Báo cáo kết quả thực tập sư phạm tại Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội - Pdf 13

BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC TẬP SƯ PHẠM
Họ và tên: Phạm Thu Thảo
Sinh viên lớp: KTCT K25 – Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Đơn vị Thực tập: Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong Thành phố Hà Nội
Thời gian thực tập: 30/3/2009 đến 08/5/2009.
Trong suốt thời gian thực tập từ ngày 30-3-2009 đến ngày 8-5-2009,
thực hiện kế hoạch số 104 ĐT/HVBC & TT ngày 10/02/2009 của Học viện
Báo chí và Tuyên truyền về việc cử Đoàn sinh viên các lớp khối lý luận K25
đi thực tập sư phạm tại trường Chính trị Lê Hồng Phong, Thành phố Hà Nội,
em đã được phân về Khoa Kinh tế, trực tiếp tham gia nhiệm vụ thực tập tại
trường. Sau một thời gian thực tập, em đã hoàn thành tốt các yêu cầu, nội
dung thực tập của mình. Cụ thể như sau:
1. Tình hình kinh tế - xã hội trong năm 2008 và đầu năm 2009 vừa
qua ở Hà Nội.
Hà Nội là thủ đô, đồng thời cũng là thành phố lớn thứ hai Việt Nam
về dân số với 6,233 triệu người. Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào
tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay có diện tích 3.324,92 km², gồm một thị
xã, 10 quận và 18 huyện ngoại thành. Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà
Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả quốc gia. Năm 2008, năm bản
lề thực hiện kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 và thực hiện chương trình kỷ niệm
1
1000 năm Thăng Long, Thành phố Hà Nội năm 2008 đã đạt được những kết
quả đáng kể với tốc độ phát triển so với năm trước đạt ở mức độ khá: Tổng
sản phẩm nội địa (GDP) tăng 10,58%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng
12,8%, tổng mức bán lẻ tăng 31,2%, kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng
35,5%, tổng vốn đầu tư xã hội tăng 19,3%, các mặt văn hoá, xã hội, trật tự
an toàn được duy trì ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn
Thành phố tăng 12,8% so năm 2007, trong đó kinh tế nhà nước tăng 1,4%
(kinh tế Nhà nước Trung ương tăng 2%, kinh tế Nhà nước địa phương giảm
0,5%), kinh tế ngoài Nhà nước tăng 18,2%, khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài tăng 16,5%.

29,02%. Số đầu con 1,67 triệu con, tăng 1,89%; số con xuất chuồng đạt 4,03
triệu con tăng 17,74%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 276,3 ngàn tấn
tăng 20,21%. Chăn nuôi gia cầm phát triển tương đối ổn định, tổng đàn gia
cầm là 15,7 triệu con, tăng 6,54% so với cùng kỳ năm trước, trong đó đàn gà
nuôi đạt 11,18 triệu con chiếm 71,21% tổng đàn và tăng 7,39%. Sản lượng
thịt gia cầm giết bán trong năm đạt 36,42 ngàn tấn, tăng 7,15%; sản lượng
trứng các loại đạt 408,5 triệu quả, tăng 2,86%.
Hiện nay, ngành giáo dục mầm non Hà Nội có 767 trường (công lập
300 trường), 11.174 lớp (2.943 lớp nhà trẻ và 8.231 lớp mẫu giáo), 282.813
cháu (62.460 cháu nhà trẻ, 233.990 cháu mẫu giáo). Giáo dục tiểu học có
674 trường (công lập 653 trường), 13.253 lớp và 411.548 học sinh với công
tác phổ cập giáo dục đúng độ tuổi được duy trì với hiệu quả cao, huy động
99% trẻ trong độ tuổi vào lớp 1. Giáo dục trung học cơ sở có 584 trường
3
(579 trường công lập), 9.362 lớp và 345.711 học sinh. Số học sinh tuyển mới
vào lớp 6 năm học 2008-2009 là 82.086 học sinh. Giáo dục trung học phổ
thông có 182 trường (104 trường công lập), 5.008 lớp và 226.502 học sinh,
số học sinh tuyển mới vào lớp 10 năm học 2008-2009 là 75.676 học sinh.
Số đơn vị ngành y tế gồm 86 đơn vị với 45 đơn vị tuyến thành phố (26
bệnh viện, 17 trung tâm chuyên khoa, 1 trường cao đẳng y tế, 1 chi cục dân
số – kế hoạch hoá gia đ́nh), 41 đơn vị tuyến quận huyện (29 trung tâm y tế
dự pḥòng, 12 bệnh viện) và 577 đơn vị tuyến xã - phường - thị trấn (toàn
thành phố có 2 xã chưa có trạm y tế là xã Phú La - Hà Đông và xã Chi Đông
– Mê Linh). Từ đầu năm 2008, đã xảy ra 2 đợt dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm
với tổng số người mắc bệnh là 2.284 người, trong đó 263 trường hợp dương
tính với phẩy khuẩn tả, xảy ra trên 26 quận huyện. Số người mắc dịch sốt
xuất huyết là 123 người. Tính đến 15 tháng 11 năm 2008, luỹ tính số người
nhiễm HIV-AIDS là 17.389 người, số người chuyển sang AIDS là 4.659
người, số người tử vong là 2.793 người.
Tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn trong thời gian gần

Hiệu quả hoạt động văn hóa – xã hội chưa cao; chất lượng giáo dục –
đào tạo nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác cải cách hành
chính có một số chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung quy trình, thủ tục
vẫn còn có thể rút gọn đơn giản hơn nữa. Một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng
yêu cầu về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn và tinh thần trách
nhiệm. Tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, tình trạng ùn tắc giao thông
vẫn chưa được khắc phục.
5
Trên cơ sở những thành tựu và những hạn chế trên, Thủ đô Hà Nội
hiện đang tiếp tục phấn đấu phát triển nhanh, toàn diện và bền vững, thực
hiện vai trò đi đầu trong xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, giữ
vững ổn định chính trị xã hội trong mọi tình huống, góp phần quan trọng
vào sự phát triển của đất nước.
2. Nhận thức về chức năng, nhiệm vụ và hoạt động chung của
trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong – Thành phố Hà Nội.
- Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong được thành lập theo Quyết
định số 92/QĐ-TU, ngày 17/9/1993 của Thường vụ Thành ủy Hà Nội và
Quyết định số 5580/QĐ- UB, ngày 02/10/1993 của UBND Thành phố Hà
Nội trên cơ sở sáp nhập 3 trường:
+ Trường Đảng Lê Hồng Phong
+ Trường Quản lý Nhà nước
+ Trường Đoàn trung cấp thành phố.
2.1. Chức năng, nhiệm vụ của trường:
+ Đào tạo cán bộ lãnh đạo chủ chốt Đảng, Đoàn thể, Nhà nước, các
đoàn thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn, xí nghiệp, đơn vị hành
chính sự nghiệp và tương đương); các trưởng, phó phòng ban của quận,
huyện; trưởng phó phòng và chuyên viên của các sở, ban, ngành Thành phố
theo chương trình trung cấp chính trị hoặc trung cấp quản lý Nhà nước.
+ Đào tạo trung cấp pháp lý, trung cấp tin học cho nguồn nhân lực cán
bộ của Thành phố.

+ Khoa Lý luận cơ sở.
+ Khoa Kinh tế.
+ Khoa Lịch sử Đảng - Xây dựng Đảng.
+ Khoa Nhà nước - Pháp luật.
+ Khoa Dân vận.
+ Phòng Tổ chức - Đào tạo.
+ Phòng Khoa học - Thông tin - Tư liệu - Thư viện.
+ Phòng Hành chính - Quản trị.
Chức năng nhiệm vụ của các khoa:
- Khoa Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng: Dạy các môn Tư tưởng Hồ Chí
Minh, Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng bồi dưỡng nhận thức cho các đối
tượng kết nạp Đảng , cho đảng viên mới.
- Khoa lý luận cơ sở: Quản lý giảng dạy các vấn đề chuyên môn về
Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế chính trị, Tâm lý học trong
lãnh đạo quản lý, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động chung của
trường.
- Khoa dân vận: Giảng dạy các vấn đề về dân vận và bồi dưỡng cho
các cán bộ, đoàn thể làm công tác dân vận.
- Khoa nhà nước và pháp luật: Giảng dạy các vấn đề nhà nước và
pháp luật, các ngành luật, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đô thị nông
thôn khoa học và công nghệ.
8
- Khoa Kinh tế: Giảng dạy các vấn đề về kinh tế chính trị, quản lý
kinh tế và các vấn đề kinh tế khác.
2.3. Chương trình và kế hoạch đào tạo, nghiên cứu khoa học, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
Chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo của Đảng, chính quyền, đoàn
thể nhân dân cấp cơ sở (hệ Trung cấp lý luận chính trị) của nhà trường theo
quyết định của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh gồm: 1012 giờ,
trong đó thời gian lên lớp là 10 tháng = 892 giờ, thời gian đi thực tế cơ sở và

- 15% giảng viên đăng ký giáo viên dạy giỏi cấp trường;
- 100% các Khoa tham gia nghiên cứu đề tài khoa học cấp Trường;
- 100% tổ chức đoàn thể đạt tiêu chuẩn vững mạnh;
- Phấn đấu xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, tiêu biểu; 90%
chi bộ đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó có 20% chi bộ trong sạch, vững
mạnh, tiêu biểu; 95% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong
đó có 15% đảng viên xuất sắc.
- Tổ chức 04 cuộc kiểm tra với chính quyền, các đoàn thể và 09 cuộc
kiểm tra đối với các chi bộ và đảng viên trong việc thực hiện nghị quyết của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; của Thành phố và của Đảng uỷ
Trường.
10
- Kết nạp 03 đảng viên và giới thiệu 05 quần chúng ưu tú tham gia lớp
nhận thức về Đảng.
c. Nhiệm vụ và biện pháp:
*Lãnh đạo hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị:
- Nâng cao hiệu quả quản lý.
- Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng.
- Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, đản viên, công
chức.
- Kiện toàn bộ máy, tổ chức cán bộ và đổi mới công tác thi đua.
- Tăng cường cơ sở vật chất.
- Thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí.
* Lãnh đạo tốt công tác chính trị, tư tưởng.
- Quán triệt và tổ chức thực hiện có hiệu quả các Chỉ thị, Nghị quyết
của cấp trên và của Đảng ủy trường.
- Tiếp tục triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh”.
- Phát huy vai trò của chi bộ, các Đoàn thể và các đơn vị trong việc
nắm bắt tình hình và giải quyết kịp thời công tác tư tưởng của cán bộ, đảng

dẫn soạn bài giảng của Khoa.
Từ 2/4 - 6/4 Tiến hành soạn đề cương và
bài soạn giảng
-Chiều 7/4/2009
- Tối 7/4/2009
- Trực khoa.
- Dự giảng bài: “Quản lý Nhà
Cô giảng rất cuốn hút
người nghe với giọng
12
nước đối với các dự án đầu
tư” của cô Nguyễn Thị Hải
Hà, lớp BDCV 106A, phòng
311- H2.
điệu truyền cảm và
lượng thông tin phong
phú. Lớp học khá sôi
nổi.
Từ 9/4 đến 13/4 Tiếp tục soạn đề cương và bài
soạn giảng.
Chiều 14/4/2009 Trực khoa
Tối 15/4/2009 Dự giảng bài: “Quản lý Nhà
nước về tài chính tiền tệ” của
thầy Phan Văn Thắng, lớp
BDCV 106A.
Lớp học nghiêm túc, có
ghi chép cẩn thận.
Chiều 17/4/2009 Nộp đề cương và bài soạn
giảng cho cô Đinh Thị Ngân
Hà– giáo viên hướng dẫn.

A. Dự giờ giảng:
* Bài:“ Quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư’’ – cô Nguyễn
Thị Hải Hà, lớp BDCV 106A. ( thời gian dự giảng: 3 tiết)
- Nội dung bài giảng:
I. Dự án đầu tư.
1. Một số khái niệm.
a. Đầu tư.
b. Dự án
2. Nội dung của dự án.
a. Phương diện thời gian ( 3 giai đoạn).
14
- Chuẩn bị đầu tư.
- Thực hiện đầu tư.
- Kết thúc dự án đầu tư.
b. Phương diện kinh phí.
c. Phương diện tác động
- Phương pháp giảng: thuyết trình, thảo luận.
- Đối tượng học viên: Cán bộ.
* Bài“ Quản lý Nhà nước về tài chính – tiền tệ’’ – thầy Phan Văn
Thắng, lớp BDCV 106A. ( thời gian dự giảng: 6 tiết).
- Nội dung bài giảng:
I. Một số vấn đề cơ bản về tài chính.
1. Khái niệm.
2. Bản chất của tài chính.
3. Chức năng của tài chính.
II. Hệ thống tài chính trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
III. Nhiệm vụ của tài chính nước ta trong thời gian tới.
- Phương pháp giảng: Thuyết trình là chủ yếu.
- Đối tượng học viên: Cán bộ.
* Bài“ Tăng trưởng và phát triển kinh tế’’ – Thầy Nguyễn Văn

ở nước ngoài.
3. Chỉ số giá cả.
Là mức biến đổi bình quân của giá cả trong một thời kỳ nhất định.
4. Tỷ giá hối đoái.
Là giá cả của tiền nước này được tính ra bằng tiền của nước khác.
III. Công bằng và sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.
1. Công bằng với sự phát triển kinh tế- nhìn từ góc độ lý thuyết kinh
tế.
2. Bình đẳng và hiệu quả kinh tế.
- Bình đẳng theo chiều ngang là sự đối xử giống nhau không có sự
phân biệt giữa những người có hoạt động kinh tế giống nhau.
- Bình đẳng theo chiều dọc thường được hiểu là lấy của người giàu
chia cho người nghèo.
- Hiệu quả Pareto: nếu đạt đến sự phân bổ của cải mà không còn khả
năng dịch chuyển tới một sự phân bổ khác có thể làm cho một số người giàu
lên mà không có ai nghèo đi, thì sự phân bổ của cải đó là có hiệu quả.
3. Số đo sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
- Là tỷ số tập trung GINI nhận được từ đường cong Lorenz.
- GINI = A/(A+B)
- 0 < GINI < 1.
IV. Các nhân tố của sự tăng trưởng, phát triển kinh tế.
17
1. Các nhân tố kinh tế.
- Vốn.
- Lao động.
- Khoa hoc – công nghệ
2. Các nhân tố phi kinh tế.
+ Cơ cấu dân tộc
+ Cơ cấu tôn giáo.
+ Đặc điểm văn hóa xã hội.

Là một giáo sinh thực tập, để có thể giảng dạy tốt, ngoài việc nắm
chắc kiến thức và các phương pháp giảng dạy, phải chuẩn bị giáo án tốt.
Trong đó phải phân rõ thời gian giảng dạy, nội dung kiến thức cần truyền
tải…Sau khi đã chuẩn bị giáo án chu đáo, phải tập giảng, tập viết bảng, tập
đi đứng, nói năng, trang phục, giọng nói… Nếu giảng bằng phương tiện hiện
đại thì phải tập sử dụng máy móc sao cho thành thạo. Có như vậy mới có thể
tự tin giảng bài trước học viên lớn tuổi hơn mình, có kinh nghiệm thực tế
nhiều hơn mình.
19
Nhược điểm của thực tập sinh là kiến thức chủ yếu mang tính sách vở,
kiến thức thực tiễn còn hạn chế. Do vậy, trong khi luyện tập, phải biến
những kiến thức sách vở mang phong cách chính luận thành kiến thức mang
phong cách nói, tức là phải thổi hồn vào kiến thức làm cho kiến thức trở nên
sống động qua cách diễn tả của mình.
5. Đề xuất, kiến nghị đối với trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng
Phong và Học viện Báo chí – Tuyên truyền.
Qua thời gian thực tập 5 tuần tại Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng
Phong, được tham gia vào các hoạt động của khoa chuyên môn, của trường
chính trị và tiếp cận với phương pháp giảng dạy của nhà trường cũng như
việc nắm được tình hình kinh tế, chính trị xã hội của địa phương, em mạnh
dạn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị với Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng
Phong và Học viện Báo chí - Tuyên truyền như sau:
5.1. Đối với trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong:
- Tăng cường phối hợp cùng với Học viện Báo chí và Tuyên truyền
trong việc theo dõi, quản lý sinh viên thực hiện tốt các nội dung thực tập, và
chấp hành nội quy của Trường chính trị.
- Tạo điều kiện cho sinh viên tham gia giảng dạy, thăm quan, thực tế tại
địa phương nhiều hơn.
5.2. Đối với Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
- Tăng cường phối hợp cùng với trường chính trị trong việc chỉ đạo,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status