Nghiên cứu tỷ lệ, mức độ kháng kháng sinh của Haemophilus influenzae và Streptococcus pneumoniae ở trẻ dưới 60 tháng tuổi lành và bị viêm phổi tại Cần Thơ năm 2007 - Pdf 12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y TRẦN ĐỖ HÙNG NGHIÊN CỨU TỶ LỆ, MỨC ĐỘ KHÁNG KHÁNG SINH CỦA
HAEMOPHILUS INFLUENZAE

STREPTOCOCCUS
PNEUMONIAE
Ở TRẺ DƯỚI 60 THÁNG TUỔI LÀNH VÀ BỊ
VIÊM PHỔI TẠI CẦN THƠ NĂM 2007

CHUYÊN NGÀNH : VI KHUẨN HỌC
MÃ SỐ : 62. 72. 68. 01


Phản biện 3: PGS.TS. PHẠM VĂN CA Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm Luận án cấp Nhà nước
họp tại Học viện Quân y. Vào hồi 08 giờ 30 ngày 18 tháng 04 năm 2009 Có thể tìm luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện Quân y

DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ ĐĂNG IN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Trần Đỗ Hùng (2008), "Nghiên cứu căn nguyên gây viêm phổi do
Haemophilus influenzae và Streptococcus pneumoniae ở trẻ em
dưới 5 tuổi tại bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ", Tạp Chí y học thực

Thế giới (WHO) coi việc xác định và phòng chống các căn nguyên gây bệnh
nhiễm trùng hô hấp cấp tính là một trong những chiến lược căn bản nhằm
nâng cao sức khoẻ trẻ em. Ở các nước phát triển, căn nguyên gây nhiễm
trùng hô hấp cấp tính chủ yếu do virus (80,0 – 90,0%) trong khi ở các nước
đang phát triển căn nguyên gây bệnh chủ yếu lại do vi khuẩn (75,0%).
Các công trình nghiên cứu cho thấy vi khuẩn gây nhiễm trùng ở
đường hô hấp của trẻ là Streptococcus pneumoniae và Haemophilus
influenzae. Trong những năm gần đây tính nhạy cảm của S. pneumoniae với
penicillin và H. influenzae với ampicillin ngày càng giảm. Các thế hệ kháng
sinh mới ra đời ngày càng nhiều, việc sử dụng kháng sinh không hợp lý càng
làm tăng sự kháng kháng sinh của vi khuẩn. Tại vùng đồng bằng sông Cửu
Long cũng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Với hy vọng góp phần
làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ bị nhiễm trùng hô hấp cấp tính, làm giảm chi
phí trong điều trị bệnh, phù hợp với điều kiện kinh tế khu vực Tây Nam bộ
là rất cần thiết và cấp bách, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm.
Mục tiêu:
- Xác định, so sánh tỷ lệ phân lập Haemophilus influenzae và
Streptococcus pneumoniae ở trẻ dưới 60 tháng tuổi lành và bị viêm
phổi.
- Đánh giá, so sánh mức độ kháng kháng sinh của hai loại vi
khuẩn đã phân lập được.
2. Bố cục của Luận án
Luận án gồm có 136 trang trong đó:
- Đặt vấn đề: 2 trang
- Chương 1: Tổng quan tài liệu: 39 trang
- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 15 trang
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu: 43 trang
- Bàn luận: 34 trang
- Kết luận và kiến nghị: 3 trang
3. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận án

hấp người ta chia ra một cách tương đối làm hai phần: đường hô hấp
trên và đường hô hấp dưới, lấy nắp thanh quản làm mốc.
- Viêm đường hô hấp trên bao gồm: viêm mũi, viêm họng, viêm
amidal, viêm tai giữa, viêm xoang.
- Viêm đường hô hấp dưới bao gồm: viêm thanh quản, khí quản,
viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi.
1.2. Cơ chế miễn dịch bảo vệ đường hô hấp
Vi sinh vật xâm nhập đường thở, chúng gặp hệ thống bảo vệ
đường hô hấp gồm: Hàng rào niêm mạc (lớp màng nhầy, các vi nhung
mao, nắp thanh quản, sự cạnh tranh giữa các vi sinh cư trú bình
thường và vi sinh vật gây bệnh, IgA tiết, ), hàng rào thực bào (đại
thực bào, hệ thống võng nội mô, tế bào diệt tự nhiên, các tế bào
lympho Tc, các tế bào lympho Th, ), hàng rào dịch thể (kháng thể, bổ
thể, interferon, ).
1.3.Tình hình nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi
1.3.1. Trên thế giới
Theo WHO hàng năm có khoảng 12 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử
vong mỗi năm. Trong đó 70,0% liên quan đến nhiễm trùng hô hấp cấp
tính, tiêu chảy, sốt rét, suy dinh dưỡng trong số này hơn 90,0% các
trường hợp mắc bệnh là trẻ em ở các nước đang phát triển. Nhiễm trùng
hô hấp cấp tính là nhóm bệnh có tần suất mắc cao, trung bình trẻ mắc 3
– 8 lần/năm, mỗi lần kéo dài 3 - 4 ngày. Tần su
ất trẻ mắc nhiễm trùng
hô hấp cấp tính thay đổi và phụ thuộc vào lứa tuổi và các yếu tố liên
quan khác như: trẻ đẻ non, trẻ suy dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc, môi
trường sống ô nhiễm. Tỷ lệ nhiễm trùng hô hấp cấp tính có sự khác biệt

3
giữa vùng nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng. Ở các nước
phát triển tần suất mắc nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở thành thị là 7,1

Các trẻ nhỏ có bố, mẹ hút thuốc lá dễ bị viêm đường hô hấp hơn các
trẻ khác. Tình trạng kinh tế xã hội của các nước đang phát triển như
nhà ở chật chội, đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém,
1.3.3.3. Các căn nguyên gây nhiễm trùng đường hô hấp
* Virus: Orthomyxovirus(influenzae virus), Paramyxovirus
(virus quai bị, virus hợp bào, virus sởi, virus á cúm, ), Rubella
(Adenovirus, Rhinovirus, SARS, ). RSV là đứng hàng đầu trong căn
nguyên ARI.
* Vi nấm: Pneumocytis carinii, Candidia albicans, Cryptococcus
neoformans, Aspergillus.

4
* Vi khuẩn thường gây NTHHCT: Streptococcus pneumoniae,
Haemophilus influenzae, Streptococcus viridans, Moraxella catarrhalis,
Staphylococcus aureus, Streptococcus haemolytic nhóm A, Klebsiella
pneumoniae
1.4. Các vi khuẩn thường gây nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em
1.4.1. Heamophilus influenzae
* Đặc điểm hình dạng và đặc tính sinh học: Cầu trực khuẩn
Gram âm. Đôi lúc đa hình dạng. Kích thước 0,3 x 0,5 x 3μm. Xếp thành
chuỗi ngắn hoặc dài. Vi khuẩn mọc tốt trên môi trường thạch chocolate
có yếu tố X và V: 37
o
C, 18-24 giờ, 5%CO
2
. Trên môi trường thạch
chocolate có Bacitracin 37
o
C/18-24 giờ/5%CO
2

, gây tan máu týp α, bị ly giải trong môi
trường muối mật, nhạy cảm với optochin, lên men nhiều loại đường:
glucose, lactose, maltose, saccarose, không lên men: manit, sorbitol,
glycerol. Có 2 loại kháng nguyên, KN protein chung, KN vỏ
polysaccharide đặc hiệu cho serotýp, có 90 serotýp, serotýp gặp thường
nhất 6B, 19F, 23F kể đến 6S, 15, 3, 14, 9V. Định týp chỉ có ý nghĩa

5
dịch tễ học. S. pneumoniae sống lâu trong đờm, mủ khô vài tháng. Bị
diệt ở 60
o
C/30 phút và các thuốc sát trùng thông thường.
* Khả năng gây bệnh: gây bệnh nguyên phát, thường thứ phát
sau nhiễm virus. KN vỏ (polysaccharide) là tính chất gây bệnh của S.
pneumoniae, vi khuẩn gây viêm phế quản, viêm màng não mủ, viêm
màng trong tim, viêm khớp, viêm thận, viêm xoang, viêm tai giữa,
nhiễm khuẩn huyết,…
* Chẩn đoán xác định: nhuộm soi (vi khuẩn hình cầu, đứng
thành đôi, bắt màu Gram dương), khuẩn lạc nhỏ [(0,5 – 1mm), có
chóp như đầu đinh ghim], xung quanh khuẩn lạc có quầng tan máu
màu xanh (tan máu α), thử nghiệm optochin (+): đường kính vùng ức
chế ≥ 14mm.
* Phòng bệnh: phòng bệnh hơi khó khăn do S. pneumoniae lây
bệnh theo đường hô hấp. Phòng bệnh đặc hiệu là vaccine
polyrsaccharide cộng hợp.
* Điều trị: hiện nay S. pneumoniae còn nhạy cảm với nhiều loại
kháng sinh. Tốt nhất nên làm kháng sinh đồ bởi vì hiện nay tính kháng
kháng sinh của S. pneumoniae càng lúc càng tăng.
1.4.3. Tác động qua lại giữa H. influenzae và S. pneumoniae
Cả hai loại vi khuẩn H. influenzae và S. pneumoniae có thể được

thì S. pneumoniae còn nhạy cảm 100% với ampicillin, nhưng đề kháng
66,0% với co-trimoxazole, 71,0% với erythromycin và 36,0% với
chloramphenicol. Trần Viết Thắng nghiên cứu trên 203 trẻ lành tại một
xã vùng cao Yên Bái từ năm 1993 đến năm 1997 thì thấy rằng độ nhạy
cảm của S. pneumoniae với co-trimoxazole đã giảm từ 58,7% xuống còn
36,6%. Trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng S.
pneumoniae ngày càng gia tăng sự kháng đa kháng sinh, đặc biệt là
nhóm quinolon.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Ở trẻ lành
Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ lành dưới 60 tháng tuổi tại một số trường
mầm non thuộc địa bàn tp Cần Thơ năm 2007.
Tiêu chuẩn loại trừ: Trẻ đang có một trong các biểu hiện
NKHHCT: sốt, chảy nước mũi, ho, chảy mủ tai, đau họng, họng viêm đỏ,
trẻ đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn khác, trẻ suy dinh dưỡng, tim bẩm
sinh, đang điều trị kháng sinh, đã mắc bệnh nhiễm khuẩn và có điều trị
kháng sinh hoặc không trong vòng 3 tháng trước, phụ huynh không đồng
ý hợp tác,….
Ở trẻ bị viêm phổi
Tiêu chuẩn lựa chọn (WHO năm 1997): Trẻ bị viêm phổi
đang nằm điều trị tại Khoa hô hấp bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ năm
2007, do các bác sỹ nhi khoa lựa chọn theo tiêu chuẩn sau: trẻ dưới 60
tháng tuổi, biểu hiện của viêm phổi cấp tính (Sốt cao ≥ 38
0
C, nhịp thở
≥ 40 lần/ phút, ho, thở khò khè, có ran ẩm nhỏ hạt, X quang phổi có
thâm nhiễm, bạch cầu đa nhân chiếm ưu thế).

)1(
ερ
α
×

=

pZ
n

n: cỡ mẫu tối thiểu.
p: Tỷ lệ cân đối.
ε : Sai số tương đối cho phép. ε
1
= 0,33 → ε
1
2
= 0,1 ; ε
2
= 0,25→ ε
2
2
= 0,06
Z
1-α/2
: Hệ số tin cậy, chọn độ tin cậy là 95% → Z
1-α/2
= 1,96.
 Nhóm cộng đồng: P
1


8
37
0
C, 5% CO
2
), nhuộm Gram lần 2 (kiểm tra), thử nghiệm catalase (-),
tan huyết alpha, thử nghiệm Optochin (+), tan trong muối mật, S.
pneumoniae
2.3.6. Phương pháp kháng sinh đồ:
2.3.6.1. Kháng sinh đồ H. influenzae
Chúng tôi sử dụng môi trường Haempphilus Test Media. Kỹ
thuật khoanh giấy kháng sinh (Kirby-Bauer).
2.3.6.2. Kháng sinh đồ S. pneumoniae
Chúng tôi sử dụng môi trường thạch máu Mueller-Hinton. Kỹ
thuật khoanh giấy kháng sinh (Kirby-Bauer).
2.3.6.3. Phương pháp E-test (Theo NCCLS-2006)
Etest dựa vào sự kết hợp cả hai phương pháp khoanh giấy kháng
sinh khuếch tán và kháng sinh pha loãng, các vạch bậc thang nồng độ
kháng sinh đã được định trước và có tính liên tục. Gía trị MIC xác
định được bằng Etest có thể xác định MIC thông thường dựa vào sự
pha loãng bậc hai hàng loạt.
2.4. Xử lý số liệu: Xử lý kết quả theo phần mềm SPSS 15.0.
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo đúng các nguyên tắc về đạo đức
trong y học. Các đối tượng được giải thích rõ ràng và đồng ý tham gia
nghiên cứu. Các thông tin riêng tư của đối tượng được đảm bảo giữ bí
mật. Các xét nghiệm nuôi cấy, phân lập được hỗ trợ miễn phí hoàn
toàn, được dùng cho chẩn đoán và điều trị bệnh nhân.


30
35
H. influenzae S. pneumoniae Vi khuÈn kh¸c ¢m tÝnh
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ phân lập vi khuẩn ở trẻ lành dưới 60 tháng tuổi

3.1.2. Kết quả phân lập H. influenzae và S. pneumoniae ở trẻ bị
viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Bảng 3.2. Tỷ lệ nam và nữ ở trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
tham gia nghiên cứu
Nhóm tuổi Nam Nữ Tổng cộng
< 24 tháng
129(52,4%) 72(29,3%)
201(81,7%)
24 – 36 tháng 18(7,3%) 19(7,7) 37(15,0%)
37 – < 60 tháng 8(3,3%) 0(0,0) 8(3,3%)
Tổng cộng 155(63,0%) 91(37,0%) 246 (100%)

3.1.2.1. Tỷ lệ phân lập H. influenzae và S. pneumoniae ở trẻ bị viêm
phổi dưới 60 tháng tuổi
21,5
41,5
24,8
12,2
0
5
10
15
20
25
30

g

tính
%
Dươn
g

tính
%
Nam 62 27,2 79 34,6 37 23,9 59 38,1
Nữ 53 31,4 58 34,3 16 17,6 43 47,3
Tổng số 115
29,0
137
34,5
53
21,5
102
41,5
p p < 0,05 p < 0,05

Bảng 3.4. So sánh tỷ lệ phân lập của những chủng Haemophilus
influenzae ở trẻ lành và trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi theo biotýp
Trẻ lành Trẻ bị viêm phổi
H. influenzae H. influenzae
Biotýp
Dương tính % Dương tính %
I 15 13,0
39 73,6
II 14 12,2

khuẩn đã phân lập được
3.2.1. Mức độ kháng kháng sinh của những chủng H. influenzae
và S. pneumoniae ở trẻ lành dưới 60 tháng tuổi
Bảng 3.6. Mức độ kháng kháng sinh của những chủng
H. influenzae ở trẻ lành dưới 60 tháng tuổi (n = 115)
Mức độ kháng kháng sinh của H. influenzae
Kháng Trung gian Nhạy
STT Tên kháng sinh
SL % SL % SL %
1
Amoxicillin 65
56,5
14 12,2 36 31,3
2
Amox/a.clav 8 7,0 9 7,8 98
85,2
3
Co-trimoxazol 30 26,0 3 2,6 82 71,3
4
Ceftriaxon 60
52,2
33 28,7 22 19,1
5
Cefuroxim 7 6,1 13 11,3 95
82,6
6
Cefotaxim 59
51,3
26 22,6 30 26,1
7

73,1
7 Cefotaxim 76
55,5
29 21,2 32 23,3
8 Chloramphenicol 44
32,1
8 5,9 85 62,0
9 Ciprofloxacin 2 1,5 2 1,5 33
97,0 12
Bảng 3.8. Kết quả MIC của những chủng H. influenzae kháng
kháng sinh ở trẻ lành dưới 60 tháng tuổi
Kết quả KSĐ theo PP Etest MIC
90
(µg/ml)
Tên kháng sinh Code
SL Kháng (%) Kháng(µg/ml)
Amoxicillin AMX 65/115 56,5
16-192*
Amox/a.clav AMC 8/115 7,0 6-8
Co-trimoxazol SXT 30/115 26,0
6-64*
Ceftriaxon CRO 60/115 52,2 4-8
Cefuroxim CXM 7/115 6,1 4-8
Cefotaxim CTX 59/115 51,3
16-24
Chloramphenicol CHL 65/115 56,5
8-32*

STT Tên kháng sinh
SL % SL % SL %
1 Amoxicillin 43
81,1
4 7,5 6 11,3
2 Amox/a.clav 14 26,4 1 1,9 38
71,7
3 Co-trimoxazol 42
79,2
1 1,9 10 18,9
4 Ceftriaxon 36
68,0
0 0,0 17 32,0
5 Cefuroxim 12 22,6 12 22,6 29
54,7
6 Cefotaxim 34
64,1
0 0,0 19 35,8
7 Chloramphenicol 33
62,3
0 0,0 20 37,7
8 Ciprofloxacin 1 1,9 0 0,0 52
98,1 13
Bảng 3.11. Mức độ kháng kháng sinh của những chủng S.
pneumoniae ở trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi (n = 102).
Mức độ kháng kháng sinh của
S. pneumoniae

Amox/a.clav AMC 14/53 26,4 6-8
Co-trimoxazol SXT 42/53 79,2
6-64*
Ceftriaxon CRO 36/53 68,0 4-8
Cefuroxim CXM 12/53 22,6 4-8
Cefotaxim CTX 34/53 64,1
16-24*
Chloramphenicol CHL 33/53 62,3
8-32*
Ciprofloxacin CIP 1/53 1,9 2
Bảng 3.13. Kết quả MIC của những chủng S. pneumoniae kháng
kháng sinh ở trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Kết quả KSĐ theo PP Etest MIC
90
(µg/ml)
Tên kháng sinh Code
SL Kháng (%) Kháng (µg/ml)
Penicillin PEN 79/102 77,5
64 128*
Amox/a.clav AMC 13/102 12,7 3-4
Co-trimoxazol SXT 97/102 95,0
32-64*
Erythromycin ERY 75/102 73,5
8-32
Ceftriaxon CRO 58/102 56,9 3-4
Cefuroxim CXM 14/102 13,7 4-6
Cefotaxim CTX 55/102 53,9
4-16*
Chloramphenicol CHL 50/102 49,1
16-48*

7 Chloramphenicol 65 56,5 33 62,3
8 Ciprofloxacin 1 0,9 1 1,9
p p < 0,05

Bảng 3.15. So sánh mức độ đa kháng kháng sinh của những
chủng Haemophilus influenzae phân lập ở trẻ lành (n = 115) và trẻ bị
viêm phổi(n = 53) dưới 60 tháng tuổi theo phương pháp Kirby - Bauer
Mức độ đa kháng
kháng sinh của
H. influenzae ở trẻ
lành
Mức độ đa kháng
kháng sinh của
H. influenzae ở trẻ bị
viêm phổi
Số
TT
Tên kháng
sinh(code)
SL % % SL
1
AMX + AMC 8
7,0 26,4
14
2
AMX + SXT 30
26,0 79,2
42
3
AMX + CRO 60 52,2 68,0 36

STT Tên kháng sinh
SL % SL %
1 Penicillin 71
51,8
79
77,5
2 Amox/a.clav 15 10,9 13 12,7
3 Co-trimoxazol 23
16,8
97
95,0
4 Erythromycin 105 76,7 75 73,5
5 Ceftriaxon 58 42,3 58 56,9
6 Cefuroxim 15 10,9 14 13,7
7 Cefotaxim 76 55,5 55 53,9
8 Chloramphenicol 44
32,1
50
49,1
9 Ciprofloxacin 2
1,5
12
11,8
p p < 0,05

Bảng 3.17. So sánh mức độ đa kháng kháng sinh của những
chủng Streptococcus pneumoniae phân lập ở trẻ lành (n = 137) và trẻ bị
viêm phổi (n = 102) dưới 60 tháng tuổi theo phương pháp Kirby - Bauer
Mức độ đa kháng
kháng sinh của

50
7
PEN + CTX + CHL 44
32,1 49,1
50
8
PEN + AMC + SXT + ERY 15 11,0 12,7 13
9
PEN + SXT + ERY + CHL 23
16,8 49,1
50
10
PEN + AMC + ERY + CTX +
CHL
15 11,0 12,7 13
11
PEN + AMC + SXT + ERY +
CTX + CHL
15 11,0 12,7 13
p p < 0,05 16
Bảng 3.18. So sánh MIC của những chủng H. influenzae kháng
với amoxicillin, co-trimoxazol, cefotaxim, chloramphenicol ở trẻ lành
và trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Trẻ lành Trẻ bị viêm phổi Tên
kháng sinh
MIC
90

40,7
24
70,6
p < 0,05
n = 65 n = 33
8 8 12,3 6 18,2
16 40 61,5 7 21,2
Chloramphenicol
32
17
26,2
20
60,6
p < 0,05
Bảng 3.19. So sánh MIC của những chủng S. pneumoniae kháng
với penicillin, co-trimoxazol, erythromycin, cefotaxim, chloramphenicol
ở trẻ lành và trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Trẻ lành Trẻ bị viêm phổi Tên
kháng sinh
MIC
90

(μg/ml)
SL % SL %
p

n = 71 n = 79
64 39 55,0 45 57,0
96 23 32,4 0 0,0
Penicillin

6 4 5,3 4 7,3
8 22 29,0 9 16,4
12 21 27,6 13 23,6
Cefotaxim
16
9
11,8
25
45,4
p < 0,05
n = 44 n = 50
16 7 16,0 0 0,0
24 9 20,4 0 0,0
32 20 45,4 0 0,0
48
8
18,2
31
62,0
Chloramphenicol
64 0 0,0 19 38,0
p < 0,05

17

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Xác định, so sánh tỷ lệ phân lập H. influenzae và S. pneumoniae
ở trẻ dưới 60 tháng tuổi lành và bị viêm phổi
4.1.1. Tỷ lệ phân lập H. influenzae và S. pneumoniae ở trẻ lành và

quả tỷ lệ phân lập H. influenzae theo biotýp I chiếm tỷ lệ 13,0%,
biotýp II chiếm tỷ lệ 12,2%, biotýp III chiếm tỷ lệ 34,8%, biotýp VI
chiếm tỷ lệ 38,3%, biotýp VIII chiếm tỷ lệ 1,7%. Tỷ lệ này cũng phù
hợp với các tác giả nghiên cứu trong nước và nước ngoài.
18
* Tỷ lệ phân lập H. influenzae ở trẻ bị viêm phổi dưới 60
tháng tuổi
Tỷ lệ phân lập được H. influenzae 21,5%. Để xác định từng loại
biotýp của những chủng H. influenzae chúng tôi tiến hành từ những
thử nghiệm sinh hóa. Tỷ lệ phân lập những chủng H. influenzae biotýp
I chiếm tỷ lệ cao 73,6%, biotýp II chiếm tỷ lệ 26,4%. Tỷ lệ này cũng
phù hợp với các tác giả nghiên cứu trước đó (Bệnh viện Nhi Trung
ương) và trên thế giới. Bởi vì, biotýp I thường có khả năng xâm nhập
mạnh và gây ra các bệnh viêm cấp tính (viêm phổi, viêm màng não,
nhiễm khuẩn huyết) các biotýp còn lại gặp trên người lành mang
khuẩn. Trong nghiên cứu của chúng tôi năm 2007 tỷ lệ serotýp b là
66,0% và tỷ lệ serotýp khác là 34,0%. Trong khi các nghiên cứu khác
cả trong và ngoài nước tỷ lệ phân lập Haemophilus influenzae týp b
hoặc viêm phổi do chủng Haemophilus influenzae týp b từ 55,0% đến
75,0%. Như vậy, kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả
đã nghiên cứu trước đó.
* Tỷ lệ phân lập S. pneumoniae ở trẻ lành dưới 60 tháng
tuổi
Tỷ lệ phân lập được S. pneumoniae của chúng tôi là 34,5%. So
với các nghiên cứu trong nước, kết quả của chúng tôi thấp hơn với kết
quả của một số tác giả như: Lê Thị Hoa (2001) tại Lào Cai là 60,0%,
Ðoàn Mai Phương tại Hà Nội (1999) 42,0%, Nguyễn Hoàng Hiệp tại

pneumoniae ở trẻ lành và trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
* So sánh tỷ lệ phân lập của những chủng H. influenzae ở trẻ
lành và trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Theo giới tính: Tỷ lệ phân lập Haemophilus influenzae 29,0% ở
trẻ lành và trẻ bị viêm phổi là 21,5% có sự khác biệt với p < 0,05. Tỷ
lệ phân lập Haemophilus influenzae (trẻ lành) giữa nam là 27,2%, nữ
là 31,4% gần bằng nhau, không có sự khác với p > 0,05. Tỷ lệ phân
lập Haemophilus influenzae (trẻ viêm phổi) giữa nam là 23,9%, nữ là
17,6% chênh lệch không nhiều, không có sự khác với p > 0,05. Tỷ lệ
phân lập ở trẻ lành thấp hơn tỷ lệ phân lập ở trẻ bị viêm phổi đối với
Haemophilus influenzae.
Theo biotýp: Tỷ lệ phân lập Haemophilus influenzae theo biotýp
I trẻ lành là 13,0%, trẻ bị viêm phổi là 73,6% có sự khác biệt với p <
0,05. Tỷ lệ phân lập Haemophilus influenzae theo biotýp II trẻ lành là
12,2%, trẻ bị viêm phổi là 26,4% có sự khác biệt với p < 0,05. Tỷ lệ
phân lập ở trẻ lành và trẻ bị viêm phổi của Haemophilus influenzae
theo biotýp có sự khác biệt với p < 0,05. Tỷ lệ phân lập Haemophilus
influenzae trẻ lành theo biotýp thì xuất hiện ở hầu hết các biotýp.
Trong khi, trẻ bị viêm phổi chỉ xuất hiện ở biotýp I và II. Dựa vào tỷ
lệ phân lập theo biotýp có thể nói rằng Hib chủ yếu ở biotýp I và II.
Theo serotýp: Tỷ lệ phân lập Haemophilus influenzae theo
seotýp b trẻ lành là 10,4%, trẻ bị viêm phổi là 66,0% có sự khác biệt
với p < 0,05. Tỷ lệ
phân lập Haemophilus influenzae theo serotýp
không b trẻ lành là 89,6%, trẻ bị viêm phổi là 34,0% có sự khác biệt
với p < 0,05. Tỷ lệ phân lập ở trẻ lành và trẻ bị viêm phổi của
Haemophilus influenzae theo serotýp có sự khác biệt với p < 0,05. Tỷ
lệ phân lập Haemophilus influenzae serotýp b ở trẻ lành thì thấp hơn
nhiều so với trẻ bị viêm phổi.
* So sánh tỷ lệ phân lập của những chủng S. pneumoniae ở

bactrim là 26,0% so với các tác giả khác thì tỷ lệ kháng kháng sinh
phụ thuộc vào từng nước và từng khu vực.
Tóm lại, các chủng Haemophilus influenzae phân lập được trong
nghiên cứu này của chúng tôi còn nhạy cảm cao với ciprofloxacin,
cefuroxim và amox/a.clav.
* Mức độ kháng kháng sinh của những chủng H. influenzae
phân lập được ở trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Theo số liệu của chương trình ASTS năm 1999 những chủng H.
influenzae phân lập ở miền Bắc còn nhạy cảm với ampicillin 19,0%,
chloramphenicol 77,0%, với co-trimoxazol 22,0%, ở miền Trung tỷ lệ
là 22,0% - 50,0% cao hơn nhiều so với kết quả của chúng tôi tại bệnh
viện Cần Thơ năm 2007. Nghiên cứu của Đoàn Thị Hồng Hạnh và
cộng sự năm 1996 trên những chủng H. influenzae phân lập từ bệnh
nhi đến khám tại khoa Nhi bệnh viện Vịêt Nam - Thụy Điển đã cho
thấy H. influenzae còn nhạy cảm với amoxicillin 78,5%, với
chloramphenicol 63,6%, với co-trimoxazol 51,5%, trong đó kháng cả
3 loại kháng sinh là 37,0% trở lên. Các nghiên cứu về tình trạng kháng
kháng sinh của H. influenzae trên thế giới cũng cho thấy một tỷ lệ lớn
H. influenzae đã đề kháng với các loại kháng sinh thông thường.
Nghiên cứu của chương trình WHONET năm 1997 đã cho thấy

21
Australia tỷ lệ H. influenzae kháng amoxicillin 19,8%, kháng
chloramphenicol 0,8%, kháng co-trimoxazol 9,4%, ở Trung Quốc tỷ lệ
này là amoxicillin 40,0%, chloramphenicol 60,0%, co-trimoxazol
71,0%. Cũng như các nước trên thế giới, ở Việt Nam S. pneumoniae
và H. influenzae đề kháng cao với co-trimoxazol.
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ Haemophilus influenzae
đề kháng cao với những kháng sinh thông thường như amoxicillin tỷ
lệ là 81,1%, co-trimoxazol là 79,2%, tiếp đến là ceftriaxon 68,0%,

quốc gia về tính kháng thuốc của những chủng Streptococcus
pneumoniae hàng năm cho thấy, mức độ kháng erythromycin của
những chủng Streptococcus pneumoniae ngày càng gia tăng năm 2000
là 52,6%, năm 2003 là 64,6%, năm 2004 là 70,6%. Như vậy kết quả
của chúng tôi về tỷ lệ của những chủng Streptococcus pneumoniae
kháng với erythromycin 76,7% cao hơn số liệu của chương trình.

22
Theo báo cáo của chương trình ASTS, mức độ của những chủng
Streptococcus pneumoniae kháng với chloramphenicol tăng dần hàng
năm. Năm 2002 từ 9,4%, năm 2003 là 31,9%, năm 2004 là 35,6%. Kết
quả của chúng tôi là 56,6% cao nhất so với số liệu trước.
Nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp chủng Streptococcus
pneumoniae kháng với ciprofloxacin tỷ lệ là 1,5%, kháng sinh này
thuộc nhóm floroquinolon, có phổ tác dụng mạnh và mới đưa vào để
điều trị cho bệnh nhân nhiễm khuẩn Streptococcus pneumoniae. Do
đó chúng tôi thấy bắt đầu xuất hiện hiện tượng những chủng
Streptococcus pneumoniae kháng với ciprofloxacin.
* Mức độ kháng kháng sinh của S. pneumoniae phân lập
được ở trẻ bị viêm phổi dưới 60 tháng tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi S. pneumoniae đã đề kháng với
penicillin là 77,5% và amox/a.clav 12,7%, trong đó erythromycin
73,5% và chloramphenicol 49,1% và co-trimoxazol là 95,0% kết quả
này của chúng tôi tỷ lệ kháng còn cao hơn số liệu của chương trình
ASTS có thể do thời gian và địa điểm nghiên cứu khác nhau. Co-
trimoxazol là kháng sinh có họat phổ không mạnh đối với S.
pneumoniae, sau một thời gian dài được sử dụng rộng rãi, độ nhạy
cảm càng ngày càng giảm là điều tất nhiên. Trong các nghiên cứu ở
các nước trên thế giới cũng cho thấy tình trạng đề kháng với đa kháng
sinh của S. pneumoniae gia tăng một cách nhanh chóng : Australia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status