xác định quan hệ cha, mẹ, con. qua thực tiễn tại địa bàn huyện hương sơn -tỉnh hà tĩnh - Pdf 13

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA LUẬT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
KHÓA 2010 - 2014
XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA, MẸ, CON
QUA THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN
HUYỆN HƯƠNG SƠN - TỈNH HÀ TĨNH
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Đào Mai Hường Lê Thị Kim Loan
Lớp: K34A Dân Sự
Huế, 03/2014

GVHD: 

Để hoàn thành khóa luận này,
tôi xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo trong Khoa Luật-Đại học Huế
đã tận tình dạy dỗ,giúp đỡ va tạo
mọi điều kiện cho tôi trong suốt 4
năm học đại học.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ
quan, đoàn thể ,cá nhân đã cung
cấp tài liệu,tạo mọi điều kiện cho
tôi trong quá trình thu thập tài liệu
để thực hiện đề tài đặc biệt là
Phòng Tư pháp-UBND huyện Hương Sơn-
và TAND huyện Hương Sơn Tỉnh Hà
Tónh.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn


GVHD: 
6
SVTH: 

GVHD: 
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chủ Tịch đã nói: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia
đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt
thì xã hội mới tốt”. Nếu quan hệ vợ chồng trong gia đình là quan hệ pháp lý
hôn nhân thì quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ tràn đầy tình cảm yêu thương
chăm sóc. Mối quan hệ giữa cha, mẹ và con là mối quan hệ thiêng liêng và
cao cả, nó tồn tại trên hai phương diện xã hội và pháp lý. Xét về phương
diện xã hội thì quan hệ cha, mẹ, con tồn tại một cách tự nhiên và được ghi
nhận như là một sự tất yếu, nó là sự ràng buộc về mặt tình cảm giữa các
thành viên trong gia đình, nó được điều chỉnh bằng các quy tắc đạo đức, là
cơ sở để tạo lập gia đình hạnh phúc, bền vững, duy trì nòi giống và tái sản
xuất ra sức lao đông bằng việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe cho các
thành viên đảm bảo sự ổn định cho xã hội, an ninh chính trị. Còn về mặt
pháp lý thì quan hệ cha, mẹ, con được pháp luật Việt Nam quy định cụ thể
như quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con và của con đối với cha, mẹ.
Việc pháp luật ghi nhận quan hệ này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của cha, mẹ, con. Việc xác định quan hệ cha, mẹ, con là cơ sở làm
phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản trong quan hệ cha-
con, mẹ-con. Đây là cơ sở pháp lý để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
giải quyết các mâu thuẫn phát sinh khi các quan hệ đó có tranh chấp như
cấp dưỡng, nuôi dưỡng, thừa kế, xác định nhân thân người phạm tội trong
luật hình sự. Như vậy việc xác định quan hệ cha, mẹ, con không chỉ có ý
nghĩa trong phạm vi lĩnh vực Hôn nhân và gia đình mà nó còn có ý nghĩa

Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha,
mẹ thuộc những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án.
Ngoài ra thì vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con còn được quy định
trong nhiều văn bản pháp luật khác. Điều này thể hiện được sự quan tâm
8
SVTH: 

GVHD: 
của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của những người làm
cha, làm mẹ và làm con. Qua những luận cứ khoa học trong Luật hôn nhân
và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thấy các quy định này
khá chặt chẽ và cụ thể về vấn đề xác định cha, mẹ cho con, tuy nhiên trên
thực tế việc nhận thức và áp dụng vẫn chưa thống nhất. Có những văn bản
quy phạm pháp luật vẫn còn khá nhiều thiếu sót, hạn chế, nhiều vấn đề về
xác định quan hệ cha, mẹ, con chưa được điều chỉnh gây khó khăn trong
quá trình giải quyết và áp dụng pháp luật.
Quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về việc xác định cha, mẹ
cho con vừa là cơ sở pháp lý để thực hiện công tác đăng ký khai sinh, vừa
là căn cứ áp dụng trong công tác xét xử của Tòa án. Thực tế, do các cán bộ
Toà án, cán bộ tư pháp hộ tịch còn có sự nhận thức khác nhau đối với quy
định của pháp luật về việc xác định cha cho con nên đã xảy ra những câu
chuyện trái khoáy xung quanh vấn đề này.
Đó là trong trường hợp con sinh ra sau khi ly hôn mà trong bản án,
quyết định của Tòa án không xác định là con của ai mà đi làm giấy khai
sinh của con thì có những vụ việc thì cơ quan hộ tịch còn dè dặt, không
dám ghi tên cha vào giấy khai sinh của con mà phải chờ sự xác định của
Toà án, trong khi đó thì Toà án lại quả quyết là không cần thiết. Ngược lại,
có những vụ việc thì trong khi cơ quan hộ tịch đã xác định là cha của đứa
trẻ bằng việc đăng ký khai sinh, thì Toà án lại buộc đương sự phải yêu cầu

hôn nhân thì đương nhiên được đăng ký hộ tịch xác định con chung của vợ
chồng (không cần Tòa án xác định) mà khi con sinh ra ngoài thời kỳ hôn
nhân nhưng người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân thì phải yêu cầu Tòa
án xác định cha cho con. Đương sự chỉ có quyền và nghĩa vụ yêu cầu Toà
án xác định cha cho con ngoài các trường hợp nêu trên, tức là con sinh ra
ngoài thời kỳ hôn nhân và người vợ có thai ngoài thời kỳ hôn nhân. Còn
khi thuộc những trường hợp đương nhiên được xác định là con chung của
vợ chồng như đã nêu ở khoản 1 của điều luật nêu trên mà cha, mẹ không
10
SVTH: 

GVHD: 
thừa nhận con thì cũng phải yêu cầu Tòa án xác định và phải có chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu của mình.
Và như vậy, trong hai trường hợp nêu trên những người con được
người vợ sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định của
Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật nên đương nhiên là
con của vợ chồng. Trong trường hợp này nếu người chồng không thừa nhận
người con đó là con của mình thì họ phải khởi kiện yêu cầu Toà án xác
định và có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh về vấn đề này mà
người vợ không buộc phải yêu cầu Toà án xác định một vấn đề đã được coi
là đương nhiên.
Như vậy, dựa trên tính chất của quan hệ xác định cha, mẹ, con có
tranh chấp hay không có tranh chấp là cơ sở để xác định cơ quan có thẩm
quyền xác định cha, mẹ, con. Tuy nhiên, việc xác định thẩm quyền giải
quyết loại việc này từ góc độ thực tiễn đã và đang phản ánh những bất cập
và khó khăn liên quan đến cách hiểu và vận dụng điều luật cũng như những
quy định còn “bỏ ngỏ” trong Luật dẫn đến những lúng túng nhất định trong
việc xác định thẩm quyền, thủ tục tố tụng và nghĩa vụ chứng minh…
Trường hợp người chồng của người mẹ đứa trẻ không thừa nhận đứa

định cha, mẹ, con nhưng cơ quan hộ tịch khi giải quyết bằng một thủ tục
đăng ký thông thường dưới khía cạnh pháp lý lại có những vướng mắc nhất
định. Đây cũng là vấn đề đang có sự mâu thuẫn và gặp ít nhiều lúng túng
khi áp dụng luật trong một số trường hợp yêu cầu xác định cha, mẹ, con khi
người cha, người mẹ bị yêu cầu xác định đã chết.
Thực tiễn xét xử thời gian gần đây khá nhiều vụ án đương sự khởi
kiện ra Tòa yêu cầu xác định cha, mẹ cho con mà người cha hoặc người mẹ
được yêu cầu xác định là cha hoặc mẹ của cháu bé đã chết hoặc trong
trường hợp cả người cha, người mẹ của cháu bé đều đã chết. Điều này
không chỉ liên quan đến thủ tục tố tụng từ việc thụ lý, thông báo thụ lý, hòa
giải, đến việc đưa ra xét xử tại phiên tòa mà còn liên quan đến vấn đề xác
định chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện.
12
SVTH: 

GVHD: 
Điều 65 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định: “Con có
quyền xin nhận cha mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết’.
Như vậy pháp luật bảo đảm trong mọi trường hợp người con đều có quyền
xin nhận cha, mẹ của mình ngay cả khi người được nhận là cha, mẹ đã
chết. Nguyên tắc chung người đưa ra yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh.
Tuy nhiên, việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh này trong thực tế không
phải là vấn đề đơn giản.
Về việc xác định tư cách tố tụng: Theo quy định tại khoản 3 Điều 56
BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011), về nguyên tắc người bị
người khác khởi kiện khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn bị người đó xâm phạm sẽ được xác định là bị đơn trong vụ kiện, tuy
nhiên trong trường hợp này có thể xác định người đó là bị đơn hay không
khi người đó đã chết. Khá nhiều các bản án hiện hành khi rơi vào trường
hợp này đều không khỏi lúng túng khi xác định tư cách của người đó trong

Xuất phát từ những nhận thức về cơ sở lý luận cũng như qua thực
trạng trong vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con ở địa bàn huyện Hương
Sơn-Tỉnh Hà Tĩnh, tôi đã lựa chọn đề tài “ Xác định quan hệ cha, mẹ, con.
Qua thực tiễn tại địa bàn huyện Hương Sơn -Tỉnh Hà Tĩnh”. Với đề tài
này, tôi mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn cả về lý luận và thực tiễn của vấn
đề xác định quan hệ cha, mẹ, con. Từ đó nhận thức một cách đầy đủ hơn
về cơ sở pháp lý của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cũng như
những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ việc về xác
định quan hệ cha, mẹ, con cả nước nói chung và tại địa bàn huyện Hương
Sơn nói riêng. Bên cạnh đó tác giả cũng có một số đề xuất, kiến nghị những
giải pháp hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh về
vấn đề này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Quá trình tìm hiểu đề tài sẽ góp phần vào việc hệ thống hóa những
quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con.
14
SVTH: 

GVHD: 
Tìm hiểu thực trạng xác định quan hệ cha, mẹ, con tại địa bàn huyện
Hương Sơn -Tỉnh Hà Tĩnh giúp chúng ta đánh giá phần nào đúng tình hình
thực tế quan hệ Hôn nhân gia đình hiện nay. Qua đó chúng ta có cách đánh
giá khoa học, toàn diện về vấn đề và tìm ra được những nguyên nhân,
vướng mắc của thực trạng và đề ra một số giải pháp khắc phục.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đó là hệ thống và làm rõ những quy định của pháp luật hiện hành về
xác định quan hệ cha, mẹ, con. Tìm hiểu về thực trạng xác định quan hệ
cha, mẹ, con tại địa bàn huyện Hương Sơn -Tỉnh Hà Tĩnh. Qua đó có thể
thấy được những nguyên nhân, khó khăn vướng mắc trong quá trình giải

con thông qua số liệu thu thập được tại địa bàn.
- Phương pháp tổng hợp, thống kê: Đây là một phương pháp có ý nghĩa
quan trọng trong việc thu thập số liệu các vụ việc về xác định quan hệ cha,
mẹ, con diễn ra trên thực tế địa bàn huyện Hương Sơn-Tỉnh Hà Tĩnh.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu :Dùng phương pháp này để có thể
thấy được sự đối chiếu tăng giảm của số liệu cũng như là tính chất của vụ
việc xác định quan hệ cha, mẹ, con giữa năm này so với năm khác.
5. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần là mở đầu, nội dung, kết luận. Trong đó phần
nội dung gồm 2 chương:
Chương I : Những quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề xác
định quan hệ cha, mẹ, con.
Chương II: Thực trạng xác định quan hệ cha, mẹ, con tại huyện
Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Nguyên nhân và một số giải pháp.
16
SVTH: 

GVHD: 
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH QUAN HỆ CHA, MẸ, CON
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa của quan hệ cha, mẹ, con
“Quan hệ cha, mẹ, con là mối liên hệ pháp lý giữa một người (gọi là
con) và một người khác (gọi là cha hoặc mẹ), tùy theo người khác đó là
nam hay là nữ quan hệ được thiết lập là quan hệ cha con hoặc quan hệ mẹ
con. Quan hệ cha, mẹ, con có thể được xác lập một cách tự nhiên từ sự kiện
thành thai và sinh nở (gọi là quan hệ cha, mẹ, con ruột) hoặc một cách nhân
tạo từ việc nhận nuôi con nuôi”. Như vậy quan hệ cha, mẹ, con là một quan

cơ quan có thẩm quyền và có giá trị pháp lý để bảo đảm về quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tham gia.
Dưới góc độ sinh học -xã hội thì xác định cha, mẹ, con là việc nghiên
cứu, tìm kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp
nhau thông qua sự kiện sinh đẻ” [19, 1].
Dưới góc độ luật học thì xác định quan hệ cha, mẹ, con trong từ điển
Luật học lại đưa ra khái niệm “xác định cha, mẹ cho con” là: “ định rõ một
người là cha hoặc một người là mẹ cho con trên cơ sở các quy định của
pháp luật” [19, 1].
Dưới góc độ pháp lý thì xác định quan hệ cha, mẹ, con là một chế định
pháp lý bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về căn cứ pháp lý, thủ
tục pháp lý xác định cha, mẹ, con, là cơ sở để hình thành ở các chủ thể
quyền và nghĩa vụ theo luật định. [19,1]
Từ sự phân tích trên chúng ta có thể định nghĩa xác định quan hệ cha,
mẹ, con là một hành vi pháp lý do cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định
18
SVTH: 

GVHD: 
của pháp luật có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thừa
nhận hoặc không thừa nhận quan hệ cha - mẹ - con về mặt pháp lý, nhằm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con và
ngược lại.
Như vậy từ khái niệm trên thì chúng ta có thể thấy việc xác định quan
hệ cha, mẹ, con có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, nó là một hành vi pháp lý
Thứ hai, nó phát sinh tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay
theo quy định của pháp luật Việt Nam thì TAND và UBND với tư cách là cơ
quan quyền lực Nhà nước thực hiện thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình,
đó là xác định và công nhận hay không công nhận quan hệ cha, mẹ, con.

quy định nhằm bảo đảm trật tự, đẳng cấp các mối quan hệ giữa các thành
viên trong gia đình. Luật pháp vẫn chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam
khinh nữ, xác lập quyền gia trưởng trong gia đình. Dưới thời Lê, với bộ
Quốc triều hình luật không có chế định nào quy định cụ thể về việc xác
định quan hệ cha, mẹ, con mà chỉ thông qua các quy định về quan hệ giữa
các thành viên trong gia đình cho thấy pháp luật thời kỳ này chỉ thừa nhận
quan hệ cha mẹ đẻ đối với con đẻ và phải là con chính thống, không thừa
nhận quan hệ cha, mẹ, con ngoài giá thú. Pháp luật thời kỳ phong kiến có
cho phép và thừa nhận quan hệ cha, mẹ, con phát sinh dựa vào sự kiện nhận
nuôi con nuôi. Điều 380 Bộ luật Hồng Đức quy định “Việc nuôi con nuôi
phải làm một văn tự giữa cha, mẹ đứng nuôi và cha mẹ sinh ra đứa trẻ”. Con
nuôi có thể là con trai hoặc con gái, con của một người trong họ hoặc khác
họ (Đoạn 257 Hồng Đức thiện chính thư). Nếu con nuôi lập tự phải là con
trai và là con của một người trong họ. Quy định như trên nhằm bảo vệ chế
độ gia trưởng, bảo đảm trong trường hợp gia đình không có con trai thì
người chủ gia đình phải tiến hành lập tự bằng cách nhận con nuôi trong số
các con trai của những người thân thuộc bên nội cùng vai vế với mình.
Đến thời Nguyễn, luật pháp xây dựng khuôn mẫu gia đình theo mô
hình phụ quyền Trung Quốc. Bộ Hoàng Việt luật lệ ra đời nhưng chỉ dành
20
SVTH: 

GVHD: 
cho gia đình sự quan tâm chừng mực và không có bước tiến nào đáng kể.
Bộ luật này chưa có quy định nào về việc xác định quan hệ cha, mẹ, con và
chỉ dừng lại ở việc quy định các trường hợp nhận nuôi con nuôi làm “nghĩa
dưỡng” hay “lập tự” (Điều 76 Bộ Hoàng Việt luật lệ). Như vậy, pháp luật
thời kỳ phong kiến ít quan tâm tới việc xác định quan hệ cha, mẹ, con mà
quan hệ hôn nhân chủ yếu tồn tại trong những “chuẩn mực”.
Hệ thống pháp luật thời kỳ này đều thấm nhuần tư tưởng Nho giáo,

- “Con hoang” hay “con ngoại tình” là con không có giá thú chính
thức mà sinh ra.
Tại Điều 174 BDLBK quy định: “phàm con hoang vô thừa nhận thì
không được phép thưa trước Tòa án để truy nguồn gốc tích cha, mẹ là ai”.
Đứa con chỉ được thừa nhận là “con chính thức” khi được người mẹ
thu thau trong thồ kỳ giá thú, đó là khoảng thời gian mang thai tối thiểu và
tối đa của người phụ nữa kể từ thời điểm thụ thai đến thời điểm sinh con,
các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm tại Điều 151 BDLBK “Thụ thai trong
thời kỳ giá thú, tức là kể từ sau khi đã làm lễ cưới cách ngoại một trăm tám
mươi ngày sinh con, hay kể từ sau khi đã tiêu hôn mà trong khoảng ba trăm
ngày sinh con”. Người chồng có quyền thừa nhận con ngoại tình trong khi
đó việc thừa nhận con ngoại tình của người vợ thì bị cấm. Nếu là con loạn
luân hay con ngoại tình của người mẹ thì họ lại không được đăng ký sự
khai nhận đứa con hoang ấy và con ngoài giá thú không được hưởng các
quyền lợi như con giá thú cả về quyền nhân thân và quyền tài sản, chúng
không có quyền mang họ của cha đẻ và đương nhiên không có quyền thừa
kế tài sản của người cha đó và quyền xin xác nhận một người là cha đẻ của
mình cũng không có.
Quy định này thật bất công với con ngoài giá thú, quyền lợi của người
mẹ và con không được tôn trọng, thể hiện rõ nét vấn đề trọng nam khinh nữ
dưới chế độ phong kiến và thực dân.
22
SVTH: 

GVHD: 
Tuy nhiên thì pháp luật thời kỳ này cũng có một số điểm tiến bộ như
là quy định các trường hợp thừa nhận “con hoang” thành “con chính thức”
tại các Điều 169, Điều 170 BDLBK:
Điều 169 BDLBK quy định “Phàm con hoang mà cha mẹ nó trước đã
khai nhận, đến sau lại có giá thú hợp phép, thì có thể công nhận làm con

nhiên nó chưa dự liệu về nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định
cha, mẹ, con trong giá thú giá thú cũng như con ngoài giá thú mà chỉ quy
định quyền được xác nhận cha mẹ của con ngoài giá thú.
Trên cơ sở kế thừa Luật HNVGĐ năm 1959, Luật HNVGĐ năm 1986
đã có những bước phát triển mới. Quan hệ cha, mẹ, con được xây dựng
thành một chương độc lập -Chương V. Theo đó, các vấn đề về xác định
quan hệ cha, mẹ, con được quy định như nguyên tắc suy đoán pháp lý để
xác định cha, mẹ, con trong thời kỳ hôn nhân, quyền nhận cha, mẹ, xác
định cha, xác định con, các chủ thể có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
và các cơ quan có thẩm quyền công nhận việc xác định cha, mẹ, con. Đối
với việc xác định cha cho con ngoài giá thú thì Điều 29, Điều 31 Luật
HNVGĐ năm 1986 mới chỉ quy định phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu
xác định mối quan hệ cha mẹ và con mà chưa quy định cụ hể những bằng
chứng để xác định quan hệ đó.
Luật HNVGĐ năm 2000 ra đời đã đáp ứng được những yêu cầu trong
giai đoạn mới, những sự thay đổi cần thiết, hủy bỏ những quy định không
còn phù hợp nữa. LHNVGĐ năm 2000 đã bổ sung một số quy định mới
nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của cha, mẹ, con trong mối quan hệ
này đồng thời quy định việc xác định quan hệ cha, mẹ, con cho con được
sinh ra theo phương pháp khoa học. Đây là quy định mới dựa trên sự phát
triển của khoa học công nghệ ngày nay. Mặt khác luật cũng quy định cụ thể
chi tiết hơn về các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hoặc
đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án xác định quan hệ cha, mẹ, con trong
một số trường hợp đặc biệt.
24
SVTH: 

GVHD: 
Như vậy qua đây chúng ta thấy vấn đề xác định quan hệ cha, mẹ, con
đã được pháp luật quy định rất sớm mặc dù những quy định đó còn có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status