Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước đã đạt được những kết quả nhất
định trong quá trình chuyển đổi kép: từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung mang nặng
tính hành chính chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ
một xã hội nông nghiệp lạc hậu chuyển sang một xã hội công nghiệp. Sự phát triển đó đòi
hỏi Nhà nước cần phải đổi mới chính sách tài chính trong đó có chính sách quản lý chi
tiêu công để phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính của xã hội cá hiệu quả và hiệu
lực. Chi tiêu công gắn liền với chức năng quản lý của nhà nước và có nhiều lĩnh vực kinh
tế, chính trị, xã hội. Quản lý có hiệu quả chi tiêu công được đặt ra trong bối cảnh nguồn
lực tài chính mỗi quốc gia có sự giới hạn nhất định nhưng phải làm như thế nào để thỏa
mãn tốt nhất những nhu cầu cần thiết để đạt được mục tiêu quản lý kinh tế, chính trị xã
hội của đất nước. Hơn nữa, trên tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, vấn đề quản lý chi tiêu
công một cách hợp lý là yêu cầu cấp thiết đối với Việt nam.
Nhóm 8
1
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Khái niệm Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước, hay Ngân sách chính phủ, là một thành phần trong hệ
thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời
sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Tuy sự ra đời của ngân sách Nhà nước đã khá lâu,
song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều
định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên
cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản
thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Luật Ngân sách Nhà
nước đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách
Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung
ương và ngân sách địa phương. Ngân sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ
cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ
sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực,
viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanh nghiệp). Bên cạnh
đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nước là một trong những biện pháp
Nhóm 8
3
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh
không hoàn hảo. Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách
cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo
tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lý hơn.
Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân
sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế
sản xuất kinh doanh.
1.3.2. Giải quyết các vấn đề xã hội
Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh
đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt
hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm,
chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt.
1.3.3. Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả
thị trường hàng hoá
Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, những mặt hàng mang tính
chất chiến lược. Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuất nhập
khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn, sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và
chi tiêu của chính phủ. Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ương với chính
sách tiền tệ thích hợp Ngân sách nhà nước góp phần điều tiết thông qua chính sách
thuế và chi tiêu của chính phủ.
1.4. Các hoạt động chính của Ngân sách nhà nước
1.4.1. Thu và chi Ngân sách nhà nước:
o Các khoản tiền phạt, tịch thu;
o Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật;
o Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của
Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài;
Nhóm 8
5
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
o Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù
đắp bội chi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (gọi chung là tỉnh) quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật
Ngân sách Nhà nước được đưa vào cân đối ngân sách.
Cần lưu ý là không tính vào thu Ngân sách nhà nước các khoản thu mang tính
chất hoàn trả như vay nợ và viện trợ có hoàn lại. Vì thế, các văn bản hướng dẫn Luật
Ngân sách nhà nước (Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ và
Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính) chỉ tính vào thu Ngân
sách nhà nước các khoản viện trợ không hoàn lại; còn các khoản viện trợ có hoàn lại
thực chất là các khoản vay ưu đãi không được tính vào thu Ngân sách nhà nước .
Căn cứ vào tính chất sử dụng của các khoản thu, thu ngân sách nhà nước chia
làm 2 loại : thu trong cân đối ngân sách và thu để bù đắp thâm hụt ngân sách.
* Thu trong cân đối ngân sách
- Thuế: đây là hình thức cổ truyền được sử dụng từ trước đến nay để tạo nguồn
thu cho ngân sách nhà nước. Tỉ lệ đóng góp của thuế vào ngân sách nhà nước luôn ở
mức cao. Chẳng hạn như các nước ASEAN có tỉ lệ thuế trong thu thường xuyên của
ngân sách rất cao. Ở Việt Nam, nguồn thu ngân sách nhà nước chủ yếu là nguồn thu từ
thuế. Mặt khác nếu so sánh tỉ lệ thuế động viên vào ngân sách Nhà nước từ GDP của
Việt Nam so với những nước thành viên ASEAN. tỉ lệ này ở nước ta cũng cao nhất.
- Phí và lệ phí : tuy chiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước, song vẫn
được huy động và khai thác nguồn thu đưa vào ngân sách nhà nước nhằm đáp ứng nhu
cầu chi tiêu ngày càng tăng của Nhà nước.
- Thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước: khoản thu này phản ánh hoạt động
kho bạc, trái phiếu kho bạc, và trái phiếu công trình. Vay nợ nước ngoài được thực
hiện dưới các hình thức như: hiệp ước hay hiệp định vay mượn giữa hai Chính phủ.
Hiệp định vay mượn giữa Chính phủ với các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới hoặc
phát hành trái phiếu ra nước ngoài. Vay nợ nước ngoài có 2 loại: vay ưu đãi với lãi
suất rất thấp, thời gian hoàn vốn khá dài; vay thương mại với lãi suất cao hơn, thời
Nhóm 8
7
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
gian hoàn vốn cũng dài. Đối với khoản vay trong nước, nếu Nhà nước vay quá nhiều
sẽ ảnh hưởng đến mức tiết kiệm và tích luỹ của các thành phần kinh tế khác trong nền
kinh tế quốc dân. Do đó đầu tư của các thành phần này cũng có thể giảm. Hơn nữa,
nếu Chính phủ vay trong nước nhiều, lãi suất có xu hướng gia tăng, giá cả hàng hoá
tăng, lạm phát có nguy cơ xảy ra.
- Phát hành tiền: trước năm 1992, để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước còn
sử dụng hình thức này. Tuy nhiên, đối với tình trạng sản xuất yếu kém như nước ta
trước đây việc chọn giải pháp này thường làm cho nền kinh tế không ổn định, do lạm
phát có xu hướng gia tăng. Vì thế đối với nước ta từ năm 1993 đến nay không phát
hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Như vậy để đầu tư phát triển kinh tế, trong
khi nguồn thu ngân sách trong cân đối không đáp ứng đủ, Nhà nước sử dụng biện pháp
vay nợ hoặc phát hành tiền để bù đắp. Trong điều kiện hiện nay việc phát hành tiền bị
hạn chế nhiều. Do đó, nếu nguồn vay được sử dụng có hiệu quả thì tổng sản phẩm
quốc nội tăng đáng kể. Tuy nhiên để có thể thực hiện tốt chức năng mở đường và tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng tham gia phát triển kinh tế. Đồng thời
để có thể kiểm soát được các mặt hoạt động của nền kinh tế, Nhà nước cần khống chế
tỷ lệ vay nợ bù đắp thâm hụt ngân sách ở một mức nhất định nào đó, chẳng hạn mức
khống chế hiện nay là dưới 3,5% GDP.
Toàn bộ khoản thu ngân sách nói trên đã tác động mạnh mẽ đến sự thay đổi
của tổng sản phẩm quốc nội hay sự tăng trưởng kinh tế một cách gián tiếp hoặc trực
tiếp. Tuy nhiên, việc huy động vốn vào ngân sách nhà nước chỉ nên huy động ở mức
vừa phải, hợp lý để Nhà nước vẫn thực hiện được chức năng quản lý kinh tế xã hội.
o Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
o Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
o Hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam;
o Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao
động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến
Nhóm 8
9
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt
Nam;
o Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
o Các chương trình quốc gia;
o Hỗ trợ quỹ Bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ;
o Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
o Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo
quy định của pháp luật;
o Trả lãi tiền do Nhà nước vay;
o Viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài;
o Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi đầu tư phát triển:
o Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội không có khả năng thu hồi vốn;
o Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các Doanh nghiệp nhà nước; góp
vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết
có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
o Chi cho Quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các Quỹ hỗ trợ phát
triển đối với các chương trình, Dự án phát triển kinh tế;
o Dự trữ nhà nước;
o Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển.
o Chi trả nợ gốc tiền do Nhà nước vay.
cấp tỉnh);
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân
sách cấp huyện);
- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
1.4.3. Thâm hụt ngân sách nhà nước
Nhóm 8
11
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là
tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "không
mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước.
Để phản ánh mức độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ
thâm hụt so với GDP hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước.
Thâm hụt ngân sách nhà nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền
kinh tế một nước tùy theo tỉ lệ thâm hụt và thời gian thâm hụt. Nói chung nếu tình
trạng thâm hụt ngân sách nhà nước với tỷ lệ cao và trong thời gian dài sẽ gây ảnh
hưởng tiêu cực.
1.4.4. Năm ngân sách và chu trình quản lý ngân sách nhà nước
Năm ngân sách (hay còn gọi là năm tài chính, tài khoá), là giai đoạn mà trong
đó dự toán thu – chi tài chính của nhà nước đã được phê chuẩn có hiệu lực thi hành.
Hiện nay ở tất cả các nước trên thế giới, thời gian cho một năm ngân sách bằng
với thời gian của một năm dương lịch (bằng với 12 tháng). Tuy nhiên, do điều kiện
kinh tế, chính trị, xã hội ở mỗi nước khác nhau nên thời điểm bắt đầu và kết thúc của
một năm ngân sách được tính từ ngày mùng 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 năm
dương lịch.
Trong chu trình ngân sách, lập ngân sách là khâu khởi đầu, có ý nghĩa quyết
định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý ngân sách. Lập ngân sách thực chất là
dự toán các khoản thu chi của ngân sách trong một năm ngân sách. Việc dự toán thu
chi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung và thực tiễn ngân sách nói riêng.
Kết thúc mỗi kỳ ổn định, căn cứ khả năng thu và yêu cầu chi,
Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%)
phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp và mức bổ sung từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
Nhóm 8
13
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Chương 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI TIÊU CÔNG
2.1. Khái niệm, đặc điểm chi tiêu công.
2.1.1. Khái niệm
Chi tiêu công là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan với sự tồn tại của Nhà
Nước. Qua các thời kỳ kinh tế - xã hội,quan điểm về chi tiêu công cũng có những thay
đổi nhất định. Trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, theo các nhà kinh tế
học cổ điển, chi tiêu công là chi tiêu công của cơ quan pháp nhân công quyền. Theo
đó, hoạt động của cơ quan này không mang lại lợi ích cho quốc gia về kinh tế, chi tiêu
là những khoản chi mang tính chất tiêu dùng. Trong khi đó, các nhà kinh tế hiện đại
cho rằng, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, chi tiêu công là công cụ tài chính của
Nhà nước để trang trải và đảm bảo các hoạt động của bộ máy quản lý, giữ gìn an ninh,
Nhóm 8
14
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
trật tự xã hội và sự toàn vẹn của đất nước; can thiệp vào các hoạt động kinh tế nhằm
ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, bảo vệ lợi ích chung cho các chủ thể xã hội.
Quan sát hiện tượng bên ngoài của hoạt động tài chính công, ta thấy: Chi tiêu
công là khoản chi tiêu công của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính,
các đơn vị sự nghiệp được sự kiểm soát và tài trợ bởi Chính phủ. Như vậy, về cơ bản
chi tiêu công thể hiện các khoản chi của Ngân sách Nhà nước hàng năm được Quốc
hội thông qua. Hoạt đông chi tiêu công của các cấp chính quyền và các đơn vị hữu
quan của Nhà nước chính là quá trình mua các yếu tố đầu vào để cung cấp các hàng
hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư.
- Chi sự nghiệp kinh tế của Nhà nước: việc thành lập các đơn vị sự nghiệp
kinh tế để phục vụ cho hoạt động của mỗi ngành và phục vụ chung cho toàn bộ nền
kinh tế quốc dân. Các hoạt động sự nghiệp do nhà nước thực hiện để tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động của các thành phần kinh tế.
- Chi quản lý hành chính Nhà nước: đây là khoản chi nhằm đảm bảo sự hoạt
động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước, và bao quát 5 lĩnh vực cơ bản
sau: chi về hoạt động của cơ quan quyền lực Nhà nước, của hệ thống các cơ quan pháp
luật, về hoạt động vĩ mô nền kinh tế xã hội cho hệ thống các cơ quan quản lý kinh tế
xã hội và các cấp chính quyền, về hoạt động của các cơ quan Đảng cộng sản Việt nam
ở các cấp, về hoạt động của của các tổ hức chính trị xã hội.
- Chi quốc phòng an ninh và trật tự xã hội: đây là khoản chi thường xuyên đặc
biệt quan trọng, được chia làm 2 bộ phận: các khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ
Nhóm 8
16
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
và bảo vệ nhà nước, chống sự xâm lược và đe dọa của nước ngoài; các khoản chi
nhằm chi bảo vệ, giữ gìn chế độ xã hội, an ninh của dân cư trong nước.
- Chi khác: ngoài khoản chi đã kể trên cũng có các khoản chi như: chi trợ giá theo
chính sách của Nhà nước, chi trả tiền lãi do chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ bảo BHXH
2.2.2. Chi đầu tư phát triển
Trong cơ chế kinh tế thị trường, với chức năng quản lý kinh tế, Nhà nước sử
dụng công cụ ngân sách Nhà nước để phân phối các nguồn lực tài chính cho sự phát
triển của các lĩnh vực sản xuất kinh doanh và các ngành kinh tế quốc dân. Chi đầu tư
phát triển được thực hiện chủ yếu từ ngân sách trung ương và một bộ phận của ngân
sách địa phương. Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng
quy mô vốn đầu tư của Nhà nước và quy mô vốn trên toàn xã hội. Mục tiêu của đầu tư
phát triển là đầu tư vào khu vực sản xuất, đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, làm
thay đổi cơ cấu kinh tế xã hội của Nhà nước. Kết quả các khoản chi này là tạo cơ sở
vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, làm tăng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, tạo ra của cải
Như vậy, có thể thấy rằng chi đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước Việt
Nam có những đặc trưng cơ bản sau: chi đầu tư phát triển là khoản đầu tư lớn và
không ngừng tăng lên; chi đầu tư phát triển là khoản đầu tư mang tính chất tích lũy;
phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển gắn chặt với việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu
phát triển kinh tế xã hôi của đất nước trong từng thời kỳ và sự lựa chọn phương pháp
cấp phát của nhà nước.
Nhóm 8
18
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
• Ngoài cách phân chia chi tiêu công theo tính chất kinh tế kể trên, chi tiêu
công còn được phân chia theo:
- Chức năng của nhà nước, bao gồm: chi cho các hoạt động xây dựng cơ sở hạ
tầng, tòa án và viện kiểm soát, hệ thống quân đội và an ninh xã hội, hệ thống giáo
dục, hệ thống an sinh xã hội, hỗ trợ cho các doanh nghiệp, hệ thống quản lý hành
chính nhà nước, chi tiêu cho các chính sách đặc biệt (viện trợ nước ngoài ngoại giao,
chính trị…), chi khác.
- Theo trình tự lập dự toán của nhà nước, chi tiêu công được chia thành:
+ Chi tiêu công theo yếu tố đầu vào: căn cứ vào nhu cầu mua sắm, trang bị các
phương tiện cần thiết cho hoạt động các cơ quan đơn vị. Chính phủ xác định mức kinh
phí tài trợ. Thông thường có các khoản mục cơ bản như chi phí mua tài sản lưu động,
chi phí mua tài sản cố định, chi tiền lương và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền khác.
+ Chi tiêu công theo yếu tố đầu ra: Mức kinh phí phân bổ cho một cơ quan, đơn
vị không căn cứ vào các yếu tố đầu vào mà dựa vào khối lượng công việc đầu ra và kết
quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị.
2.3. Những tiếp cận cơ bản về quản lý chi tiêu công hiện đại.
2.3.1. Khái niệm quản lý chi tiêu công.
Quản lý chi tiêu công là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển
và đưa ra quyết định của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn tài
chính công nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước trong việc cung cấp
hàng hóa công, phục vụ lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng.
Nhóm 8
20
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
+ Mua sắm hàng hóa công và tài sản.
+ Đánh giá thực hiện.
+ Điều hành kiểm toán từ bên ngoài.
+ Đảm bảo sự giám sát của cơ quan lập pháp và cơ quan khác.
Nhóm 8
21
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
2.3.2. Nội dung quản lý chi tiêu công.
Chi tiêu công bao gồm chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác.Vì
vậy,quản lý chi tiêu công chính là quản lý chi thường xuyên, quản lý chi đầu tư phát
triển và chi khác.
2.3.2.1. Quản lý chi đầu tư phát triển.
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp. Hoạt động của đầu tư
này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh
hoạt của đời sống xã hội.
Như vậy có thể hiểu: chi đầu tư phát triển là quá trình phân phối và sử dụng một
phần vốn tiền tệ từ quỹ công để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát
triển sản xuất và dự trữ vật tư hàng hóa của nhà nước, nhằm thực hiện các mục tiêu
nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển xã hội.
• Quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản
Cấp phát vốn thanh toán đầu tư xây dựng cơ bản của quỹ công nhằm để trang
trải các chi phí đầu tư và xây dựng các công trình thuộc các dự án đầu tư sử dụng
nguồn vốn từ quỹ công.
Nhà nước thực hiện quản lý chi phí đầu tư xây dựng các công trình thuộc dự án
đầu tư thông qua việc ban hành các chế độ chính sách, các nguyên tắc và phương
pháp lập đơn giá, dự toán; các định mức kinh tế kỹ thuật; định mức chi phí tư vấn đầu
tư, xây dựng và xuất vốn đầu tư để xác định tổng mức vốn đầu tư dự án, tổng dự toán
Nhóm 8
23
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân
Hàng năm, căn cứ vào quy định và hướng dẫn của bộ tài chính, nhiệm vụ sản
xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ của nhà nước giao; các doanh nghiệp xây dựng kế
hoạch thu chi tài chính, trong đó có kế hoạch trợ cấp tài chính, trợ giá sản phẩm báo
cáo cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp và cơ quan tài chính đồng cấp. Căn cứ
vào dự toán thu chi hàng năm được duyệt, cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp
có trách nhiệm thẩm tra và trình cơ quan cấp có thẩm quyền xem xét quyết định mức
trợ cấp tài chính, trợ giá sản phẩm đối với từng doanh nghiệp.
Căn cứ vào kế hoạch trợ cấp tài chính, trợ giá sản phẩm hàng năm đã được phê
duyệt, cơ quan tài chính tạm cấp cho doanh nghiệp 70% số trợ cấp, trợ giá theo tiến độ
thực hiện kế hoạch. Kết thúc toàn bộ công việc hoặc kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp
có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được nhà nước trợ cấp, trợ giá với cơ
quan giao kế hoạch hoặc đặt hàng và cơ quan tài chính cùng cấp. Cơ quan giao kế hoạch
hoặc đặt hàng và cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện về
số lượng, hiệu quả kinh tế xã hội của sản phẩm dịch vụ được trợ cấp, trợ giá.
2.3.2.2. Quản lý chi thường xuyên.
Xét theo lĩnh vực chi thì chi thường xuyên bao gồm: chi cho các hoạt động sự
nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa xã hội, chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của nhà
nước, chi cho hoạt động quản lý của nhà nước, chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị xã hội, và các tổ chức khác được cấp kinh phí từ nguồn quỹ công, chi cho
quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội và các khoản chi khác.
Chi thường xuyên của Ngân sách nhà nước là một khoản chi tương đối lớn, để
đảm bảo chi đúng và hiệu quả, nhà nước cần phải tổ chức quản lý chi thường xuyên
một cách phù hợp nhất. Quản lý chi thường xuyên luôn trải qua các trình tự sau:
- Lập dự toán chi thường xuyên.
Nhóm 8
24
Quản lý chi tiêu công GVHD: PGS.TS Nguyễn Hòa Nhân