Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
BÀI TẬP NHÓM : QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ VÀ TÀI TRỢ
ĐỀ TÀI:
QUYẾT ĐỊNH TÀI TRỢ DÀI HẠN CỦA DOANH NGHIỆP
GVHD: TS NGUYỄN HÒA NHÂN
Lớp : CHK26 ĐN.TNH-2
Thực hiện: Nhóm 7
Đà Nẵng, tháng 1/2014
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 1
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
THÀNH VIÊN NHÓM
Bùi Thị Thiên Ân
Võ Thị Kim Quyên
Huỳnh Lê Trang
Phạm Thị Bích Vũ
Nguyễn Thị Thanh Trúc
Lê Thị Nguyệt Ánh
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 2
Các nguồn tài trợ
Tài trợ từ bên ngoài
Ngắn hạn
Dài hạn
Tự tài trợ
Quỹ khấu hao Lợi nhuận giữ lại Điều chỉnh cơ cấu tài sản
Nợ phát sinh Nợ do vay mượn
Nợ Vốn
những thành phần không phải là chủ sở
hữu.
2- Phải trả lãi cho những khoản tiền đã
vay.
3- Mức lãi suất phải trả cho các khoản
vay theo một mức ổn định, được thỏa thu
khi vay.
4- Doanh nghiệp phải hoàn trả nợ khi đáo
hạn, ngoại trừ nguồn huy động là tín dụng
tuần hoàn.
5- Công ty có thể phải thế chấp bằng tài
sản hay nhờ bảo lãnh.
1- Do các chủ sở hữu doanh nghiệp tài
trợ.
2- Chỉ chia lợi tức cổ phần cho chủ sở
hữu nếu công ty làm ra được lợi nhuận.
3- Lợi tức cổ phần chia cho cổ đông tùy
thuộc vào quyết định của Hội đồng quản
trị và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà
công ty thu được.
4- Doanh nghiệp không phải hoàn trả
những khoản tiền vốn đã nhận được cho
chủ sở hữu, trừ khi doanh nghiệp bị phá
sản.
1.1.2. Căn cứ thời gian sử dụng
Nếu căn cứ và thời gian sử dụng người ta phân chia toàn bộ nguồn tài trợ của doanh
nghiệp thành nguồn tài trợ ngắn hạn hoặc dài hạn, tuy nhiên trong thực tế người ta còn chia cả
tài trợ trung hạn, nhưng trong quản trị tài chính tài trợ chung hạn và dài hạn được ghép với
nhau vì chúng có những đặc điểm tương tự nhau. Bảng 8.1 trình bày sự phân biệt nguồn tài trợ
ngắn hạn và dài hạn.
2- Doanh nghiệp không phải trả lãi cho
các nguồn tín dụng thương mại, tín dụng
phát sinh.
3- Lãi suất của các nguồn tài trợ ngắn hạn
thường thấp hơn tín dụng dài hạn.
4- Nguồn tài trợ ngắn hạn nhận được chủ
yếu dưới hình thức nợ.
2- Phải trả lãi cho các khoản tín dụng dài
hạn mà doanh nghiệp nhận được.
3- Lãi suất của các nguồn tài trợ dài hạn
thường cao hơn tín dụng ngắn hạn.
4- Nguồn tài trợ dài hạn có thể nhận được
dưới hình thức vốn cổ phần hay nợ.
1.2. Phương pháp lựa chọn nguồn tài trợ
1.2.1. Đầu tư ngân quỹ vào các tài sản có đời sống phù hợp với thời hạn của nguồn tài trợ
Việc phân loại tài sản thành thường xuyên và tạm thời được sử dụng để triển khai chiến
lược tài trợ chung và thiết lập một cơ cấu đầu tư vào các loại tài sản có tuổi thọ phù hợp với
thời gian đáo hạn của các khoản nợ.
Một chiến lược thường được các doanh nghiệp sử dụng là chiến lược “hedging” (hay
Matching of maturities) tức là đầu tư các nguồn ngân quỹ vào những tài sản có đời sống của
tài sản phù hợp với những trái quyền trên tài sản đó.
Do đó các loại tài sản thường xuyên phải được tài trợ bằng các nguồn ngân quỹ dài hạn
và tài sản tạm thời được tài trợ bằng các loại nợ ngắn hạn, có thời gian đáo hạn phù hợp. Khi
nhu cầu ngân quỹ giảm, các khoản vay ngắn hạn của doanh nghiệp được hoàn trả tăng lên và
khi nhu cầu ngân quỹ ở mức tối thiểu, các khoản vay ngắn hạn sẽ biến mất hoàn toàn. Khi các
tài sản tạm thời bắt đầu tăng (bắt đầu một chu kỳ mới), thì doanh nghiệp lại huy động các
nguồn tín dụng ngắn hạn để tài trợ cho những tài sản này.
Hình 1.4 trình bày bảng cân đối tài sản của một doanh nghiệp áp dụng phương pháp tạo
sự phù hợp giữa thời gian đáo hạn của các khoản tín dụng và tuổi thọ của tài sản tại hai thời
điểm:
trường tài chính có biến động mạnh, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với sự gia tăng các chi
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 6
Nguồn ngân quỹ nhàn rỗi tạm thời
Tín dụng ngắn hạn
Nhu cầu
ngân quỹ
Tín dụng dài hạn
Tài sản lưu động tạm thời
Tài sản
cố định
(Tháng)
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
phí tín dụng, hoặc nếu không được gia hạn nợ thì doanh nghiệp sẽ không trả được nợ ngắn
hạn.
Hình 1.5. Sử dụng nguồn ngân quỹ dài hạn để tài trợ thường xuyên
thêm một số tài sản tạm thời
1.2.3. So sánh giữa chi phí sử dụng tín dụng ngắn hạn và dài hạn
Khi doanh nghiệp sử dụng tín dụng dài hạn thay cho tín dụng ngắn hạn, thì sẽ làm giảm
các rủi ro tài chính. Nhưng chi phí của tín dụng dài hạn thường cao hơn tín dụng ngắn hạn.
Một số yếu tố khác tạo cho tín dụng dài hạn phải chịu chi phí cao hơn là những chi phí
tiền lãi vẫn phải trả ngay cả khi nhu cầu ngân quỹ thấp hơn nguồn ngân quỹ đã huy động. Nếu
doanh nghiệp sử dụng tín dụng ngắn hạn thì có thể hoàn trả chúng trong giai đoạn này và giảm
chi phí trả lãi.
Tóm lại, chúng ta có thể kết luận rằng nhìn chung các nguồn tín dụng dài hạn có chi phí
cao hơn nhưng doanh nghiệp có thể giảm rủi ro khi sử dụng chúng.
Do đó cần chọn một giải pháp thỏa hiệp giữa rủi ro và chi phí trong việc lựa chọn giữa
tín dụng ngắn hạn và dài hạn. Rõ ràng là việc ra quyết định trong tình huống này là một quyết
định quản trị quan trọng.
Hình 8.6 trình bày ba chiến lược lựa chọn cho việc thiết lập một thỏa hiệp giữa tín dụng
ngắn hạn và dài hạn.
dụng dài hạn:
- Lãi suất vay biến động nhiều
hơn.
- Nhu cầu gia hạn các khoản
vay thường xuyên hơn.
Có khuynh hướng đem lại rủi ro ít hơn
tín dụng ngắn hạn.
Chi phí Nhìn chung có chi phí thấp hơn
tín dụng dài hạn:
- Lãi suất thấp hơn mức trung
bình.
- Tín dụng được huy động khi
có nhu cầu.
Nhìn chung có chi phí cao hơn tín
dụng ngắn hạn:
- Lãi suất thường cao hơn.
- Đôi khi được sử dụng cả trong những
lúc không có nhu cầu thực sự.
Trong tất cả mọi thời điểm (ngoại trừ thời điểm nhu cầu ngân quỹ cao nhất), doanh
nghiệp đều có những khoản tín dụng nhàn rỗi nằm dưới dạng tiền mặt, chứng khoán, hàng hóa
tồn kho (các khoản nợ ngắn hạn vừa được tạo ra đã trở nên có khả năng thanh khoản cao và
các nhà quản trị không phải bận tâm về công nợ. Nhưng chi phí sử dụng ngân quỹ rất cao do:
- Lãi suất vay dài hạn cao.
- Trong mọi thời điểm hầu như đều có những nguồn ngân quỹ nhàn rỗi.
Phần (b) trình bày phương pháp “hedging”:
- Chỉ có các tài sản thường xuyên được tài trợ bằng các nguồn ngân quỹ dài hạn.
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 9
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
Phần (c) trình bày một chiến lược thỏa hiệp:
- Toàn bộ các tài sản thường xuyên và một phần tài sản tạm thời được tài trợ bằng ngân
vốn huy động từ các cách thức khác nhau thế nào, đặc biệt là đối với huy động vốn dài hạn thì
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 10
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
phương án huy động vốn đòi hỏi chất lượng rất cao, tính minh bạch, cụ thể và chi tiết là điều
bắt buộc phải đáp ứng.
2.2. Các nguồn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp
2.2.1. Vay dài hạn
Vay dài hạn là một thỏa ước tín dụng dưới dạng một hợp đồng diễn ra giữa người vay
và người cho vay (thường là ngân hàng, công ty bảo hiểm hay một quỹ hưu bổng) mà theo đó
người vay có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền vay theo lịch trình đã định. Đa số các khoản vay dài
hạn có thời gian đáo hạn trong khoảng thời gian từ một đến tám năm và một số khác có thời
hạn dài hơn. Lợi thế của vay dài hạn so với những hình thức tài trợ khác có thời gian đáo hạn
tương tự là chi phí nhận tài trợ thấp và tính linh hoạt của nó. Sở dĩ chi phí của nguồn tài trợ
này thấp là do người sử dụng nợ có kỳ hạn có thể tiết kiệm được các chi phí bảo hiểm. Khi vay
tiền, người vay thường thương lượng trực tiếp với nhà tài trợ, do đó chỉ chịu một khoản chi phí
nhỏ cho các thủ tục tài trợ.
Vay dài hạn thường được hoàn trả vào những hạn định kỳ, với những khoản tiền bằng
nhau. Đó là sự hoàn trả dần khoản tiền vay, bao gồm cả vốn gốc và lãi, trong suốt thời gian
diễn ra giao dịch. Tuy nhiên, giao dịch vay mượn này cũng rất linh hoạt, người cho vay có thể
thiết lập lịch trả nợ phù hợp với dòng lưu kim thu nhập của người vay.
Lãi suất của những khoản vay dài hạn có thể là lãi suất cố định hay lãi suất thả nổi tùy
theo sự thương lượng giữa hai bên.
Lãi suất cố định được áp dụng trên cơ sở mức độ rủi ro và thời gian đáo hạn và chúng
thường được đặt ở mức lãi suất cao hơn so với lãi suất của trái phiếu công ty có mức độ rủi ro
và thời gian đáo hạn tương tự.
Lãi suất thả nổi được thiết lập dựa trên phần lãi suất cơ bản ổn định cộng với một tỷ lệ
phần trăm nào đó tùy thuộc vào mức độ rủi ro có liên quan của giao dịch đó tại thời điểm trả
lãi.
2.2.2. Tín dụng thuê mua
Khái niệm
Thuê vận hành đã có lịch sử rất lâu đời nên còn được gọi là thuê mua kiểu truyền thống
(Traditional Lease). Trong nền sản xuất nông nghiệp, các loại tài sản thường được sử dụng
trong các giao dịchthuê mua truyền thống bao gồm: đất canh tác, công cụ lao động, nhà cửa,
gia súc kéo ngày nay là các loại tài sản, thiết bị được cho thuê vận hành rất đa dạng như: các
máy photocopy, xe ô tô các loại, máy vi tính, trang - thiết bị văn phòng, nhà ở, phòng làm
việc, thiết bị khoa dầu
Hình thức thuê vận hành có thể coi là một loại hợp đồng để chấp hành, tài sản không
được ghi chép vào sổ sách kế toán của người thuê mà phần tiền trả theo thoả thuận được ghi
như mọi khoản chi phí bình thường khác. Trong hợp đồng này không dự kiến quyền chuyển
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 12
Người cho
thuê (Lessor)
Quyền sử dụng tài sản + dịch vụ
Trả Rền thuê
Người
thuê (Lessee)
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
giao sở hữu thiết bị khi hết hạn thuê, cho nên thuê vậ hành không phải là một giải pháp tài trợ
cho hành động mua tài sản trong tương lai. Thoả thuận thuê vận hành được tóm tắt ở hình 8.8.
Hình 1.8. Thoả thuận thuê vận hành
NGƯỜI CHO THUÊ NGƯỜI THUÊ
1. Nắm quyền sở hữu tài sản và đem
cho thuê trong thời gian ngắn
2. Cung cấp toàn bộ các dịch vụ vận
hành và mọi chi phí phục vụ sự hoạt
động của tài sản (chi phí bảo trì, bảo
hiểm, thuế tài sản)
3. Chịu mọi rủi ro và thiệt hại liên quan
đến tài sản cho thuê
4. Có quyền gia hạn thoả thuận và định
Trong giai đoạn thứ hai này, người thuê có thể tiếp tục thuê thiết bị tuỳ theo ý muốn của
họ. tiền thuê trong suốt giai đoạn này thường rất thấp so với thời hạn cơ bản, thường chỉ chiếm
tỉ lệ 1 - 2% tổng số vốn dầu tư ban đầu và thường phải trả trước vào đầu mỗi kỳ thanh toán.
* Phần giá trị còn lại (Residual Value Share)
Theo thông lệ, tại thời điểm kết thúc giao dịch thuê tài chính, người cho thuê thường uỷ
quyền cho người thuê làm đại lý bán tài sản. Người thuê được phép hưởng phần tiền bán tài
sản lớn hơn so với giá mà người thuê đưa ra. hoặc được khấu trừ vào tiền thuê và nó được coi
là một khoản hoa hồng bán hàng.
Các loại chi phí bảo trì, vận hành, phí bảo hiểm, thuế tài sản và mọi rủi ro thường do
người thuê chịu và tổng số tiền mà người thuê phải trả người cho thuê trong suốt thời gian thuê
thường đủ để bù đắp lại toàn bộ giá gốc (giá mua) của tài sản. Bởi các loại chi phí duy trì hoạt
động, bảo hiểm của tài sản do người thuê chịu nên các khoản tiền thuê mà người cho thuê
nhận được coi là giá trị thuần của tài sản. do đó, hình thức thuê này còn được gọi là thuê mua
thuần (Net Lease)
Khi thời hạn thuê căn bản đáo hạn, người thuê có quyền lựa chọn một trong các hình
thức mua lại tài sản với giá trị hợp lý hay giá tượng trưng tuỳ theo sự thoả thuận đã được dự
liệu trước trong hợp đồng, hoặc người thuê cũng có thể tiếp tục thuê tài sản hay nhận làm đại
lý bán tài sản đó tuỳ theo sự uỷ quyền của người cho thuê.
Trong suốt thời gian diễn ra hoạt động thuê tài sản, quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản
thuộc về người cho thuê và quyênè sử dụng, hưởng dụng nhứng lợi ích kinh tế xuất phát từ tài
sản thuộc về người thuê. Do giữ quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản nên mọi ưu đãi về thuế
và các khoản tiền bồi thường do cơ quan bảo hiểm trả cho tài sane đều do người cho thuê
hưởng. Nhưng người cho thuê thường chiết khấu phần tiền khuyến khích về thuế vào khoản
tiền thuê mà người thuê phải trả theo định kỳ. còn khoản tiền bồi thường của công ty bảo hiểm
(nếu có) thường được người cho thuê chuyển cho người thuê sau khi người thuê hoàn thành
trọn vẹn mọi nghĩa vụ theo quy định của hợp đồng.
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 14
Người
cho thuê
(Lessor)
Người cho thuê Người thuê
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 15
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
1. Mua tài sản từ nhà cung cấp, giữ
quyền sở hữu và cho thuê trung hay dài
hạn (1 - 20 năm)
2. Không cung cấp các chi phí và dịch
vụ vận hành, bảo trì tài sản
3. Không chịu mọi rủi ro và thiệt hại đối
với tài sản cho thuê
4. Hết hạn hợp đồng chp phép người
thuê quyền lựa chọn mua tài sản hay ký
tiếp hợp đồng thuê, uỷ quyền cho người
thuê bán hoặc nhận lại tài sản
1. Trả các khoản tiền thuê theo định kỳ và
được quyền sử dụng, hưởng dụng các lợi ích
kinh tế xuất phát từ tài sản
2.Chịu rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài
sản. Có trách nhiệm mua bảo hiểm, đóng
thuế tài sản
3. Không được huỷ ngang hợp đồng, trừ
trường hợp được sự dồng ý của người cho
thuê
4. Mua, tiếp tục thuê, bán tài sản khi hopự
đồng hết hạn theo sự uỷ quyền hoặc trả lại
tài sản cho người thuê.
Phân loại các phương thức thuê tài sản dựa trên so sánh những đặc điểm của chúng với
nhau
Sự so sánh này nhằm giúp các bên có liên quan dễ dàng phana loại, nhanạ diện giao
dịch thuộc phơng thức thuê nào để áp dụng các quy chế hạch toán - kế toán, hưởng các ưu đãi
Người thuê chịu mọi chi
phí vận hành, bảo trì, bảo
hiểm.
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 16
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
6 Ưu đãi về thuế Người cho thuê hưởng và
khấu trừ vào tiền thuê.
Tương tự như thuê vận
hành.
7 Bồi thường bảo
hiểm
Người cho thuê hưởng. Người cho thuê hưởng.
8 Cung ứng tài sản
thuê
Tài sản thuê mướn thường
do người cho thuê cung cấp.
Tài sản cho thuê thường
do người thuê đặt hàng
giao nhận và sử dụng.
9 Tiền bán tài sản Toàn bộ tiền thu được do
bán tài sản thuê thuộc quyền
sử dụng của người cho thuê.
Phần tiền bán tài sản lớn
hơn so với giá quy định
của người cho thuê được
chuyển cho người thuê
hưởng như một khoản
hoa hồng bán hàng hay
đựoc khấu trừ vào tiền
thuê.
Thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản
Giá trị hiện tại của các khoản Rền thuê tối thiểu lớn hơn hay tương đương với giá trị của tài sản
Tài sản
không
không
không
không
Có
Có
Có
Thuế vận hành
Thuế vận hành
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
Tất cả mọi giao dịch thuê tài sản nếu thỏa mãn một trong 4 tiêu chuẩn này đều thuộc
phương thức thuê tài chính. Những giao dịch còn lại đều thuộc thuê vận hành.
Hình 1.10. Phân loại các giao dịch thuê tài sản
Trên có sở các tiêu chuẩn phân loại theo IAS 17 của IASC mỗi quốc gia đều có nhứng
quy định cụ thể trong luật thuê mua của họ dựa trên cơ sở những điều kiện cụ thể của mỗi
nước. Những quy định này có những khác biệt nhất định, song về cơ bản chúng không mâu
thuẫn với IAS17 và tùy theo mức độ, những quy định này có thể chi tiết, cụ thể hơn IAS.
Bảng 1.7. Liệt kê tóm tắt những tiêu chuẩn để được coi là giao dịch thuê mua
tại một số quốc gia và khu vực
Quốc
gia
Tiêu thức
IAS
Hoa
kỳ
Anh Nhật
Hàn
được
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
* Thời hạn thuê
tính theo đời
sống hữu dụng
của tài sản thuê
Phần
lớn
≥ 75%
(*) tối đa
k
0
quá
30 nam
Phần
lớn
Tài sản ≤
10 năm:
70% tài
đương
(*) Những tài sản chỉ còn ≤ 25% đời sống hữu ích của chúng thì không được sử dụng
bào các giao dịch thuê tín dụng.
2.2.3. Phát hành chứng khoán
Cổ phần thường
Cổ phần thường là một chứng khoán thể hiện quyền sở hữu vĩnh viễn đối với Công ty,
bởi không có sự dự liệu trước thời gian . nếu công ty còn tồn tại, thì trái quyền của cổ phần
thường đối với công ty vẫn nghiễm nhiên được duy trì. mặc dù các cổ đông có thể bán số cổ
phần thường mà họ đã đầu tư vào công ty cho người khác vào bất kỳ thời điểm nào, tức là họ
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 19
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
đã chuyển giao quỳên sở hữu của các nhân đối với công ty, song trái quyền của cổ phần đối
với công ty thì không thay đổi.
Nghĩa vụ của cổ đông đối với công ty giới hạn trong phần vốn mà họ đã đầu tư, tức là
một người mua số cổ phần thường của một công ty trị giá 10tr. VND thì trong trường hợp
công ty bị phá sản, ông ta sẽ chỉ có thể bị thua lỗ 10tr.VND đó.
Số lượng cổ phần mà một công ty được phép phát hành được ghi rõ trong bản điều lệ
của nó và chỉ có thể thay đổi sau khi có sự nhất trí của các cổ đông thông qua biểu quyết.
Những cổ phần sẽ được đưa ra bán cho công chúng đầu tư được gọi là cổ phần dự kiến phát
hành và số lượng phát hành thường thấp hơn số lượng ghi trong điều lệ. Chẳng hạn một doanh
nghiệp được phép phát 1 triệu cổ phần thường, nhưng chỉ có 900 ngàn được bán ra. Những cổ
phần đã bán cho công chúng đầu tư được gọi là cổ phần đã phát hành và mất chênh lệch giữa
cổ phần được phép phát hành so với cổ phần được công ty mua lại từ công cúng đầu tư sau khi
phát hành. giả sử sau khi phát hành một thời gian, công ty đã mua lại 50 ngàn cổ phần, thì số
lượng cổ phần dự trữ tại thời điểm này của công ty là 150 ngàn và số lượng cổ phần đã phát
hành là 850 ngàn.
Một doanh nghiệp thường có rất nhiều hình thức huy động nguồn kinh phí bên ngoài
như vay ngân hàng ngắn hạn hay dài hạn, thuê mua các loại máy móc, thiết bị hay mua nguyên
liệu trả chậm v.v để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của nó. Bởi vậy, doanh nghiệp có
những nghĩa vụ đối với chủ nợ. Phần giá trị của những tài sản được tài trợ bằng vốn cổ phần
không được chia lợi tức.
- Có thể chuyển thành cổ phần thường nếu chúng thuộc loại cổ phần ưu đãi khả hoán.
- Lợi tức của cổ phần ưu đãi cố định và có tính lũy kế, tức là lợi tức cổ phần được trả
theo tỷ lệ cố định so với mệnh giá.
- Đồng thời trong một số cổ phần cổ đông cổ phần ưu đãi còn được hưởng bất cứ khoản
lợi tức cổ phần chia thêm nào cùng với cổ đông thường.
- Nếu công ty bị đóng cửa, cổ đông cổ phần ưu đãi có phần đối với tài sản của công ty
trước cổ đông thường và sau các trái chủ.
+ Ưu tiên về trái quyền đôi với thu nhập và tài sản
Công ty chỉ có thể trì hoãn chi trả lợi tức cổ phần ưu đãi trong trường hợp lợi tức cổ
phần thường cũng không được chia. Nhưng lợi tức cổ phần ưu đãi được tính lũy kế (cộng dồn)
và chuyển sang kỳ kế tiếp, điều đó có nghĩa là toàn bộ lợi tức cổ phần ưu đãi hiện tại, cũng
như trong quá khứ phải được chi trả trước khi chia lợi tức cổ phần thường. Vì vậy, sự trì hoãn
thanh toán lợi tức cổ phần ưu đãi sẽ làm cho cổ đông ưu đãi chịu thiệt về tỷ lệ sinh lời kỳ vọng
trên phần lợi nhuận được chia.
Giả sử công ty ABC có 50.000 cổ phần ưu đãi đã phát hành, có mệnh giá là 1.000.000
VND và tổng giá trị vốn cổ phần ưu đãi là 50 tỷ VND. Giả sử tỷ lệ lợi tức của cổ phần ưu đãi
hàng năm là 80% x 50 tỷ = 4 tỷ VND. Trong năm 19 x 4, công ty không chia lợi tức cổ phần
cho bất cứ loại cổ phần nào do tình hình kinh doanh có nhu cầu phải gia tăng năng lực sản
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 21
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
xuất, nên thu nhập phải đưa vào tái đầu tư. Vì vậy, trong năm 19 x 5 công ty phải chi trả cả
phần lợi tức cổ phần ưu đãi năm 19 x 4 chuyển sang và phần của năm 19 x 5, tổng cộng là tỷ
VND, trước khi phân phối bất cứ khoản lợi tức nào cho cổ phần thường.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, sự trì hoãn thanh toán lợi tức cổ phần ưu đãi sẽ đem lại
những tác động tiêu cực đối với doanh nghiệp. Trước hết điều đó có nghĩa rằng cổ phần
thường cũng không được chia lợi tức và do đó nó là tiền đề làm giảm giá bán của cổ phần
thường, đồng thời làm tăng chi phí sử dụng vốn cổ phần của công ty ở mức tương ứng. Ngoài
ra, sự trì hoãn này còn làm cho công ty rất khó khăn trong huy động thêm nợ mới và đồng thời
làm cho chi phí vay nợ cũng tăng lên. Nguyên nhân là do các chủ nợ tiềm tàng cho rằng công
được chuyển đổi, nó sẽ được công ty thu hồi và cổ đông nhận được một số cổ phần thường tùy
theo thỏa thuận với công ty. Trong trường hợp không đạt được sự thỏa thuận, cổ phần ưu đãi
chuyển đổi được sẽ được thu hồi và công ty cũng có thể cưỡng ép chuyển hóa cổ phần bằng
cách hoàn trả vốn đầu tư khi thị giá của cổ phần ưu đãi cao hơn giá hoàn trả.
+ Đánh giá nguồn tài trợ bằng cổ phần ưu đãi
Những thuận lợi mà nguồn vốn cổ phần ưu đãi đem lại cho doanh nghiệp là:
- Cổ phần ưu đãi có thể đem lại cho doanh nghiệp sự linh hoạt trong thanh toán vào
những thời điểm khó khăn về tài chính. Không giống như tiền trả lãi phát phiếu, doanh nghiệp
có thể trì hoãn việc chi trả cổ tức của cổ phần ưu đãi mà không để lại hậu quả xấu nào trên
phương diện pháp lý.
- Nguồn vốn cổ phần ưu đãi đem lại cho doanh nghiệp sự chủ động về mặt tài chính.
Công ty có thể huy động với một mức chi phí cố định và có thể đầu tư vào những lĩnh vực có
tỷ lệ hoàn vốn cao hơn.
- Công ty không phải chấp nhận chia sẻ quyền bầu cử và do đó không phải phân chia
quyền kiểm soát, quản lý với những cổ đông đầu tư vào loại cổ phần này.
- Cải thiện vị thế tài chính của công ty cổ phần ưu đãi được coi là một phần giá trị thuần
của công ty.
- Trong nhiều trường hợp, cổ phần ưu đãi được huy động để sử dụng vào việc mua lại
hay thôn tính một công ty khác.
Song cổ phần ưu đãi cũng có thẻ đem lại cho công ty những bất lợi như:
- Chi phí của nguồn vốn này cao hơn chi phí sử dụng nợ
- Lợi tức cha cho cổ phần ưu đãi kông có tác dụng làm giảm thuế lợi tức của doanh
nghiệp bởi chúng không được tính vào chi phí của doanh nghiệp.
- Khi công ty trì hoãn thanh toán lợi tức cổ phần ưu đãi, thì có thể có những tác động
tiêu cực đối với khả năng huy động nguồn tài trợ mới của công ty. do đó, công ty chỉ nên áp
dụng giải pháp này trong trường hợp bất khả kháng.
Trên phương diện công chúng đầu tư, đầu tư vào cổphần ưu đãi có mức rủi ro cao hơn
so với đầu tư vào các loại trái phiếu của cùng một doanh nghiệp. bởi trái phiếu có thứ tự ưu
tiên cao hơn cổ phần ưu đãi.
+ Phát hành Trái phiếu
hạn của nó. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng được qui định rõ và thông thường trả lãi hàng
năm 2 lần vào 30/6 và 31/12. Thông thường lãi suất ghi trên trái phiếu được căn cứ vào lãi
suất trái phiếu có kỳ hạn tương đương của kho bạc Nhà nước và mức độ rủi ro của doanh
nghiệp.
Tuy nhiên chúng ta cần lưu ý rằng, lãi suất trả cho trái phiếu cố định hàng năm nhưng giá trị
của trái phiếu thì thay đổi tuỳ thuộc vào những biến động của thị trường.
K26 ĐN.TNH 2- Nhóm 7 Trang 24
Quyết định tài trợ dài hạn GVHD: Nguyễn Hòa Nhân
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: trong những giai đoạn có nhiều biến động trong nền kinh tế thì
lãi suất trên thị trường vốn thay đổi liên tục và do vậy các doanh nghiệp thường phát hành trái
phiếu có lãi suất thả nổi.
Tuy gọi là lãi suất thả nổi nhưng thực ra lãi suất của nó phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất
quan trọng như lãi suất LIBOR (London Inter Bank Offered Rate) hoặc lãi suất của trái phiếu
này lấy lãi suất của trái phiếu kho bạc làm chuẩn và được định kỳ điều chỉnh sau những
khoảng thời gian nhất định theo quy định.
Như vậy việc phát hành trái phiếu này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư trong điều kiện nền kinh tế
không ổn định, thị trường tài chính biến động không ngừng. Những trái phiếu này thường tỏ ra
phù hợp đối với những nhà đầu tư không ưa mạo hiểm, nhưng loại trái phiếu này cũng có
những
nhược điểm như doanh nghiệp không thể phân biệt chắc chắn về chi phí lãi vay của trái phiếu
trong hoạch định ngân quỹ và việc quản lý trái phiếu cũng đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do
phải điều chỉnh lãi suất.
Trái phiếu có thể thu hồi sớm: tuỳ theo tình hình tài chính của mình, một số doanh nghiệp có
thể huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu có khả năng thu hồi sớm, tức là doanh nghiệp
có thể mua lại những trái phiếu vào một thời gian nào đó trước khi mãn hạn. Trong trường hợp
này người mua trái phiếu không kiếm được lãi suất mãn hạn (YTM). Như vậy, những trái
phiếu có khả năng thu hồi sớm phải được quy định ngay từ khi phát hành để người mua trái
phiếu được biết, phải quy định rõ về thời hạn, giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại trái phiếu.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tài trợ dài hạn của doanh nghiêp
Có rất nhiều nguồn vốn khác nhau mà một công ty có thể huy động để tài trợ cho