1 | T r a n g
Đề tài:
CHÍNH SÁCH NỢ
TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN
GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
GVHD : TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Nhóm thực hiện : Nhóm 12
Lớp : K19 - Đêm 2
2 | T r a n g
CHÍNH SÁCH NỢ TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Mục Lục
I. Giá trị doanh nghiệp 3
1.Khái niệm giá trị doanh nghiệp 3
2.Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 3
CHƯƠNG 14
CHÍNH SÁCH NỢ TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO
ĐẾN GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
I. Giá trị doanh nghiệp
dùng.
Quan điểm khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài.
Quan điểm phân biệt đối xử thể hiện qua các quy định pháp luật về
thuế, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ.
Năng lực hành pháp của chính phủ và ý thức chấp hành pháp luật của
công dân, các doanh nghiệp.
Xu hướng, quan điểm trong quan hệ ngoại giao và hợp tác kinh tế của
chính phủ với các quốc gia khác; quan điểm cá nhân của người đứng
đầu chính phủ cũng tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Môi trường văn hóa xã hội: Mỗi doanh nghiệp tồn tại trong một môi
trường văn hóa nhất định: lối sống, văn hóa, tác phong, quan niệm về chân thiện
mỹ, quan niệm về nhân cách; về văn minh xã hội thể hiện trong tập quán sinh hoạt
và tiêu dùng. Môi trường xã hội thể hiện ở môi trường số lượng cơ cấu dân cư, giới
tính, độ tuổi, mật độ dân số, thu nhập bình quân đầu người.
+ Môi trường kỹ thuật công nghệ: Các sản phẩm ngày càng đa dạng và
phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong đời sống vật chất, đời sống
tinh thần của con ng ười, h àm lượng tri thức có khuynh hướng gia tăng trong g iá
thành sản phẩm. Ở góc độ doanh nghiệp đó không chỉ là cơ hội mà còn là thách
thức đối với sự tồn tại của doanh nghiệp, sự thiếu nhạy bén trong việc chiếm
lĩnh những thành tựu khoa học mới nh ất có thể là nguyên nhân đưa doanh
nghiệp đến chỗ phá sản.
- Thứ hai, môi trường kinh doanh đặc thù
+ Quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng: Thị trường là yếu tố quyết
định đến đầu ra đối với sản phẩm của doanh nghiệp, thị trường đối với một doanh
nghiệp thể hiện bằng yếu tố khách hàng, khách hàng của doanh nghiệp có thể là tổ
chức, cá nhân; có thể là khách hàng hiện tại hoặc trong tương lai; thông thường
khách hàng sẽ chi phối hoạt động của do anh nghiệp nhưng cũng có trường hợp
khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, muốn
đó ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Tài sản cố định càng lớn, càng hiện đại,
càng làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Ngược lại, tài sản cố định càng lạc hậu,
không đồng bộ, càng làm giảm giá trị doanh nghiệp.
Mặt khác, trong một số trường hợp, người mua không quan tâm ngay đến
kết quả sản xuất kinh doanh và khả năng phát triển của doanh nghiệp mà họ lại
quan tâm vào hiện trạng của tài sản vì rủi ro có thể xảy ra, liên quan đến việc phải
thay thế tài sản cố định mới hoặc phải tốn thêm chi phí để bổ sung thêm trang thiết
bị đảm bảo cho sự đồng bộ của dây chuyền sản xuất. Vì vậy, giá trị và tình trạng
hiện thời của tài sản cố định luôn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến giá trị
doanh nghiệp.
- Hai là, trình độ quản lý
Một yếu tố khác ảnh hưởng khá quan trọng đến kết quả hoạt động của
doanh nghiệp là bộ máy quản lý. Một doanh nghiệp với đội ngũ cán bộ quản lý
giỏi, được sự hỗ trợ tích cực của bộ máy điều hành năng động chắc chắn sẽ mang
lại hiệu quả kinh tế cao và ngược lại. Ở các nước phát triển, khi nhà đầu tư dự định
tài trợ hoặc đầu tư vào một doanh nghiệp nào đó, họ rất quan tâm đến vấn đề này.
Khi đã tin tưởng vào đội ngũ quản lý giỏi đặt dưới sự điều hành của một giám đốc
năng động, có trình độ, họ sẵn sàng đầu tư và có thể chấp nhận trả giá cao.
Một bộ máy quản lý tốt, đồng bộ sẽ tạo điều kiện sử dụng tốt nhất, có hiệu
quả nhất tài sản tiền vốn của doanh nghiệp, từ đó sẽ gia tăng thu nhập từ kết quả
của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Không chỉ có vậy, trình độ quản lý
giỏi của lãnh đạo doanh nghiệp còn tạo điều kiện ổn định và không ngừng nâng
cao giá trị của doanh nghiệp
- Ba là, vị trí ngành nghề kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường , vị trí ngành nghề kinh doanh có ảnh hưởng
quan trọng đến giá trị doanh nghiệp. Một ngành nghề kinh doanh có tỷ suất lợi
nhuận cao, ổn định và đang có xu hướng phát triển, mở rộng thì các doanh nghiệp
thuộc ngành nghề kinh doanh đó sẽ được quan tâm hơn và như vậy, các doanh
nghiệp đó sẽ có giá trị lớn hơn. Ngược lại, các doanh nghiệp ở những ngành nghề
nhưng quan trọng nhất vẫn là bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và
báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh .
- Bảy là, Chiến lược, sách lược trong kinh doanh của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định
thành công của doanh nghiệp trong tương lai. Một chiến lược hiệu quả kèm theo
việc thực hiện xuất sắc là sự đảm bảo tốt nhất cho thành công của mọi tổ chức. Vì
vậy, một doanh nghiệp có tầm nh ìn chiến lược, sách lược tốt, phù hợp sẽ đảm bảo
được thành công trong tương lai, qua đó đảm bảo sự tăng trưởng phát triển cũng
như việc gia tăng giá trị của doanh nghiệp.
3. Những phương pháp định giá doanh nghiệp
3.1. Khái niệm về xác định giá trị doanh nghiệp
Xác định giá trị doanh nghiệp là sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học.
Mục tiêu cuối cùng là doanh nghiệp sẽ có giá trị sao cho người mua sẵn lòng trả
tiền để có nó. Tuy vậy, có rất nhiều cách thức để xác định giá trị doanh nghiệp.
Thông thường người ta sẽ tính giá trị doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau, và
được nhiều kết quả khác nhau, sau đó họ sẽ lấy giá trị trung bình của các kết quả
khác nhau này.
Việc đánh giá về mặt tài chính có quan hệ tới doanh nghiệp như vật trao đổi
giữa người mua và người bán dựa trên một thị trường có tổ chức (ví dụ thị trường
chứng khoán) mà giá cả tuỳ thuộc vào khả năng kiếm đ ược lợi nhuận trong việc
sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ của bản thân doanh nghiệp.
Xác định giá trị có thể liên quan đến doanh nghiệp trong nhiều thời điểm
khác nhau của chính đời sống của doanh nghiệp: Từ giai đoạn lập dự án, thành lập
doanh nghiệp; giai đoạn hoạt động; giai đoạn thanh lý, giải thể. Tuy nhiên, thường
thì việc định giá xảy ra vào lúc có chuyển nhượng quyền sở hữu của một doanh
nghiệp đang hoạt động, nghĩa là một doanh nghiệp đã có một quá khứ cụ thể hóa
bằng một sở hữu tài sản, nhưng cũng đảm bảo được một tương lai.
3.2. Những phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phổ
3.2.1. Phương pháp vốn hóa thu nhập
Người mua thường xem xét doanh nghiệp và định giá nó bằng cách xác
định xem dòng tiền thu về sẽ bù đắp cho khoản đầu tư (vay) này như thế nào.
Công thức chung:
Trong đó:
NPV: hiện giá thuần của các khoản thu nhập trong tương lai
CF
t
: dòng tiền thu nhập của năm t
r : lãi suất chiết khấu hiện hành
t: năm thứ t của dòng tiền (t từ năm 1 đến năm n)
3.2.4. Phương pháp tài sản – NA V (Net Asset Value)
Phương pháp tài sản ước tính giá trị của doanh nghiệp dựa trên giá thị
trường của các loại tài sản của doanh nghiệp.
Công thức tính
Trong đó:
V: giá trị th ị trường của doanh nghiệp (giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu)
V
A
: giá trị thị trường của toàn bộ tài sản
V
D
: giá trị thị trường của nợ
3.3.5. Phương pháp tính theo giá tài sản vô hình hiện hữu – VSIA (Value of
Specific Intangible Assets)
Đây là cách định giá thường bị bỏ sót. Trong một số trường hợp chúng ta
cần phải sử dụng cách định giá này trong việc bán một doanh nghiệp. Phương pháp
kinh tế phát triển.
Công thức:
Trong đó:
EVA
t
(economic value added): giá trị kinh tế gia tăng
NOPAT
t
(net operating profit after tax): lợi nhuận thuần sau thuế. Được tính
bằng công thức sau:
Với:
EBIT là lợi nhuận trước thuế và lãi vay
t: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
C
t
: vốn đầu tư dài hạn, là tổng của vốn chủ sở hữu và vốn đầu tư
WACC
t
(weighted average cost of capital): chi phí sử dụng vốn bình quân,
được tính bằng công thức: Với: r
e
= r
r
+ β(r
m
– r
f
Với n là số kỳ hoạt động dự kiến
Phần [1]: thể hiện giá trị có thể nhận được trong ngắn hạn giống như trong
kế hoạch tài chính chiến lược.
Phần [2]: thể hiện tổng giá trị mong đợi có thể nhận mãi. Có nhiều cách
tính để xác định được giá trị của phần này, vì còn tùy thuộc vào tốc độ phát triển
của doanh nghiệp.
Sau khi có kết quả toàn bộ giá trị doanh nghiệp, trừ đi phần nợ, khi đó ta sẽ
được giá trị phần vốn chủ sở hữu. Nếu chia giá trị vốn chủ sở hữu cho số lượng cổ
phần thì sẽ được giá trị một cổ phần.
II. Chính sách Nợ (Chính sách tài trợ)
1. Khái niệm:
Nợ là một phần của tổng tiêu sản mà người mượn phải trả, hoặc là trả vốn
hoặc trả cả vốn và lãi, hoặc bằng hàng hóa và dịch vụ cho người cho mượn ở một
hay nhiều thời điểm trong tương lai. Nợ như vậy bao gồm:
- Nợ vay như nợ ngân hàng.
- Nợ qua việc bán trái phiếu.
- Tiền trả trước của khách hàng.
- Bổn phận phải chi trả khác (thí dụ nhà nước nợ công chức tiền hưu trí
hứa hẹn sau khi về hưu).
Nợ như vậy không bao gồ m cổ phiếu hay phần hùn, thí dụ cổ phiếu hoặc
phần hùn do công ty phát hành không phải là nợ của công ty đó với người sở hữu
cổ phiếu hoặc phần hùn.
Ngoài phần vốn tự có của doanh nghiệp (vốn góp) thì nợ có vị trí đặc biệt
quan trọng trong hoạt động
sản xuất
kinh doanh của
doanh nghiệp
. Nó có thể đáp ứng
Nghiệp có thể chủ động để sử
dụng, tuy nhiên nợ dài hạn lại có
chi phí sử dụng vốn cao hơn so
với chi phí sử dụng nợ ngắn hạn
3. Chính sách nợ
:
Quyết định các hình thức tăng vốn để tài trợ cho các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Có 02 hình thức huy động vốn cơ bản:
o Vay nợ (Phát hành trái phiếu, ) => Doanh nghiệp sẽ có vốn nợ
o Phát hành cổ phiếu => Doanh nghiệp sẽ có vốn cổ phần.
Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp Việt Nam thường dựa
vào hai nguồn vốn chính là vốn tự có và vốn vay. Vốn tự có bao gồm vốn cổ phần
thường, thặng dư vốn từ việc phát hành thêm cổ phiếu và lợi nhuận sau thuế. Còn
vốn vay, bao gồm vốn vay ngân hàng (ngắn hạn và dài hạn) và trái phiếu. Công ty
khi sử dụng nợ vay vào hoạt động kinh doanh có thể làm gia tăng hoặc giảm sút tỷ
suất lợi nhuận trên vốn chủ vì lãi tiền vay phải trả cho tổ chức tín dụng tài chính
hoặc trái phiếu là chi phí sử dụng vốn mang t ính cố định, không phụ thuộc vào kết
quả kinh doanh. Trong khi đó, việc sử dụng vốn chủ sở hữu công ty không phải
đáo hạn vốn gốc, giảm khả năng rủi ro về nợ.
Thông thường, doanh nghiệp sẽ quyết định lựa chọn hình thức tài trợ tổng hợp
(kết hợp cả 02 hình thức huy động vốn). Quyết định này gọi là quyết định cơ cấu
vốn và dựa vào những đặc tính cơ bản của nợ và vốn cổ phần :
Tính đáo h ạn : Liên quan đến số tiền mà nhà đầu tư vốn bỏ ra, trong đó
Nợ có tính đáo hạn : tức là khi đến hạn , th ì phải hoàn trả cho nhà đầu tư
còn Vốn cổ phần thì không có tính đáo hạn : Không có hợp đồng ràng
buộc, không quy định phải hoàn trả, do đó chủ nợ ít rủi ro hơn cổ đông.
Tính trái quyền đối với lợi nhuận: Liên quan đến tiền lãi của chủ nợ và
của cổ đông đối với EBIT của Doanh Nghiệp bao gồm:
Tính ưu tiên : Chủ nợ được ưu tiên và là người thứ hai sau nhà nước
nghĩa là các nhà đầu tư không phải tốn bất kỳ một khoản chi phí nào khi
tham gia mua cổ phần của một doanh nghiệp.
Không có các chi phí phá sản, chi phí giám sát người thừa hành
Có đủ số người mua và người bán trên thị trường, vì vậy không có một
nhà đầu tư riêng lẻ nào có một ảnh hưởng lớn đối với giá cả chứng khoán
Có sẵn thông tin liên quan cho tất cả các nhà đầu tư và không phải mất
tiền
Các nhà đầu tư có thể vay hay cho vay với cùng lãi suất
Các nhà đầu tư đều hợp lý và có kỳ vọng thuần nhất về lợi nhuận của một
doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp hoạt động dưới các điều kiện tương tự sẽ có cùng một
mức độ rủi ro kinh doanh.
- Không có thuế thu nhập doanh nghiệp: doanh nghiệp không có được tác
dụng lá chắn thuế từ việc sử dụng nợ nên việc sử dụng nợ hay vốn cổ
phần trong cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.
Với các điều kiện như trên, MM cho rằng chính sách cổ tức và các quyết định
tài trợ không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong các thị trường vốn hoàn
hảo. Như vậy, giá trị của doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn.
Vì đây là những giả định trong thị trường hoàn hảo nhưng trong thực tế thị
trường không bao giờ là hoàn hảo. Việc hiểu rõ vì sao phải có các điều kiện trên thì
l ý thuyết MM mới đúng sẽ giúp các giám đốc tài chính so sánh được tại sao một
cấu trúc vốn này lại tốt hơn một cấu trúc vốn khác.
2. Định đề I của MM
2.1. Nội dung của định đề I:
Một doanh nghiệp không thể thay đổi tổng giá trị các chứng khóan của mình
bằng cách phân chia dòng tiền thành các dòng khác nhau, nghĩa là giá trị của
doanh nghiệp được xác định bằng tài sản thực chứ không phải bằng các chứng
khoán mà doanh nghiệp phát hành. Như vậy cấu trúc vốn không liên quan đến giá
trị doanh nghiệp khi các quyết định đầu tư của doanh nghiệp đã được định sẵn.
có tác động trên giá trị thị trường của nợ hiện hữu.
Trường hợp 1: V = V’ = 75.000$ Trường hợp 2: V’ = 80.000$
E’ = V’ – D’
= 75.000 - 35.000
= 40.000$.
E’ = V’ – D’
= 80.000 - 35.000
= 45.000$.
Mức lỗ bù trừ bằng đúng 10.000$ cổ tức đặc
biệt mà doanh nghiệp đã chi trả cho cổ đông
Mức lỗ vẫn còn là 5.000$
Kết luận
Bất kỳ gia tăng hay sụt giảm trong giá trị doanh nghiệp do một thay đổi
trong cấu trúc vốn đều tích lũy cho cổ đông của doanh nghiệp.
Chính sách tối đa hóa giá trị thị trường của doanh nghiệp chính là tối đa
hóa giá trị lợi ích của cổ đông.
2.3. Lập luận chứng minh của Modigliani và Miller
Trong một thị trường hoàn hảo, bất kỳ một kết hợp chứng khoán như thế nào
cũng tốt như nhau.
Giá trị của doanh nghiệp không chịu tác động của cấu trúc vốn.
Để diễn tả lập trên, ta xét đến ví dụ 2 như sau: Giả sử có doanh nghiệp phát sinh
cùng một dòng các lợi nhuận hoạt động và chỉ khác nhau ở cấu trúc vốn.
Doanh nghiệp U không có đòn bẩy tài chính. E
U
= V
U
Doanh nghiệp L có đòn bẩy tài chính. E
L
0,01 EBIT
Cả hai chiến lược đều cho cùng một thu nhập 1% lợi nhuận của doanh nghiệp.
Ở các thị trường vận hành tốt, cả hai chiến lược đầu tư cung cấp các thu nhập
giống nhau phải có chí phí giống nhau, vì vậy 0,01 V
U
= 0,01 V
L
Như vậy: Giá trị của doanh nghiệp không có nợ vay phải bằng với giá trị của
doanh nghiệp có nợ vay.
* Đối với nhà đầu tư thích rủi ro
Mua 1% cổ phần đang lưu hành của doanh nghiệp có nợ vay.
Đầu tư Thu nhập
0,01E
L
= 0,01 (V
L
– D
L
) 0,01 (EBIT–Lãi)
Vay 0,01DL để mua 1% cổ phần của do anh nghiệp không vay nợ.
Đầu tư Thu nhập
Nợ vay
Vốn cổ phần
-0,01D
L
0,01V
U
-0,01 Lãi
0,01 (EBIT)
chính cá nhân (personal financial leverage) thay cho đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp.
Quy trình mua bán song hành này diễn ra nhanh đến nỗi giá trị th ị trường
của các doanh nghiệp có sử dụng nợ và không sử dụng nợ bằng nhau
Một thí dụ của định đề I
Macbeth Spot Removers được tài trợ hoàn toàn vốn cổ phần. Công ty dự kiến có
lợi nhuận 1.500$/năm niên kim vĩnh viễn. Chúng ta giả dụ không có thuế.
Dữ liệu
Số cổ phần
Giá một cổ phần
Giá trị thị trường của cổ phần
1.000
$10
$10.000
Kết quả
Lợi nhuận hoạt động (đô la)
Thu nhập một cổ phần (đô la)
Thu nhập từ cổ phần, %
500
0,50
5
1.000
1,00
10
1.500
1.50
15
2.000
2,00
10
1.500
500
1.000
2
20
2.000
500
1.500
3
30
Kết quả dự kiến
Nợ vay làm tăng EPS khi EBIT > 1.000$ và làm giảm EPS khi EBIT < 1.000$.
EPS dự kiến tăng từ 1,50$ lên 2$. Các nhà đầu tư cá thể có thể tái tạo (bắt chước) đòn bẩy tài chính của Macbeth
Lợi nhuận hoạt động, đô la
500 1.000 1.500 2.000
Lợi nhuận hoạt động từ 2 cổ phần (đô la)
Trừ lãi suất 10% (đô la)
Lợi nhuận ròng từ đầu tư, đô la
Tỷ suất sinh lợi từ 10$ đầu từ, %
1
1
0
0
2
1
1
– Giá trị của doanh nghiệp được xác định bằng các tài sản thực, chứ không
phải bằng các chứng khoán mà doanh nghiệp phát hành.
– Như vậy cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp khi các
quyết định đầu tư của doanh nghiệp đã được định sẵn.
Việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi ích cho cổ đông.
III. Định đề II của M&M
1. Nội dung định đề II:
Tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn cổ phần thường của một doanh nghiệp có vay nợ
tăng tương ứng với tỷ lệ nợ/vốn cổ phần (D/E) được đo lường bằng giá trị thị
trường. Tỷ lệ gia tăng tùy thuộc vào chênh lệch giữa (r
A
- tỷ suất sinh lợi dự kiến
từ một danh mục gồm tất cả chứng khoán của doanh nghiệp) và (r
D
– tỷ suất sinh
lợi dự kiến từ nợ).
2. Tác động của đòn bẩy tài chính đến tỷ suất sinh lợi
Theo định đề I ta có:
Khi doanh nghiệp không có nợ:
E A
L o i n h u a n h o a t d o n g d u k i e n
r r
G i a t r i th i tr u o n g cu a t a t c a c h u n g k h o a n
Khi doanh nghiệp có vay nợ
E A A D
D
0.15 0.15 0.10
5000
E A A D
D
r r r r
E
= 0.2 hay 20%
Kết luận: Tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn cổ phần r
E
tăng theo tuyến tính với tỷ lệ
nợ / vốn cổ phần khi nợ không có rủi ro. Nếu đòn bẩy tài chính làm tăng rủi ro của
nợ, các cổ đông sẽ yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn từ nợ.
3. Ý nghĩa tổng quát của định đề II:
Hình này cho thấy ý nghĩa tổng quát của định đề II của M&M. Hình này giả định
là trái phiếu của doanh nghiệp sẽ không có rủi ro ở mức nợ thấp. Như vậy r
D
độc
lập với D/E và r
E
tăng theo tuyến tính khi D/E tăng. Khi doanh ngh iệp vay nợ
nhiều hơn, rủi ro không thực hiện nghĩa vụ tăng lên và doanh nghiệp buộc phải
chịu lãi suất nợ vay cao hơn. Định đề II dự báo rằng khi điều này xảy ra tỷ lệ gia
tăng trong r
E
sẽ chậm lại. Doanh nghiệp càng có nhiều nợ, r
E
càng ít nhạy cảm với
các khoản nợ vay thêm. Những người nắm giữ nợ sẽ phải gánh chịu một phần rủi
phần
Thu nhập mỗi cổ phần ($) 0 2 -2
Tỷ suất sinh lợi từ cổ phần (%) 0 20 -20
Tổng lợi nhuận vốn cổ phần trong cả hai hình thức tài trợ đều sụt giảm như
nhau [1.000 x (-1) = 500 x (-2)]. Tuy nh iên lựa chọn nợ - vốn cổ phần làm
phóng đại chênh lệch các tỷ lệ phần trăm lợi nhuận, nói cách khác tác động của
đòn bẩy tài chính làm tăng gấp đôi độ dao động của cổ ph ần Macbeth. Cho dù
beta của cổ phần doanh nghiệp trước khi tài trợ là bao nhiêu, nó sẽ tăng gấp đôi
sau đó.
Cũng giống như tỷ suất sinh lợi dự kiến từ tài sản là một bình quân gia quyền của
tỷ suất sinh lợi dự kiến của các loại chứng khoán thì beta của tài sản doanh nghiệp
là bình quân gia quyền của các beta của các loại chứng khoán.
Beta của tài sản = (tỷ lệ nợ x beta của nợ) + (tỷ lệ vốn cổ phần x beta của vốn cổ
phần)
( )
A D E
E A A D
D E
x x
D E D E
D
E
Rủi ro
r
E
= 0,2
r
A
= 0,15
r
D
= 0,10
Tất cả tài sản
của doanh
nghiệp
Vốn
cổ
phần
D
A
E
EDA
rx
V
E
rx
V
D
r
12,2% hay 0,122
15,0x
5
3
08,0x
5
2
r
A