SVTH: NGUYN TRUNG KIấN LP:QLKT46A
trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa: khoa học quản lý
Chuyên đề thực tập
Đề tài :
Hon Thin C Cu T Chc Qun Lý Ca Cụng Ty C
Phn ụng M
Giáo viên hớng dẫn : PGS.TS. Phan Kim Chiến
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trung Kiên
Lớp : QLKT 46A
Khoá : 46
Hà Nội, 5 - 2008
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIN
1
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
LỜI NÓI ĐẦU
Sự kiện Việt Nam ra nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO vào cuối
năm 2006 đã tạo ra bối cảnh mới trong nền kinh tế Việt Nam.Cơ hội mới dành
cho các doanh nghiệp Việt Nam Như là quy mô của thị trường ngày càng
được mở rộng do rào cản thương mại ngày càng lớn giữa các nước trong tổ
chức thương mại quốc tế WTO, hơn nữa sẽ được tiếp cận với những công
nghệ mới hiện đại hơn. Song cũng chính vấn đề hội nhập này cũng đặt ra
nhiều thách thức với các doanh nghiệp nước ngoài có sự tiến bộ khoa học
công nghệ, kinh nghiệm trong nền kinh tế thị trường,có tiềm lực tài chính
mạnh điều này làm cho sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng trở
lên khốc liệt hơn, vậy để nắm bắt được những cơ hội đó và giảm bớt nhưng
nguy cơ thì một trong những vấn đề mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải
quan tâm đó là cơ cấu tổ chức của minh có phù hợp hay không.công ty cổ
3
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ.
I.Cơ cấu tổ chức quản lý.
1,Tổ chức,cơ cấu tổ chức.
1.1. Tổ chức.
Tổ chức là tập hợp bao gồm hai hay nhiều người cùng hoạt động trong những
hình thái cơ cấu nhất định để đạt được những mục đích chung nhất định nào
đó.
Từ khái niệm trên ta có thể rút ra những đặc điểm chung của các tổ chức cù là
họat động vì lợi ích kinh tế hay không vì họat động vì lợi ích kinh tế đó là:
Thứ 1:một tổ chức bất kỳ đều là một đơn vị xã hội bao gồm nhiều người
Thứ 2: mọi tổ chức đều mang tính mục đích
Thứ 3: mọi tổ chức đều hoạt động theo những cách thức nhất định để đạt được
mục đích của tổ chức
Thứ 4: mọi tổ chức đều phải thu hút các nguồn lực và phân bổ chúng để
đạt được mục đích của tổ chức đã đề ra.
Thứ 5: mọi tổ chức đều tồn tại và phát triển trong mối quan hệ tác động qua
lại với các tổ chức khác.
Thức 6: mọi tổ chức đều phải có người giữ nhiệm vụ nhất định nhằm cho tổ
chức họat động đúng mục đích đã đề ra
1.2.Cơ cấu tổ chức
- cơ cấu tổ chức là sự thể hiện các mối quan hệ chính thức hay không chính
thức giữa những thành viên trong tổ chức
2.Quản lý .
2.1Quản lý
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
4
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
3.Quyền hạn
3.1.khái niệm quyền hạn
Quyền hạn là quyền tự chủ trong quá trình quyết định và quyền đòi hỏi sự
tuân thủ quyến địng gắn liền với một vị trí hay một chức vụ quản lý nhất định
nào đó trong cơ cấu tổ chức
Vậy ta thấy khi một bất kỳ một chủ thể cá nhân nào được giao cho một quyền
hạn nhất định thì phải chịu trách nhiệm nếu không sẽ dẫn đến có sự lạm dụng
và ngược lại ta cũng không thể bắt một chủ thể quản lý nào đó chịu trách
nhiệm trong khi anh ta không có đủ quyền hạn
3.2. Các loại quyền hạn
3.2.1.Quyền hạn trực tuyến
Quyền hạn trực tuyến là quyền hạn cho phép người quản lý ra quết định và
giám sát trực tiếp đối với đối tượng quản lý
Đây là mối quan hệ quyền hạn theo nguyên tắc thứ bậc
3.2.2 Quyền hạn tham mưu.
Quyền hạn tham mưu là quyền hạn cho phép người quản lý tham mưu tham
mưu cho cấp trên hay tương đương trong quá trình ra quyết định chung
Khi dùng quyền hạn tham mưu cần chú ý một số vấn đề đó là nếu các tham
mưu được quá đề cao và can thiệp vào quá sâu trong quá trình ra quyết định
thì sẽ làm giảm quyền hạn trực tuyến của nhà lãnh đạo,hay ngược lại nhà tham
mưu chỉ đưa ra mộ kế hoạch hay một đề suất nào đó rồi bỏ cho bộ phận khác
làm sẽ nãy sinh tình trạng đổ lỗi cho nhau khi có phat sinh xấu xảy ra
3.2.3.Quyền hạn chức năng.
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
6
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
Quyền hạn chức năng là quyền trao cho một cá nhân hay một tập thể ra được
ra quyết định và giám sát những hoạt động của một số bộ phận khác
Về bản chất quyền hạn chức năng có thể được hiểu như sự ủy quyền của
Hiện tượng phân quyền thường xảy ra trong tổ chức có quy mô và tính
phức tạp của công việc đến một tầm nào đó.
5.1.3.Khái niệm ủy quyền trong quản lý tổ chức
Uỷ quyền là sự cấp trên trao cho cấp dưới một quyền hạn để cấp dưới đó
có một tư cách nhất định khi thay mặt nhà lãnh đạo cấp trên giải quyến một
vấn đề nào đó
5.2. Mức độ phân quyền trong tổ chức
Trong thực tế tập trung và phân quyền là 2 xu thế luôn trái ngược nhau và
đôi khi chúng lại tồn tại song song với nhau và bổ trợ cho nhau,song chúng
không phụ thuộc nhau.
Mức độ phân quyền càng cao khi
-Thứ nhất : các cấp quản lý ở cấp dưới có một tỷ trọng các quyết định phải
thực hiện càng lớn
- Thứ hai : tính chất của các quyết định ở cấp dưới là quan trọng
- Thứ ba : Khi một người quản lý co được độc lập trong quá trình ra quyết
định tương đối cao.
Trong thực tế không thể nói là phân quyền hơn tập trung vì nếu tập trung
quá cao thì dẫn đến các quyết định của các nhà quản lý dễ bị lún sâu vào trong
các quyết định tác nghiệp và ngược lại nếu phân quyền quá cao thì lại dẫn đến
các hành động không nhât quán giữa các nhà quản lý cấp dưới,và nhà quản lý
cấp trên dễ bị mất kiểm soát các nhà quản lý cấp dưới.
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
8
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
5.3.Những chỉ dẫn để tiến hành ủy quyền có hiệu quả cao.
Thứ nhất : khi nhà quản lý cấp trên giao quyền cho cấp dưới thì hoàn toàn
tự nguyện để cấp dưới được thỏa mái khi ra quyết định.điều này là nhà quản lý
cấp cao hơn phải chấp nhận và tin tưởng cách giải quyến công việc của cấp
dưới ,ngoài ra cho phép cấp dưới của mình sai lầm và học hỏi từ chính những
Ngoài việc sử dụng các biện pháp trên,các nhà quản lý cũng cần phải biết
và sử dụng một một số công cụ như: Kế hoạch, hệ thống tiêu chuẩn kinh tế kĩ
thuật các công cụ cơ cấu giám sát trực tiếp các công cụ của hệ thống thông tin,
truyền thông và tham gia quản lý và văn hóa của tổ chức.
7.chức năng và thuộc tính của cơ cấu tổ chức.
7.1.Chức năng của cơ cấu tổ chức.
Cơ cấu tổ chức thể hiện hình thức cấu tạo của tổ chức vì vậy nó như là một
kim chỉ lam cho các hoạt động bên trong của tổ chức và cũng như bên ngoài
của tổ chức,cơ cấu tổ chức rõ ràng,khoa học thì hoạt động của tổ chức càng
hiệu quả,và khi có một vấn đề phát sinh sẽ có một bộ phận hay cá nhân giải
quyết và chịu trách nhiệm dẫn đến tránh khỏi tình trạng đùn đẩy và đổ lỗi cho
nhau hay trồng chéo nhau.ngoài ra cơ cấu tổ chức rõ ràng sẽ làm cho các
thành viên trong tổ chức sẽ nhận diện rõ ràng hơn mình trong tổ chức để làm
việc,và cố gắng như vậy sẽ làm cho hiệu quả công việc hơn.
7.2.Thuộc tính của cơ cấu tổ chức.
Các thuộc tính của cơ cấu tổ chức là các chỉ tiêu hoặc các tham số nói lên
các mặt đặc trưng của cơ cấu tổ chức.Ta có thể hiểu được tình hình cơ bản của
một tổ chức, xác định tính chất của một tổ chức thông qua các thuộc tính
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
10
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
này.đây là những cơ sở để đánh giá, so sánh đối với cơ cấu tổ chức doanh
nghiệp. các thuộc tính chủ yếu của cơ cấu tổ chúc bao gồm những mặt sau:
7.2.1 Chuyên môn hóa
Chuyên môn hóa là việc phân chia một vấn đề lớn hay lĩnh vực lớn phức
tạp thành các công việc nhỏ hơn và đơn giản hơn do các bộ phận,các cá nhân
phụ trách, đảm nhiệm. Nhờ vậy mà các công việc trở lên dễ dàng thực hiện
hơn.Như thế năng suất lao động của cả tổ chức sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Điều này được thể hiện rõ trong cuốn “ Của cải của các dân tộc” Adam
ràng và cụ thể, bao gồm các bộ phận mang tính độc lập tương đối và được
thực hiện những hoạt động nhất định. Việc hình thành các bộ phận của cơ cấu
tổ chức phản ánh quá trình chuyên môn hóa và hợp nhóm chức năng quản lý
theo chiều ngang và nếu không biết tổ chức thành các bộ phận thì quy mô
của tổ chức sẽ bị số thuộc cấp quản lý trực tiếp sẽ làm hạn chế.
Cũng chính vì có việc phân chia các bộ phận sẽ đưa đến việc hình thành các
mô hình tương ứng với từng phương pháp phân chia. Tuy nhiên cũng phải
nhấn mạnh không có cách nào tốt nhất để xây dựng cơ cấu tổ chức. Mà phải
thấy rằng mô hình được lựa chọn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác
nhau trong từng hoàn cảnh nhất định. Các yếu tố này bao gồm các loại công
việc phải làm, cách thức tiến hành công viẹc, những người tham gia thực hiện
công viẹc, công nghệ được sử dụng, đối tượng được sử dụng, đối tượng phục
vụ, phạm vi phục vụ và các yếu tố bên trong và bên ngoài khác. Ở bất cứ mức
độ nào, việc lựa chọn một cách hình thành bộ phận cụ thể cần được tiến hành
sao cho có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả. Để
thực hiện được điều đó phần lớn các tổ chức đều cần đến các hình thức phân
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
12
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
chia bộ phận tổng hợp, trong đó kết hợp hai hay nhiều mô hình tổ chức bộ
phận thuần túy nói trên.
8.một số mô hình cơ cấu tổ chức điển hình.
8.1 Cơ cấu tổ chức trực tuyến
Cơ cấu tổ chức theo tuyến là sản phẩm của quan điểm máy móc về tổ
chức. Quan điểm này xuất phát cùng với sự ra đời và phát triển của máy móc
trong cách mạng công nghiệp Châu Âu và Châu Mỹ.
Mô hình cơ cấu tổ chức theo tuyến
Các mặt mạnh của cơ cấu tổ chức theo tuyến
1. Phù hợp với các nhiệm vụ đơn giản
Tổng Giám đốc
PTGĐ
Marketing
PTGĐ
Nhân sự
PTGĐ
Sản xuất
PTGĐ
Tài chính
14
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
Các mặt mạnh của cơ cẩu tổ chức theo chức năng:
1. Phát huy đẩy đủ ưu thế nhân lực tài nguyên và ưu thế kỹ thuật, hiệu suất
cao.
2. Xây dựng các ngành chức năng, giám nhẹ áp lực người quản lý cao
nhất, có lợi cho việc tập trung sức lực giải quyết vấn đề chiến lược.
Những hạn chế của cơ cấu tổ chức theo chức năng:
1. Nhiều đầu cuối lãnh đạo, cấp dưới không biết lắng nghe ai, khó lựa
chọn.
2. không có lợi cho việc đào tạo quản lý toàn diện.
8.3 Các cơ cấu tổ chức kết hợp (Ma trận)
Cơ cấu tổ chức phối hợp hai hoạc nhiều mô hình tổ chức đơn giản thành
một mô hình tổ chức hỗn hợp thường được gọi là mô hình tổ chức ma trận.
Mô hình mà trận là sự kết hợp nhiều mô hình cho phép tổ chức lợi dụng được
ưu thế của các mô hình tổ chức chính động thời giảm được ảnh hưởng của các
nhược điểm của nó.
Một số ưu điểm khác của cơ cấu tổ chức hỗn hợp (ma trận)
+ Giúp xử lý các tình huống hết sức phức tạp
+ Có tác dụng tốt với các tổ chức lớn
10.1.nguyên tắc xác định theo chức năng.
Nguyên tắc xác định theo chức năng là việc giao quyền hạn cho một cá
nhân hay bộ phận đơn vị nào đó.
Khi mà một vị trí hay một bộ phận càng được rõ ràng về chức năng và
nhiệm vụ thì việc đóng góp của các bộ phận hay cá nhân đó cho sự thành công
của tổ chức sẽ càng cao.
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
16
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
10.2.nguyên tắc giao quyền theo kết quả mong muốn.
Giao quyền theo kết quả mong muốn là việc cán bộ quản lý cấp cao giao
cho cán bộ quản lý cấp dưới những một quyền hạn và chức năng nào đó và
đồng thời cũng đưa ra một định mức hoàn thành công việc.
Từ ở trên ta thấy việc giao quyền theo chức năng phải chú ý đó là khi giao
quyền hạn và chức năng phải phù hợp với từng người và chỉ tiêu định mức
cũng phải tùy từng tính chất công việc và khả năng hoàn thành công việc của
người đó.
10.3.Nguyên tắc bậc thang.
Trong tổ chức khi mà quyền hạn và chức năng được cụ thể hóa rõ ràng từ
cấp quản lý cao nhất cho tới cấp quản lý thấp nhất thì mỗi một vị trí chịu trách
nhiệmkhi ra một quyết định sẽ càng rõ ràng như vậy sẽ không có hiện tượng
trồng chéo trong công việc và việc đùn đẩy trách nhiệm,khi có vấn đề xấu phát
sinh sẽ không thể biết được là do bộ phận hay cá nhân nào sẽ làm cho nhân
viên có tương việc đó không phải của mình và cứ như thế tinh thần làm việc
sẽ bị giảm xuống.
10.4.nguyên tắc thống nhất mệnh lệnh.
Khi thực hiện đúng nguyên tắc này thì những mâu thuẫn trong các chỉ thị
sẽ càng ít và ý thức trách nhiệm của các cá nhân trước các kết quả hoạt động
của họ sẽ càng lớn,và sẽ tránh kiểu mạnh ai ngưới đó làm,từ trên xuống dưới
10.8.Nguyên tắc quản lý sự thay đổi.
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
18
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
Đây là nguyên tắc khi mà có bất kỳ một sự thay đổi nào thì cơ cấu tổ
chức cũng phải đã có những biện pháp hay kỹ thuật dự phòng để đối phó với
những thay đổi đó,tổ chức nào mà xây dựng một cách cứng nhắc thì sẽ dẫn
đến tổ chức sẽ dễ bị tan vỡ trước sự thay đổi chóng mặt như xã hội hiện nay.
10.9.Nguyên tắc cân bằng.
Đây là nguyên tắc vận dụng các nguyên tắc hay biện pháp phải cân
đối,phải căn cứ vào tình hình kết quả hoạt động của cơ cấu tổ chức trong việc
thực hiện các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
II.Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức và quản lý sự thay đổi của cơ
cấu tổ chức
1.Các nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức
cơ cấu của một tổ chức Không bị một yếu tố riêng lẻ nào có thể quyết định
hay cơ cấu tổ chức cùng một lúc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố thuộc về
môi trường bên trong và bên ngoài tổ chức, với mức độ tác động đó thay đổi
theo từng thời kỳ và trường hợp của các tổ chức khác nhau thì mức độ khác
nhau. Có những yếu tố cơ bản là:(1) chiến lược của tổ chức, (2) quy mô và
mức độ phức tạp trong hoạt động của tổ chức, (3) công nghệ, (4) thái độ của
ban lãnh đạo cấp cao và năng lực đội ngũ nhân viên (5) môi trường.
1.1 Chiến lược
trên cơ sở phân tích các cơ hội, sự đe dọa của môi trường và những điểm
mạnh, điểm yếu của tổ chức trong đó có cơ cấu đang tồn tại thì Chiến lược và
cơ cấu tổ chức luôn luông đi với nhau không thể tách rời nhau . Ngược lại,khi
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
19
cấu tổ chức điều này đã gây ra sự chậm trễ trong việc khai thác công nghệ
mới.
Vì vậy mà các tổ chức khai thác sử dụng công nghệ mới thường sử dụng:
thứ nhất là các cán bộ quản lý cấp cao có học vấn cao và có kinh nghiệm về
kỹ thuật,thứ hai các cán bộ quản lý có chủ trương đầu tư vào các dự án đi sâu
vào việc hậu thuẫn và duy trì vị trí dẫn đầu của tổ chức về mặt công nghệ, thứ
ba cơ cấu tổ chức phù hợp với hệ thống công nghệ và đảm bảo sự điều phối
một cách chặt chẽ và liên tục trong việc ra các quyết định liên quan đến hoạt
động chính của tổ chức và công nghệ.
1.4 Thái độ của lãnh đạo cấp cao và năng lực của đội ngũ nhân lực
Nhà lãnh đạo cấp cao nhất của tổ chức hoàn toàn có thể có những quyết
định ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức vì họ là những người có quyền hạn và trách
nhiệm cao nhất của tổ chức,và sự hiệu quả trong họat động của tổ chức có ít
nhiều liên quan tới lợi ích của họ,đặc biệt nếu là công ty ngoài quốc doanh.
Một tổ chức có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có năng lực và tinh
thần làm việc cao thì rõ ràng sẽ giải quyết được một khối lượng công việc lớn
hơn so với một tổ chức cũng phải giải quyết công việc đó khi không có những
công nhân viên như trên,vậy rõ ràng tổ chức có cán bộ công nhân viên có năng
lực về công việc đó sẽ có cơ cấu tổ chức gọn nhẹ hơn tổ chức có cán bộ công
nhân viên có năng lực yếu hơn.
1.5 Môi trường
Khi mà môi trường có sự biến đổi ví như ban đầu công ty A không có
phó giám đốc tài chính nhưng sau một thời gian hoạt động thì môi trường kinh
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
21
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
doanh thuận lợi hơn khiến cho tổ chức đó lớn mạnh hơn, thị phần cũng lớn
mạnh hơn và dẫn đến quy mô hoạt động của công ty A đó lớn hơn lượng tiền
lưu thông trong công ty này nhiều hơn và tính chất ngày càng phức tạp vì vậy
chức đang có xu hướng trẻ hóa lực lượng cán bộ,do vậy cơ cấu phải thay đổi
cho phù hợp hơn.
Những công ty sau khi họat động mà có quy mô và tính chất mới sẽ làm
cho cơ cấu phải biến đổi sao cho phù hợp hơn nữa,ví như công ty cổ phần
đông mỹ không nên áp dụng mãi cơ cấu tổ chức khi mới thành lập vì hiện nay
vốn điều lệ công ty đã lớn gấp hơn 20 lần.
2.2.2nguyên nhân từ bên ngoài tổ chức.
Những vấn đề như môi trường hay cụ thể là với sự phát triển về kinh tế
như hiện nay của việt nam thi môi trường luôn có sự biến động và thay
đổi,chính vì thế sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cho các tổ chức kinh tế vì vậy vấn đề
nắm bắt được cơ hội là một vấn đề quan trọng song cũng không phải tổ chức
nào cũng có cơ cấu tổ chức phù hợp với sự đổi mới kinh tế đó.
2.3.Một số hình thức thay đổi cơ cấu tổ chức
2.3.1.Thay đổi bộ phận.
Là sự thay đổi một bộ phận hay một số bộ phận của cơ cấu tổ chức,có thể
đổi tên kéo theo thay đổi chức năng và nhiệm vụ của bộ phận đó,hay có thể
cho thêm một bộ phận khác vào trong cơ cấu tổ chức,hiện nay các tổ chức
kinh doanh thương hay áp dụng sự thay đổi này khi mà quy mô hoạt động của
các tổ chức ngày càng mở rộng
2.3.2.thay đổi toàn diện.
GVHD:PGS.TS.PHAN KIM CHIẾN
23
SVTH: NGUYỄN TRUNG KIÊN LỚP:QLKT46A
Là sự thay đổi mà ở đó cơ cấu tổ chức cũ sẽ thay thế bằng một cơ cấu
khác hoàn toàn,trường hợp này thường được các tổ chức áp dụng khi mà tính
chất hoạt động của công ty được thay đổi hoàn toàn ví dụ một công ty A đang
sản xuất về hàng may mặc thì cơ cấu thường áp dụng là loại cơ cấu tổ chức bộ
phận theo quá trình
Sau công ty này không sản xuất nữa mà nhập hàng về và phân phối thì cơ