Phân tích luận điểm Hồ Chí Minh "Nước độc lập mà người dân không được
hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập không có ý nghĩa" liên hệ Việt Nam hiện
nay
I. Mở đầu:
Lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng minh rằng mỗi dân tộc đều phải
lựa chọn cho mình một mục tiêu, con đường phát triển, đó là quyền tự quyết
thiêng liêng của mỗi dân tộc, không thể áp đặt. Với một đất nước bị xâm lược
như chúng ta, ưu tiên trước hết là độc lập tự do nhưng Bác thật sáng suốt, Người
đã xác định rõ con đường phát triển của dân tộc ta là độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cách mạng quốc tế, anh hùng giải phóng
dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới; cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của
chủ tịch Hồ Chí Minh là một huyền thoại, đầy sức hấp dẫn, được nhân dân ta
và bạn bè quốc tế ngưỡng mộ, kính yêu. Có thể tiếp cận cuộc đời và tưởng Hồ
Chí Minh ở nhiều góc độ, người đã để lại cho chúng ta một di sản tinh thần vô
cùng quý giá, và ở phương diện nào bác cũng để lại những bài học giản dị mà
sâu sắc.
Nghị quyết đại hội IX đã khẳng định: “ tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ
thống quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng
Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.” Bản
chất chính trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung là sự thống nhất hữu cơ
giữa khoa học cách mạng và nhân văn. Trong đó Bác có nêu lên luận điểm
sau: “Nước độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc
lập không có ý nghĩa.”
II. Nội dung
Làm thế nào Bác có thể xác định con đường phát triển cho dân tộc ta? Trước
Người, rất nhiều anh hùng dân tộc đã bôn ba tìm đường cứu nước, từ Phan Bội
Châu dựa vào Nhật để đánh Pháp – “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, Phan
Châu Trinh dựa vào khoa học của Pháp chấn hưng dân khí – “ chẳng khác gì xin
sách kinh tế mới – NEP. Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra một
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mới, đầu tiên ở Liên Xô.Sau chiến tranh
thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ra đời bao gồm nhiều nước
và đạt được những thành tựu to lớn.
2. Kinh nghiệm từ Trung Quốc
Bên cạnh Liên Xô là một nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, Trung
Quốc cũng vậy, tuy nhiên chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc lại có phần khác biệt.
Con đường chủ nghĩa xã hội này ở Trung Quốc có thể chia làm 2 giai đoạn ( hay
2 kiểu chủ nghĩa xã hội ): thứ nhất là dưới thời Mao Trạch Đông, thứ hai là dưới
thời Đặng Tiểu Bình.
2.1. Chủ nghĩa xã hội dưới thời Mao Trạch Đông
Bởi ý thức tư tưởng phong kiến ở Trung Quốc ăn sâu và ngoan cố nên
trong quá trình lãnh đạo Trung Quốc xây dựng văn hoá tinh thần xã hội chủ
nghĩa, Mao Trạch Đông đã tiến hành cải tạo tư tưởng với quy mô lớn nhằm
thông qua đó tạo nên con người mới xã hội chủ nghĩa để có thể xây dựng nền
văn hoá xã hội chủ nghĩa có nền tảng chắn chắn. Cải tạo tư tưởng có ý nghĩa đặc
biệt đối với công cuộc xây dựng văn hoá tinh thần ở Trung Quốc. Mao Trạch
Đông chỉ ra rằng “Trong quá trình xây dựng văn hoá tinh thần xã hội chủ nghĩa,
người người phải cải tạo, kẻ bóc lột phải cải tạo, người lao động cũng phải cải
tạo”. Đương nhiên tính chất và phương thức của kẻ bóc lột và người lao động có
phần khác biệt nhau.
Việc cải tạo tư tưởng đối với giai cấp bóc lột là cải tạo mang tính cưỡng
bức, là "xoá bỏ chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến của họ, xoá bỏ một giai cấp
xã hội chứ không phải tiêu diệt thể xác của họ". Đối với tầng lớp tri thức, Mao
Trạch Đông nhấn mạnh chủ yếu thông qua phê bình và tự phê bình để tự giáo
dục và tự cải tạo. Việc cải tạo tư tưởng đối với cán bộ lãnh đạo được tiến hành
xung quanh cuộc đấu tranh chống sa đọa thối nát, trở thành nhiệm vụ cơ bản
trong việc cải tạo tư tưởng của cán bộ lãnh đạo. Còn giai cấp công nhân, theo
quan điểm của chủ nghĩa Marx, họ là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp, là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất, nhưng Mao Trạch Đông đã
nền văn hoá tư tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù gặp nhiều trắc trở nhưng Mao
Trạch Đông đã thông qua cải tạo tư tưởng, loại bỏ những tàn dư của chủ nghĩa
phong kiến và chủ nghĩa thực dân, thay đổi thói quen tâm lý và phương thức
hành vi cũ, xây dựng nền văn hoá tinh thần xã hội chủ nghĩa theo quan điểm giá
trị và quan điểm đạo đức phục vụ nhân dân. Do đó ở Trung Quốc đã có được
những thay đổi long trời lở đất, thay đổi đó lại đặt cơ sở, đem lại kinh nghiệm
quý báu cho sự phát triển toàn diện vì tiến bộ xã hội và tự do của con người hôm
nay.
2.2. Chủ nghĩa xã hội dưới thời Đặng Tiểu Bình
Đặng Tiểu Bình đã mang đến xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung
Quốc. Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc là sản phẩm kết hợp giữa tư
tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ của Mác-Ăng-ghen những năm cuối đời và thực
tiễn cụ thể cải cách-mở cửa của Trung Quốc, sẽ xây dựng Trung Quốc thành
một nước xã hội chủ nghĩa dân chủ giàu có, văn minh, công bằng và hài hoà như
châu Âu ngày nay. Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển sang chủ nghĩa xã hội
dân chủ là tuân theo lời dạy của Mác và Ăng-ghen những năm cuối đời, kế thừa
truyền thống cách mạng dân chủ mới, triệt để thoát khỏi mô hình Liên Xô, trở
lại với chủ nghĩa Mác tiến cùng thời đại. Đó là định vị lịch sử của chủ nghĩa xã
hội mang màu sắc Trung Quốc.
Nếu như Mao Trạch Đông đã giải phóng con người Trung Quốc ở mặt tư
tưởng thì Đặng Tiểu Bình lại giải phóng sức lao động của con người, tạo ra sự
thay đổi về chất. Điều này có thể dễ dàng thấy thông qua sự phát triển của nền
kinh tế Trung Quốc, sự hình thành một tầng lớp trung lưu thành thị chiếm tới
15% dân số, mức sống cao hơn (thể hiện qua sự tăng trưởng ngoạn mục của mức
GDP trên đầu người, chi tiêu tiêu dùng, tuổi thọ, tỷ lệ biết chữ, và tổng mức sản
xuất lương thực) và ở mức rộng lớn hơn là các quyền con người và tự do cho
người dân thường Trung Quốc Không sai khi nói rằng Trung Quốc sẽ không có
được ngày hôm nay nếu không có Đặng Tiểu Bình.
Dù tiêu chuẩn cuộc sống đã được cải thiện rõ rệt trong thập kỷ 1980,
những cuộc cải cách của Đặng Tiểu Bình vẫn bị chỉ trích rộng rãi. Những người
toàn dân ủng hộ. Phong trào cách mạng tinh thần yêu nước của nhân dân dấy lên
từ cao trào giải phóng dân tộc và tổng khởi nghĩa tiếp tục phát triển với những
hình thức và nội dung mới nhằm xây dựng, bảo vệ chính quyền, giữ vững thành
quả cách mạng.
Bên cạnh những thuận lợi do thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đem
lại, nhân dân ta và chính quyền cách mạng phải đương đầu với những khó khǎn,
thử thách nặng nề.
3.1 Về Kinh tế - tài chính
Nhân dân ta và chính quyền cách mạng còn phải vượt qua những khó
khǎn lớn về kinh tế, đời sống xã hội. Nên kinh tế nước ta vốn đã nghèo nàn, lạc
hậu lại bị thực dân Pháp và phátxít Nhật vơ vét, bị chiến tranh và thiên tai tàn
phá nên lại càng nghèo hơn. Nǎng suất lúa rất thấp ( 12 tạ/ha). Nông dân lao
động chiếm hơn 95% số hộ nhưng chỉ được sử dụng không quá 40% ruộng đất.
Hậu quả nạn đói cuối nǎm 1944 đầu nǎm 1945 chưa kịp khắc phục, thì nạn lụt
lớn lại xảy ra, tàn phá 9 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. 50% ruộng đất bỏ hoang.
Công nghiệp chỉ có không quá 200 nhà máy nhỏ bé, trang bị cũ kỹ, đang
lâm vào đình đốn, hàng hoá khan hiếm. Tài chính quốc gia gần như trống rỗng.
Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản nước ngoài. Chính quyền
cách mạng chỉ tiếp quản được kho bạc với 1.230.720 đồng, trong đó có 586.000
đồng tiền rách.
3.2 Về văn hóa
Hậu quả về mặt xã hội cũng rất nặng nề, trên 90% số dân không biết chữ.
Hầu hết số người được đi học chỉ ở bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới
có một học sinh cao đẳng hoặc đại học và chủ yếu học ở ngành luật và ngành
thuốc.
Suất thời kỳ 1930-1945, số công chức có trình độ cao đẳng và đại học chỉ
gồm vài trǎm người. Thực tế đó làm cho việc tổ chức, hoạt động của chính
quyền mới gặp không ít khó khǎn, lúng túng.
3.3 Về chính trị- quân sự
Vào thời gian này, nhà nước ta mới được thành lập, thật sự còn non trẻ.
tự do bãi công,…
Về thương nghiệp, Chính phủ ra sắc lệnh thủ tiêu, luật lệ ngăn sông, cấm
chợ do Pháp – Nhật đặt ra trước đây, sắc lệnh về việc bãi bỏ các nghiệp đoàn
độc quyền kinh doan. Đồng thời, Chính phủ chủ trương khuyến khích buôn bán,
vận động các nhà buôn thành lập hội thương gia Việt Nam, phong thương mại.
Về tài chính, Chính phủ kêu gọi sự đóng góp tự nguyện, ủng hộ và giúp
đỡ của nhân dân, thông qua phong trào “Quỹ độc lập”, theo sắc lệnh của Chính
phủ ngày 4- 9- 1945, “Tuần lễ vàng” được tổ chức ngày 19- 9 -1945 nhằm thu
gom số vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu dùng vào việc cần gấp
và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là quốc phòng. Ngoài ra, Chính phủ
còn vận động sự giúp đỡ của nhân dân thông qua “hũ gạo nuôi quân”, “ nhận
nuôi cán bộ,”…
Để tạo điều kiện cho nhân dân an tâm sản xuất, giảm bớt sưu cao, thuế
nặng, Chính phủ đã có biện pháp kịp thời và đúng đắn về chính sách thuế, bãi bỏ
thuế bất công vô lý vào ngày 7- 9-1945 như thuế thân, thuế rượu, muối và thuốc
phiện. Ngày 22-9-1945, miễn giảm thuế môn bài kinh doanh nhỏ dưới 50 đồng,
thuế chợ, xe đò, xe tay,… Ngày 26-10-1945, Chính phủ ban hành nghị định
giảm thuế điền thổ 20%, miến thuế cho các vùng bị lụt ở Nam Bộ và Nam Trung
Bộ,… Để bù vào khoản thiểu hụt ngân sách, Chính phủ đặt ra nguồn thu mới:
“đảm phụ đặc biệt” đánh vào ngành vận tải, bưu điện, “đảm phụ quốc phòng”.
Chấn chỉnh các nguồn thu đi dôi với việc thành lập bộ máy quản lý thu. Ngày
10-9-1945, Sở thuế quan và thuế gián thu, Nha thuế trực thu, Nha thuế trước bạ,
cộng sản và điền thổ,… được thành lập.
Cùng với đấu tranh tiền tệ vào, cuối tháng 10- 1945 ( đấu tranh với ngân
hàng Đông Dương đổi tiền, đối phó với “tiền quan kim” và “quốc tệ”), chúng ta
đã bí mật in tiền. Tháng 12- 1945, chúng ta cho lưu hành tiền lẻ, để giải quyết
nạn khan hiếm tiển lẻ và cho nhân dân làm quen với tiền mới của chính quyền
cách mạng sau đó từng bước tiến hành phát hành tiền trong cả nước.
4.2 Về văn hóa
Ngày 8 - 9 - 1945, Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập Nha Bình dân
lịch sử dân tộc, nhân dân ta được thực hiện quyền làm chủ, bầu những đại biểu
chân chính vào các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ở Việt Nam đã hoàn toàn thắng lợi. Quốc
hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời.
4.4 Chính sách cuả thực dân Pháp
Dưới danh nghĩa “bảo hộ”, thực dân Pháp đã xâm lược nước ta và thực
hiện chính sách khai thác thuộc địa nhằm làm giàu cho nước Pháp.
“Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn,
thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và
dân buôn, trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên.
Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân
chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man.
Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc
thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.
Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta.
Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.”
“Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.” Tất cả
những gì chúng đem lại cho nhân dân ta là sự đau khổ, nghèo đói, áp bức,, bóc
lột,…. Đây chính là chính sách “khai hóa văn minh” của chúng.
Bằng những hành động thiết thực của mình ( tịch thu đất của đế quốc chia
cho dân cày, xóa và giảm một số thuế, xây dựng lớp bình dân học vụ, kêu gọi
nhân dân tham gia xóa nạn mù chữ,….), Hồ Chí Minh đã xây dựng nền dân chủ
nhà mát giấy Đấp Cầu,….Không chỉ có vậy, chúng ta còn khôi phục được 50
trong số 60 chiếc cầu bị phá, sửa chữa được 500km đường bộ, tu sửa 32 km
đường sắt chỉ sau hơn một tháng sau cách mạng tháng 8.
Về văn hóa, giáo dục, từ ngày 8 -9- 1945 đến ngày 8 – 9 – 1946, có 76000
lớp học và 2,5 triệu người được xóa nạn mù chữ. Các trường phổ thông và đại
học khai giảng sớm hơn só với nội dung học và dạy đổi mới. Giặc dốt đã bị đẩy
lùi.
Về chính trị, bộ máy nhà nước được củng cố, trở nên vững mạnh hơn,
nhận được sự tín nhiệm của toàn thể nhân dân.
III. Kết luận
Mặc dù hiện nay đất nước ta trong môi trường hòa bình xây dựng CNXH,
nhưng các lực lượng thù địch đang ra sức dùng nhiều con đường, bằng nhiều
biện pháp khác nhau, từ kinh tế đến văn hóa, khoa học, công nghệ, dân tộc và
tôn giáo, nhằm thay đổi bản chất của chế độ chúng ta. Hơn lúc nào hết mỗi cán
bộ, đảng viên và nhân dân luôn nâng cao cảnh giác cách mạng, đồng thuận trong
nhận thức và hành động để tư tưởng của Bác Hồ kính yêu về độc lập dân tộc gắn
liền với CNXH được hiện thực hóa, lấy dân làm gốc.
Tạm mượn câu nói của Người để kết thúc bài viết: “ Yêu Tổ quốc, yêu
nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội
thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mối ngày một giàu mạnh
thêm.”