giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính qua thực tiễn tại địa bàn huyện quảng ninh - tỉnh quảng bình - Pdf 14

A . PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại phổ biến. Nó là
những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ
đất đai. Tranh chấp đất đai để lại các hệ lụy xấu phá vỡ sự đoàn kết trong nội
bộ nhân dân, là nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã
hội và là điều kiện để các thế lực thù địch tuyên truyền kích động, xuyên tạc,
chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam v.v Để ngăn
ngừa nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị và duy trì khối đại đoàn kết
toàn dân, vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai được Đảng và Nhà nước ta đặc
biệt quan tâm. Trong các đạo Luật đất đai được ban hành như Luật đất đai
năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 đều có các quy
định về giải quyết tranh chấp đất đai. Theo đó, tranh chấp đất đai được giải
quyết thông qua hòa giải ở cơ sở do các tổ hòa giải thôn, xóm, tổ dân phố và
chính quyền xã, phường, thị trấn thực hiện. Chỉ khi hòa giải ở cơ sở không
thực hiện được thì tranh chấp đất đai mới do Tòa án nhân dân (TAND) hoặc
Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện trở lên giải quyết. Việc đi sâu tìm hiểu
việc giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính thực hiện trên phạm
vi địa bàn một huyện như huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình thì dường như
còn ít có công trình nghiên cứu. Hơn nữa trong điều kiện kinh tế thị trường,
đất đai ngày càng có giá trị cao thì các tranh chấp, khiếu kiện đất đai ngày
càng gia tăng. Để góp phần tháo “ngòi nổ” của các điểm nóng do tranh chấp,
khiếu kiện đất đai gây ra trên địa bàn huyện thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và
đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải quyết tranh chấp đất
đai theo thủ tục hành chính xem xét trong phạm vi một huyện cụ thể như
Huyện Quảng Ninh là một việc làm có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Với ý nghĩa đó, em lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp đất đai theo
thủ tục hành chính qua thực tiễn tại địa bàn Huyện Quảng Ninh - Tỉnh
Quảng Bình” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
1

2
thủ tục hành chính tại địa bàn Huyện Quảng Ninh - Tỉnh Quảng Bình cụ thể
tại Ủy ban nhân dân Huyện Quảng Ninh – Tỉnh Quảng Bình.
4.2 Phạm vi về thời gian
Đánh giá về công tác giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành
chính tại địa bàn Huyện Quảng Ninh – Tỉnh Quảng Bình trong thời gian 4
năm từ 2010 đến 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra; trong quá trình
nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử… được sử dụng
trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về tranh chấp
đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính ;
- Phương pháp so sánh luật học, phương phương pháp đánh giá v.v
được sử dụng trong chương 2 khi tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật về
giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính trên địa bàn huyện
Quảng Ninh;
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở chương
3 khi xem xét, tìm hiểu về hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai
thông qua việc nghiên cứu thực trạng áp dụng tại huyện Quảng Ninh.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận này đã góp phần làm
sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp
đất đai theo thủ tục hành chính để rồi từ đó hiểu được các quy định của
pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành
chính, đặc điểm, trình tự, thẩm quyền của việc giải quyết tranh chấp đất đai
theo thủ tục hành chính. Nhìn nhận được sự khác biệt cơ bản giữa việc giải
quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính với giải quyết tranh chấp
theo thủ tục tố tụng tại Tòa án.
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến

gian từ khi chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được thiết lập từ năm 1980
cho đến nay, tranh chấp đất đai luôn là vấn đề thời sự có những diễn biến rất
phức tạp ảnh hưởng xấu đến việc quản lý, sử dụng đất đai nói riêng và gây bất
ổn nhất định đối với đời sống kinh tế - xã hội nói chung. Sự kiện Bộ tài
nguyên và môi trường từng đề xuất thành lập một cơ quan tài phán chuyên
trách để giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về đất đai phần nào cho thấy tính
chất nghiêm trọng của vấn đề này.
Trải qua nhiều giai đoạn với những chính sách đất đai khác nhau, cho dù
đất đai có được coi như là một loại tài sản có giá, quyền sử dụng đất có phải
là một loại hàng hóa đặc biệt hay không, hiện tượng tranh chấp đất đai đều
được pháp luật ghi nhận và quy định việc giải quyết. Tuy nhiên, trước khi
Luật Đất đai 2003 ra đời, thuật ngữ “TCĐĐ” chưa được chính thức giải thích,
mà chủ yếu là chỉ được “hiểu ngầm” qua các quy định của pháp luật về giải
quyết TCĐĐ, quy định về giải quyết các tranh chấp khác có liên quan đến
quyền sử dụng đất trong các đạo luật đất đai qua các thời kỳ và trong các văn
bản pháp luật có liên quan của cơ quan nhà nước.
Tranh chấp đất đai là một thuật ngữ, một khái niệm đã trở lên rất phổ
biến trong đời sống xã hội. Thuật ngữ này không chỉ xuất hiện trong các văn
bản pháp luật mà còn xuất hiện thường ngày trên các phương tiện thông tin
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
5
đại chúng, trong đời sống nhân dân. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này
hiện nay vẫn chưa được hiểu một cách đồng nhất, kể cả trong giới luật học.
Việc xác định nội hàm khái niệm tranh chấp đất đai có ý nghĩa quan trọng kể
cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, đặc biệt là trong việc xác định cơ chế,
thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết.
Theo giải thích của Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp nói chung được
hiểu là việc “Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Tranh chấp: 1. Giành giật, giằng co
nhau cái không rõ thuộc về bên nào. 2. Bất đồng, trái ngược nhau”. Lần đầu

Ở một khía cạnh khác, khoản 26 Điều 4 Luật Đất đai 2003 cũng có thể
được hiểu ở phạm vi khác. Cụ thể, TCĐĐ là tranh chấp về “quyền” và tranh
chấp về “nghĩa vụ” liên quan đến đất đai của người hiện đang quản lý, sử
dụng đất với những người có liên quan trong quan hệ đất đai. Theo đó, tất cả
các giao dịch dân sự giữa các chủ thể mà đối tượng của giao dịch đó là đất
đai, quyền và nghĩa vụ về đất đều được hiểu là quan hệ đất đai. Và theo cách
hiểu này, các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện các hợp đồng về đất đai
sẽ được hiểu là tranh chấp đất đai, chẳng hạn tranh chấp về nghĩa vụ nộp thuế
chuyển quyền sử dụng đất giữa các bên tham gia quan hệ chuyển nhượng -
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hay tranh chấp về quyền yêu cầu trả
công trong hợp đồng ủy quyền quản lý, sử dụng đất… Rõ ràng, các tranh chấp
dạng này là những tranh chấp dân sự thuần túy, và thực tiễn các vụ việc này
đều không được các cơ quan hành chính thụ lý mà được Tòa án nhân dân thụ
lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Tiếp đó, “Quan hệ đất đai” được hiểu là quan hệ giữa người với người
trong việc sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai, trong đó có cả các chủ thể là cơ
quan quản lý Nhà nước về đất đai. Nếu hiểu một cách thuần túy tranh chấp
đất đai là tranh chấp “giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” thì có
nghĩa là sẽ có loại tranh chấp đất đai giữa cơ quan quản lý Nhà nước về đất
đai với người sử dụng đất. Điều này là hoàn toàn mâu thuẫn với chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai. Bởi lẽ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
7
thống nhất quản lý với tư cách đại diện chủ sở hữu. Trong quá trình quản lý
đó, Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng
đất, giao một phần diện tích đất cho các cơ quan, trong đó có Ủy ban nhân
dân các cấp để làm trụ sở phục vụ hoạt động quản lý xã hội. Người sử dụng
đất, nếu không nhất trí với cơ quan Ủy ban nhân dân về việc quản lý, sử dụng
đối với một diện tích đất cụ thể nào đó, chỉ có quyền đề nghị Nhà nước xem
xét lại việc giao đất đó đã thực sự công bằng, hợp lý hay chưa, chứ không có

Như vậy, có thể hiểu: “tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung
đột về mặt lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ
đất đai trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai”.
Việc nhận thức như vậy là hoàn toàn phù hợp với xu hướng Nhà nước
đang ngày càng mở rộng quyền cho người sử dụng đất và các cơ quan Nhà
nước được giao quản lý đất đai nếu không tuân thủ pháp luật, gây thiệt hại
cho lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất cũng có thể bị người sử dụng đất
khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không còn đơn thuần là mệnh lệnh
hành chính một chiều.
Khách quan cũng cần phải thừa nhận rằng, cũng chính định nghĩa tranh
chấp đất đai theo quy định của pháp luật hiện hành còn chưa rõ ràng, chưa cụ
thể nên trên thực tế chúng cũng là nguyên nhân dẫn đến tình tràng “mù mờ”,
thiếu đi sự phân định rạch ròi và thậm chí trong nhiều trường hợp người ta
đồng nhất giữa tranh chấp với khiếu nại, tố cáo về đất đai, trong khi chúng
hoàn toàn có đối tượng, tính chất, đặc điểm và phạm vi khác nhau. Vì vậy, để
đảm bảo cho hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai nói chung và giải quyết
tranh chấp đất đai bằng Tòa án nói riêng đúng pháp luật, đúng thẩm quyền thì
sự cần thiết phải làm rõ nội hàm của vấn đề này.
1.1.2. Đặc điểm của tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai là hiện tượng xã hội, có thể xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi.
Ở các vùng, miền khác nhau thì tranh chấp đất đai có thể có những nét riêng.
Theo khoản 26, Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 thì “tranh chấp đất đai là
tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
9
bên trong quan hệ đất đai”. Hay nói cách khác, tranh chấp đất đai là tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa các đương sự trong
qua trình quản lý và sử dụng đất đai. Như vậy, tranh chấp đất đai chính là các
mâu thuẫn, bất đồng ý kiến của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật
đất đai khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm. Trong

dụng đất hợp pháp dù không có quyền sở hữu nhưng vẫn có quyền định đoạt
quyền sử dụng trong phạm vi quy định của pháp luật. Có thể gọi đây là
“Quyền sở hữu hạn chế”, được người đại diện chủ sở hữu trao cho người sử
dụng đất. Do đó, tùy theo mối quan hệ giữa các bên trong quan hệ tranh chấp
đất đai mà việc áp dụng pháp luật, thẩm quyền để giải quyết tranh chấp khác
nhau. Ví dụ: Giải quyết tranh chấp bằng tòa án thì áp dụng pháp luật Dân sự,
Kinh tế; Giải quyết tranh chấp bằng ủy ban thì áp dụng pháp luật Đất đai,
Luật Hành chính …
1.1.3. Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến
Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi
đan xen lẫn nhau. Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là
các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp
pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã
sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
1.1.3.1. Tranh chấp về đòi lại đất đai
Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất:
Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có
nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà
do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sứ dụng nữa. Bây giờ
những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp.
Trong dạng tranh chấp này có các loại sau:
+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác
nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải
cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
11
nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô
hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của
nông dân được tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết T.Ư

Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà
thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố,
hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên
đòi lại đất, nhà.
+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh
chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở
nhờ. Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục
năm (nhất là ở miền nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ
giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc là
hết hạn hợp đồng, hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên
cố, một số có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất (QSDĐ) thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc
công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy
chứng nhận QSDĐ.
+ Tranh chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn:
Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ
chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất
để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia
đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly
hôn thì cha mẹ đòi lại
+ Tranh chấp về quyền thừa kế QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ: Đây
là dạng tranh chấp do người có QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chết mà không
để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật
và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia
thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp.
+ Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng
bào dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây
Nguyên. Việc di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không
phải lúc nào chính quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến

SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
15
trưng mua hoặc do người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và
nghĩa vụ SDĐ của mình mà dẫn đến tranh chấp.
1.1.3.4. Tranh chấp về ranh giới sử dụng đất
Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các
vùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới. Loại
tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không
xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích
đất của người khác. Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh
giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường
sang nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng.
Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới
hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai
huyện, hai xã với nhau, tập trung ớ những nơi có vị trí quan trọng trong việc
phát triển kinh tế, văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng
có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở
những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý. Cùng với việc chia tách các đơn vị
hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành
chính tương đối nhiều.
Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan
nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo
đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của
đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết
định cấp đất cũng như giấy chứng nhận QSDĐ hoặc khi cấp giấy chứng nhận
QSDĐ có phần diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa
các hộ liền kề nhau. Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải
xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai.
1.1.3.5. Tranh chấp về mục đích sử dụng
Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông

dân, phong kiến, xác lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân. Năm
1960, thông qua con đường hợp tác hoá nông nghiệp, ruộng đất của người
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
17
nông dân được đưa vào làm tư liệu sản xuất chung, thuộc sở hữu tập thể, do
đó tình hình sử dụng đất đai tương đối ổn định.
Thứ hai, do ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh làm xáo trộn quan hệ
pháp luật về đất đai.
Ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến, tình hình sử dụng đất đai có nhiều
diễn biến phức tạp hơn. Trong 9 năm kháng chiến chính phủ đã tiến hành chia
cấp ruộng đất cho người nông dân hai lần vào năm 1949 - 1950 và năm 1954.
Nhưng đến cuối 1957, ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện việc cải cách điền địa,
thực hiện việc “truất hữu” nhằm xoá bỏ thành quả của cách mạng, gây ra những
xáo trộn lớn về quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân.
Sau năm 1975, Nhà nước đã tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp, đồng
thời xây dựng hàng loạt các nông trường, lâm trường, trang trại. Nhìn chung,
những tổ chức đó bao chiếm nhiều diện tích nhưng sử dụng kém hiệu quả.
Đặc biệt, qua hai lần điều chỉnh ruộng đất vào năm 1978 - 1979 và năm 1982
- 1983, cùng với chính sách chia cấp đất theo kiểu bình quân đã dẫn đến
những xáo trộn lớn về ruộng đất, về ranh giới, diện tích và mục đích sử dụng.
Thứ ba, do yếu tố kinh tế
Do chuyển hướng nền kinh tế từ tập trung quan liêu, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường mà quan hệ đất đai là một trong những yếu tố của quan hệ
kinh tế. Vì vậy mà nó cũng biến động theo sự thay đổi của quan hệ kinh tế.
Hiện nay, trong quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước việc thu hồi
đất để mở rộng đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng thực hiện các dự án đầu tư
làm cho quỹ đất canh tác ngày càng giảm. Trong khi đó, sự gia tăng dân số
vẩn ở tỷ lệ cao số trong khi diện tích đất có hạn; do sửa đổi Luật cư trú với
các điều kiện nới lỏng cho phép công dân được tự do cư trú; khuyến khích,
tạo điều kiện cho người nước ngoài, Việt kiều được mua nhà ở tại Việt Nam

sự rõ ràng dẫn đến tình trạng cơ quan Nhà nước khi áp dụng sai và dẫn đến
tranh chấp xảy ra. Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn thi hành các điều luật
đã quy định chậm được ban hành làm cho việc áp dụng pháp luật được thực
hiện một cách cầm chừng, thiếu hiệu quả. Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
19
ngày 1/07/2004. Nhưng phải cho đến tháng 10/2004 sau hơn 4 tháng thực
hiện mới có Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật đất đai. Như vậy, nếu
đối chiếu với yêu cầu của Luật ban hành văn bản quy định pháo luật (được
quy định tại Điều 7) thì vẫn chưa tuân thủ triệt để đạo luật kể trên. Điều 7
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định:
Luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác phải được quy
định cụ thể để khi các văn bản đó có hiệu lực thì được thi hành ngay. Trong
trường hợp luật, pháp lệnh có điều, khoản cần phải được quy định chi tiết
bằng văn bản khác, thì ngay tại điều, khoản đó, phải xác định rõ cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định và thời hạn ban hành văn bản.
Văn bản quy định chi tiết thi hành phải được soạn thảo cùng với dự án,
pháp lệnh để trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi Luật, pháp lệnh có
hiệu lực. Chính sự chậm trể này đã làm cho việc áp dụng pháp luật một cách
cầm chừng, thiếu hiệu quả.
Thứ ba, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai chưa thực sự được coi
trọng, vì thế trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân
dân còn hạn chế. Nhiều văn bản pháp luật đất đai chưa thực sự đi vào cuộc
sống. Việc điều tra, xem xét giải quyết tranh chấp đất đai còn yếu kém, hiệu lực
thấp, chưa thật sự quan tâm đến những giải pháp mang tính quần chúng.
Thứ ba, về cán bộ, công chức
Cán bộ, công chức thực hiện công vụ liện quan đến đất đai một bộ phận
cán bộ công chức còn thiếu gương mẫu, tuỳ tiện trong quản lý, vi phạm chế
độ quản lý và sử dụng đất đai.

lớn, từ các hiện tượng nhỏ lẻ cá biệt dẫn đến những hiện tượng bất thường
gây xáo trộn trong xã hội. Do vậy, không có Nhà nước nào lại không can
thiệp bằng nhiều biện pháp khác nhau để bình ổn những xung đột đó.
Thực tế, ở một số địa phương tình trạng khiếu kiện đông người gây áp
lực đối với chính quyền, bao vây các doanh nghiệp vì không hài lòng với việc
bồi thường thiệt hại về đất. Điều này cho vấy, việc giải quyết tranh chấp đất
đai đã trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội. Các biện pháp giải
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
21
quyết không nhất thiết cứ phải khiếu kiện đến cơ quan Nhà nước mà có thể
thông qua nhiều con đường khác nhau từ cộng đồng, từ sự chia sẽ của xã hội
và vai trò trung gian hòa giải của các tổ chức đoàn thể. Tuy nhiên, nếu những
biện pháp giáo dục, thuyết phục từ cộng đồng không đạt được sự nhất trí của
các bên đương sự thì đương nhiên bằng con đường hành chính, con đường tư
pháp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải có trách nhiệm bình ổn các quan
hệ xã hội thông qua việc áp dụng pháp luật để giải quyết mọi quyền lợi chính
đáng cho đương sự. Công tác giải quyết tranh chấp đất đai đạt hiểu quả tốt sẽ
duy trì trật tự xã hội ổn định, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất
được phục hồi, mang lại niềm tin to lớn cho người có quyền lợi bị xâm phạm
đồng thời khuyến cáo người vi phạm pháp luật về các trách nhiệm pháp lý có
thể được áp dụng để truy cứu đối với hành vi vi phạm.
Từ những ý nghĩa trên có thể khái quát khái niệm giải quyết tranh chấp
đất đai như sau: “Giải quyết tranh chấp đất đai là một nội dung quản lý Nhà
nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
nhằm giải quyết các tranh chấp bất đồng, mâu thuẩn trong nội bộ nhân dân,
giữa nhân dân với tổ chức và giữa các tổ chức sử dụng đất với nhau để qua
đó phục hồi các quyền và lợi ích vị xâm phậm đồng thời truy cứu trách nhiệm
pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai”.
1.1.6. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
Luật đất đai cũng như các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt

nguyên tắc này, hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai đã thể hiện được tư
tưởng đổi mới trong quá trình Nhà Nước điều hành các quan hệ xã hội về đất
đai. Xét cả mặt lý luận và thực tiển, lợi ích bao giờ cũng là vấn đề cốt lõi
trong hầu hết các quan hệ xã hội và đất đai là một trong những lợi ích quan
trọng nhất của mọi tầng lớp. Nếu lợi ích của người sử dụng đất không được
đảm bảo thì việc sử dụng đất không thể đạt được hiệu quả mong muốn, đây là
giải pháp thuyết phục khi giải quyết các tranh chấp đất đai. Để bảo vệ một
cách tốt nhất những lợi ích thiết thân đó, trước hết các bên tranh chấp phải
gặp nhau để bàn bạc, thảo luận và thương lượng. Đó cũng là cơ sở quan trọng
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
23
đảm bảo quyền tự định đoạt cho các đương sự. Cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai chỉ thụ lý đơn khi các bên đã tiến hành
qua thủ tục này mà không đạt được sự nhất trí cần thiết.
Thứ ba, nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn
định tình hình kinh tế - xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc
tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa;
Thực hiện tốt nguyên tắc này trong quá trình giải quyết tranh chấp đất
đai sẽ tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá
trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Đây là vấn đề cần phải làm trong quá trình giải quyết tranh
chấp đất đai. Bởi mục đích của việc giải quyết tranh chấp đất đai là tìm ra giải
pháp đúng đắn trên cơ sở pháp lý.
Vậy nên, khi giải quyết tranh chấp đất đai cần phải thực hiện triệt để
những nguyên tắc trên để đảm bảo công tác giải quyết một cách đúng đắn
theo quy định của pháp luật.
1.1.7. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Kế thừa những quy định của Luật đất đai năm 1993, tại kỳ họp thứ tư
Quốc Hội khóa XI, trước khi thông qua toàn văn Luật đất đai năm 2003, vấn
đề phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai giữa co quan hành

TAND chỉ bao gồm các việc tranh chấp về QSDĐ mà NSDĐ đã có giấy
chứng nhận QSDĐ theo Luật đất đai năm 1993 với mẫu giấy chứng nhận do
Tổng cục địa chính phát hành và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất.
Như vậy, từ những quy định của các văn bản pháp luật trên, mọi trường
hợp có tranh chấp của các bên đương sự dù là tranh chấp về QSDĐ hay tài
sản gắn liền với đất, nếu có giấy chứng nhận QSDĐ thì đều do TAND thụ lý
giải quyết. Cho đến khi Luật đất đai năm 2003 chính thức ban hành thì thẩm
quyền giải quyết tranh chấp đất đai được quy định chặt chẽ hơn theo hướng
mở rộng thẩm quyền cho TAND để dần dần chấm dứt tình trạng cơ quan hành
chính làm thay cả việc cơ quan tài phán. Tại điều 136, 137 Luật đất đai 2003
SVTH: Nguyễn Thị Hồng Luyến
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status