ chỉ quan hệ dùng không độc lập; hay một
trong các câu nòng cốt song phần đơn giản đơn. Ví dụ:
- Cái áo này bằng lụa tơ tằm.
- Huệ Chi đi lên cầu thang.
- Ngời tớng già cũng ngồi trong đám vật.
3.5. Các biến thể trật tự từ của cấu trúc SVA trong tiếng Việt
3.5.1. Các biến thể trật tự từ AVS trong tiếng Việt
Biến thể trật tự từ AVS trong tiếng Việt chính là loại câu tồn tại định vị
của tiếng Việt. Dựa vào thành phần vị ngữ chúng ta có các loại câu AVS
trong tiếng Việt nh sau:
3.5.1.1. Cụm từ địa điểm/ phơng hớng + động từ tồn tại/xuất
hiện/tiêu biến + danh từ chỉ sự vật. Ví dụ: Bên hàng xóm tôi có cái hang
của Dế Choắt.
3. 5.1.2. Cụm từ địa điểm/ phơng hớng + động từ là+ danh từ chỉ
sự vật. Ví dụ: Hai bên bạt ngàn là ngô và bông.
3.5.1.3. Cụm từ địa điểm + động từ ngoại động + danh từ chỉ sự vật.
Ví dụ:
Khắp ngời Xiến Tóc đều bọc giáp sắt, kể cả các khấc bụng.
3.5.1.4. Cụm từ địa điểm + động từ chuyển động + danh từ chỉ sự
vật. Ví dụ:
Bỗng đằng cuối bãi tiến lại hai cậu bé con, tay cầm que, tay xách cái
ống bơ nớc.
3.5.1.5. Cụm từ địa điểm + các động từ nội động khác + danh từ chỉ
sự vật. Ví dụ:

- ở cấu trúc này trong tiếng Anh không thể sử dụng các ngoại động từ;
nhng trong tiếng Việt có thể sử dụng động từ loại này.
3.7. Chuyển dịch trật tự từ tiếng Anh sang tiếng Việt
Xét trên bình diện kết học và nghĩa học, khi dịch các biến thể trật tự từ
của tiếng Anh sang tiếng Việt thờng hoặc là: i) các câu tiếng Việt cũng thay
đổi trật tự từ nh câu tiếng Anh; hoặc là: ii) các câu tiếng Việt không thay
đổi trật tự từ, cụ thể nh sau:
3.7.1. Câu tiếng Việt có thay đổi trật tự từ
Điều này chỉ thờng xảy ra ở hai biến thể trật tự từ OSV và AVS, vì ở
cả hai ngôn ngữ đều có các biến thể này nên đa số các câu có trật tự từ OSV
và AVS của tiếng Anh đều dễ dàng đợc chuyển dịch tơng đơng sang câu
tiếng Việt với trật tự từ nh vậy.
3.7.2. Câu tiếng Việt không thay đổi trật tự từ
Trờng hợp này có thể xảy ra ở tất cả các biến thể trật tự từ của câu
đơn trần thuật tiếng Anh, lý do là giữa hai ngôn ngữ có các cấu trúc không
tơng đơng: tiếng Anh sử dụng trợ động từ trong một số câu trần thuật nh
câu có các từ phủ định hay bán phủ định ở đầu câu, câu mã hoá (code), còn
tiếng Việt thì không nh vậy; các câu đơn trần thuật của tiếng Anh đều phải
có động từ, còn các câu tiếng Việt có thể không cần dùng động từ (chẳng
hạn nh ở cấu trúc VS và AVS), đặc biệt là các động từ quan hệ trong tiếng
Anh có thể đứng độc lập sau bổ ngữ của chúng, còn các động từ quan hệ
trong tiếng Việt, nhất là hệ từ là, không phải là các động từ độc lập.

17
3.8. Tiểu kết
Chơng này đã trình bày khái quát trật tự từ thuận và các biến thể của
cấu trúc câu đơn trần thuật SVA trong tiếng Anh và tiếng Việt. Cấu trúc
SVA tiếng Anh có hai biến thể là ASV và AVS. Thành phần V là động từ và
luôn phải có mặt, thành phần A rất đa dạng, chúng có thể là các cụm giới từ
chỉ địa điểm, các từ here và there, các từ phủ định và bán phủ định Trong

câu có thể di chuyển trong câu với mục đích làm nổi bật thông tin khác
nhau. Trên thực tế có những trờng hợp mà ở đó thông tin mới có thể đứng
trớc thông tin cũ. Ví dụ:
The sons, most of them like their father, but the young one, Stuart,
very like his mother, hed be a handsome man when he grew up; impossible

18
to tell what the baby would become; and Meggie. The sweetest, the most
adorable little girl he had ever seen;
(Các con trai khác đứa nào cũng giống bố, riêng có đứa bé nhất Xtiua,
rất giống mẹ, chính thằng này lớn lên sẽ đẹp trai; còn đứa hài nhi sẽ thế nào
thì cha biết; và cuối cùng là Mecghi, con bé kháu tệ, xinh tuyệt;)
4.3. Ngời nói/ viết muốn nhấn mạnh chủ đề của câu nói
Theo R. Quirk, S. Greenbaum [1976] và hầu hết các nhà Anh ngữ đều
nhất trí rằng đề là khởi điểm giao tiếp trong câu; trong câu đề thờng là
thông tin cũ hơn so với các phần khác; hai thành phần giao tiếp nổi bật
trong câu, đó là đề và tiêu điểm; đề và tiêu điểm có thể trùng nhau, khi tiêu
điểm rơi vào chủ ngữ. Tuy nhiên trong văn nói/viết có thể một thành phần
nào đó đợc đa lên đầu câu với trọng tâm, nó đợc coi là đánh dấu (nhấn
mạnh đặc biệt) cả về chủ đề cũng nh về thông tin. Ví dụ:
His attention became, by degrees, quite centred in the study of her
thick, silky curls: her face he couldnt see, and she couldnt see him.
(Dần dà, cậu xoay ra tập trung hoàn toàn vào nghiên cứu những búp tóc
dày dặn, mợt nh tơ của mợ cậu không thể nhìn thấy mặt mợ mà mợ cũng
không thấy đợc cậu.)
4.4. Ngời nói/ viết muốn đa ra sự tơng phản
Theo T.Givón [1993], khi một thành phần nào đó đợc đa lên đầu câu
nhằm mục đích nhấn mạnh sự tơng phản thì thành phần đó trớc hết cũng
phải là chủ đề đánh dấu của câu. Chủ đề đánh dấu thuần tuý mang nhiều ý
nghĩa là sự đánh giá của ngời nói về tình trạng của thông tin, còn sự tơng

intelligent, brave smile,
(Thế là tôi đứng đó, cao chót vót trên chiếc ghế, trng bầy trớc mắt
mọi ngời nh một gơng xấu kinh tởm. Lòng tôi sôi lên những tình cảm
xấu hổ và tức giận nhng ngay lúc tôi cảm thấy mình chịu đựng hết nổi thì
Helen Burns đi ngang qua trớc mặt và ngớc mắt nhìn lên mắt tôi. Cái nhìn
của cô ta làm tôi bình tĩnh. Cô ta có nụ cời đặc biệt làm sao!
Đó là một nụ
cời thông minh, dũng cảm,)
4.6. Ngời nói/ viết muốn miêu tả, giới thiệu thực thể
Câu tồn tại đợc sử dụng một cách điển hình cho việc giới thiệu thực
thể mới vào trong ngôn bản. Cấu trúc này có trật tự từ AVS , ở vị trí thành
phần A ngoài từ there còn có thể có từ here, các cụm trạng ngữ chỉ địa điểm,
phơng hớng. Các động từ chỉ sự tồn tại, chuyển động, t thế của ngời,
vật. Ví dụ:
Well, here was a husband indeed
; a very different one from the toads
son, and the mole with the black velvet coat. So she said yes to the lovely
prince. And from every flower came a lady or a gentleman: so charming it
was delightful to see.
(Đúng thế, chàng sẽ là ngời chồng phù hợp của nàng
, hoàn toàn
khác với con trai mụ cóc và chuột chũi mặc áo nhung đen. Vì thế, nàng nhận
lời vị vua đẹp trai và từ mỗi bông hoa xuất hiện một nàng hoặc một chàng

những con ngời xinh xẻo sang trọng không tởng tợng đợc.)
4.7. Ngời nói/ viết muốn liên kết nội dung trong ngôn bản
Một trong những phơng tiện chủ yếu để thể hiện sự liên kết này chính
là sự thay đổi trật tự các thành phần câu. Sự thay đổi trật tự từ hay việc đa
các thành phần không phải là chủ ngữ lên đầu câu là một trong những
phơng tiện để thể hiện ý định của ngời nói/ viết muốn liên kết ý của câu

sự tơng tự về nội dung của hành động tiếp theo.Ví dụ:
It was good to have a job that began at ten, a job where he could
wear beautiful clothes, a job that made him a part of the greatest theatre,
with the greatest films, in the greatest city in the world. He said so, and so
did his wife.
(Thật là may mắn khi có một việc làm lúc mời giờ. Một việc làm ở nơi
mà ông đợc mặc quần áo đẹp, một việc làm biến ông thành một thành viên
của nhà hát lớn nhất thế giới với những bộ phim hay nhất thế giới. Ông nói
thế và vợ ông cũng cho là đúng
.)
4.7.3. Phơng thức liên kết liên hợp
Để thể hiện tính liên tục về thời gian, các yếu tố chỉ định chỉ thời gian
nh now (bây giờ) và then (lúc đó) cũng đóng chức năng nh là những đơn
vị liên kết theo phơng thức liên hợp. Ngoài ra, ở phơng thức này, các ý
nghĩa trong các lĩnh vực nh việc giải thích chi tiết, mở rộng và tăng cờng
đợc diễn đạt bằng một phụ ngữ liên hợp (hay liên từ). Các yếu tố này thuộc
về thành phần A trong cấu trúc có sự thay đổi trật tự từ AVS, tức là kết hợp
với việc đặt các liên từ này ở đầu câu, động từ trong các câu này cũng đợc
đa lên trớc chủ ngữ. Ví dụ:

21
Next morning the old king came along with all his household, and the
congratulations went on till well into the day. Last of all came the traveling
companion, with his stick in his hand and his knapsack on his back.
(Sáng hôm sau, vị vua già cùng chiều đình đến. Những đoàn ngời đến
mừng kéo dài suốt ngày. Cuối cùng đến anh bạn đồng hành, tay cầm gậy,
lng đeo bị.)
4.7.4. Phơng thức liên kết từ vựng
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cũng gặp khá nhiều các câu có trật
tự từ thay đổi đợc liên kết với nhau theo phơng thức liên kết từ vựng. Theo

giả đề cập đến. Đinh Trọng Lạc [2003, tr.111-112] cho rằng sự thay đổi trật

22
tự từ trong câu (đảo ngữ) có chức năng tu từ là làm thay đổi tiết tấu của câu,
làm giàu âm hởng, gợi màu sắc biểu cảm cảm xúc, gây ấn tợng mạnh.
Các trờng hợp mà tác giả đa ra liên quan đến các cấu trúc mà luận án đang
nghiên cứu là:
i) Đảo vị ngữ - tính từ ra trớc chủ ngữ. Ví dụ:
- Thật vĩ đại, cái trầm lặng đầy tin tởng của những con ngời.
ii) Đảo bổ ngữ khách thể lên đầu câu. Ví dụ:
- Những cuộc vui ấy chị còn nhớ rành rành.
iii) Đảo vị trí của vị từ là những từ chuyên dùng với ý nghĩa tồn tại và
những từ tợng thanh, tợng hình. Ví dụ:
- Trong nhà lô nhô
mấy ông cụ già khăn áo chỉnh tề.
iv) Đảo vị trí của vị từ là động từ chỉ hành động. Ví dụ:
- ánh xuân lớt cỏ xuân tơi,
Bên rừng thổi sáo
một hai Kim đồng.
Theo Lý Toàn Thắng [2004, tr.120-121], ngoài chức năng biểu đạt thông
tin thực tại, khi đảo vị trí của N2 (tân ngữ trực tiếp) lên trớc N1 (chủ ngữ) sẽ
tạo ra một kiểu chủ đề đặc biệt, đợc gọi là chủ đề tơng phản. Ví dụ:
- Cơm của nó, nó ăn. Củi của nó, nó đun. (Nó thổi nấu lấy nó ăn. Bận
gì đến mình mà sợ)
Ngoài ra, ông còn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của ngữ huống (ngữ
cảnh), dựa vào ngữ huống ngời đọc có thể hiểu đợc N2 chính là từ đợc
lặp lại hay có một mối liên hệ nào đó với các tiền ngữ của nó. Điều này
chứng tỏ việc thay đổi trật tự từ cũng nhằm mục đích liên kết với ý của câu
văn, đoạn văn trớc đó. Ví dụ:
- (Anh chặt gà bày vào mâm). Đầu và hai chân, anh bày vào một đĩa riêng.

đợc đa lên đầu câu trớc chủ ngữ, và về mặt cấu trúc thông tin chúng đóng
vai trò là chủ đề đánh dấu. Khi đó chúng ta có các biến thể trật tự từ OSV,
CSV và ASV. Ngoài ra, đối với cả ba loại cấu trúc này của tiếng Anh, không
những chỉ các thành phần O, C và A đợc đa lên trớc chủ ngữ, mà cả
thành phần V cũng có thể đứng trớc chủ ngữ, khi đó chúng ta có các biến
thể trật tự từ sau: OVS, CVS và AVS.
3. Đối chiếu với tiếng Việt, chúng ta thấy ở các câu tơng đơng với cấu
trúc SVO của tiếng Anh, động từ cũng luôn phải có mặt, còn các câu tơng
đơng với các cấu trúc SVC và SVA của tiếng Anh thì động từ có thể vắng
mặt. Tiếng Việt cũng có các biến thể trật tự từ sau: OSV, VS và AVS, và ở
loại biến thể VS thành phần V chỉ là các cụm tính từ, không có động từ. Biến
thể AVS trong tiếng Việt chính là các câu tồn tại định vị. Trong tiếng Việt
không có biến thể trật tự từ OVS.
4. Xét trên bình diện kết học và nghĩa học, các biến thể trật tự từ của
các câu có cấu trúc SVO, SVC và SVA trong tiếng Anh khi dịch sang tiếng
Việt xảy ra hai trờng hợp: i) các câu tiếng Việt cũng thay đổi trật tự từ (trật
tự đảo nh ở tiếng Anh; và ii) các câu tiếng Việt không thay đổi trật tự từ,
giữ nguyên trật tự thuận. Lý do là nh sau:
- Khi dịch các biến thể trật tự từ của tiếng Anh, các câu dịch tiếng
Việt có thể cũng thay đổi trật tự từ, điều này thờng xảy ra ở hai biến thể
OSV và AVS vì ở cả hai ngôn ngữ đều có các loại biến thể này.
- Khi dịch các biến thể trật tự từ của tiếng Anh, các câu dịch tiếng Việt
không thay đổi trật tự từ mà đợc dịch bằng trật tự từ thuận. Trờng hợp này xảy
ra ở tất cả các biến thể trật tự từ của câu đơn tiếng Anh, đặc biệt là các biến thể
CSV, CVS và ASV vì giữa hai ngôn ngữ có các cấu trúc không tơng đơng.
5. Bên cạnh việc nghiên cứu đối chiếu trật tự từ trong các câu đơn trần
thuật tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện kết học và nghĩa học, luận án
còn đa ra các nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trật tự từ ở bình diện dụng
học. Đó là các nguyên nhân nh ngời nói/ viết muốn đa ra và nhấn mạnh
thông tin mới, nhấn mạnh chủ đề, thể hiện cảm xúc của mình, đa ra sự

kèm theo các phụ ngữ, các từ tợng thanh, tợng hình.
6. Các kết quả nghiên cứu của luận án về trật tự từ trong câu đơn trần
thuật tiếng Anh và tiếng Việt có thể giúp ngời Việt học tiếng Anh hiểu rõ
hơn những đặc trng về trật tự từ của tiếng Anh, những nét tơng đồng và dị
biệt về trật tự từ giữa hai ngôn ngữ, các biến thể về trật tự từ, để từ đó hiểu rõ
hơn về cách tạo lập câu trong các bài khoá, dễ dàng hiểu đúng ý đồ của
ngời viết, giúp ngời học làm các bài tập ngữ pháp chuẩn mực hơn, nhận ra
đợc các lỗi về trật tự từ của mình, và đặc biệt là dịch đúng các câu từ tiếng
Anh sang tiếng Việt và ngợc lại.
Luận án là kết quả nghiên cứu trong một thời gian dài với nhiều nỗ lực
và tâm huyết của chúng tôi. Tuy vậy, luận án còn có những khiếm khuyết,
sai sót là điều không thể tránh khỏi. Chúng tôi rất mong nhận đợc những ý
kiến đóng góp của các nhà ngôn ngữ, các đồng nghiệp và tất cả những ai
quan tâm đến đề tài này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status