Giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH


CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH Ở
TỈNH QUẢNG NGÃI HIỆN NAY ...................................................................66
3.1. Phương hướng tăng cường giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành
chính ở tỉnh Quảng Ngãi ......................................................................................66
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ
tục hành chính ở tỉnh Quảng Ngãi .......................................................................68
KẾT LUẬN .........................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TCĐĐ

:

Tranh chấp đất đai

TAND

:

Tòa án nhân dân

HTX

:

Hợp tác xã


lĩnh vực đất đai cũng có những điểm khác nhau, phù hợp với tình hình lịch sử,
chính trị của đất nước. Tuy nhiên, việc thay đổi chính sách, pháp luật về quản lý
đất đai, cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa đã kéo theo sự gia tăng về số lượng và sự phức tạp về tính chất của các vụ
tranh chấp đất đai, nhất là ở những vùng đô thị hóa nhanh. Điều này xuất phát từ
nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân
từ sự sai sót trong công tác quản lý đất đai dẫn đến khó khăn trong giải quyết.
Nhận thức được điều đó, trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành
các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong lĩnh
vực đất đai. Sự ra đời của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp
luật khác đã khắc phục, giải quyết được những tồn tại, hạn chế phát sinh trong
lĩnh vực quản lý đất đai. Tuy nhiên, đất đai là lĩnh vực phức tạp, có nhiều vấn đề
do lịch sử để lại. Trong khi đó, chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn còn
nhiều quy định chung chung, chưa thống nhất; việc giải thích, hướng dẫn của các
cơ quan có thẩm quyền cũng chưa đầy đủ, kịp thời. Do đó, trong những năm vừa
qua, tình hình giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền vẫn để xảy ra tình trạng chậm trễ, kéo dài, có vụ việc cấp dưới “phớt lờ” ý
kiến chỉ đạo của cấp trên gây nên bức xúc và ảnh hưởng đến niềm tin của người
dân đối với đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính ở tỉnh
Quảng Ngãi từ khi Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực đã có nhiều chuyển biến
tích cực, giải quyết được số lượng lớn đơn yêu cầu, khiếu nại về tranh chấp đất

1


đai; khắc phục phần nào những sai sót trong công tác quản lý đất đai trước đây.
Cũng như nhiều địa phương khác trên toàn quốc, tỉnh Quảng Ngãi còn gặp nhiều
khó khăn trong giải quyết tranh chấp đất đai xuất phát từ những nguyên nhân
phổ biến và những nguyên nhân mang tính đặc thù của tỉnh Quảng Ngãi, dẫn đến

chấp đất đai bằng Tòa án, qua đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thanh Thủy, Khoa Luật – Trường Đại
học quốc gia Hà Nội, Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ
quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Trì – Hà Nội, năm 2009.
Đề tài đã nghiên cứu những vẫn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết
tranh chấp đất đai thông qua các cơ quan hành chính nhà nước trong giai đoạn áp
dụng Luật đất đai năm 2003. Đánh giá thực trạng pháp luật đất đai thông qua
việc tìm hiểu, phân tích thực trạng áp dụng trên địa bàn huyện Thanh Trì- Hà
Nội, qua đó đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Văn Hoàng, Học viện Khoa học
xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Pháp luật hòa giải trong giải
quyết tranh chấp đất đai từ thực tiễn huyện Chương Mỹ, năm 2017. Đề tài đã
nghiên cứu những vấn đề chung về thủ tục hòa giải và pháp luật về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính. Đánh giá thực trạng
quy định Luật đất đai năm 2013 về hòa giải trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp
dụng tại huyện Chương Mỹ. Từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật và nâng cao chất lượng hòa giải nói và công tác giải quyết tranh
chấp đất đai.
Bên cạnh đó có những bài viết nghiên cứu về tranh chấp đất đai và giải
quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính trên các tạp chí như: Nguyễn
Thắng Lợi (2014), Giải pháp nâng cao hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp
hành chính trong lĩnh vực đất đai, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng
4/2014; Nguyễn Thắng Lợi (2013), Một số giải pháp đổi mới mô hình giải quyết
tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số

3




4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ
tục hành chính tại Quảng Ngãi; những quy định pháp luật hiện hành về giải
quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính. Luận văn không tập trung
nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp đất đai tại
Tòa án.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Tỉnh Quảng Ngãi
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2014 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử và cách tiếp cận hệ thống.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích và tổng hợp, diễn giải, quy nạp, các nhóm phương pháp thống kê, so
sánh, đối chiếu.
Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải,
quy nạp để đưa ra các khái niệm; nhận diện những đặc điểm và vai trò của công
tác giải quyết tranh chấp đất đai, đồng thời phân tích cụ thể nhằm có nền tảng lý
luận để nghiên cứu chương 2.
Chương 2: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp,
đối chiếu, so sánh, thống kê... nhằm phân tích các quy định của pháp luật, phân tích
thực trạng để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trên cơ sở quy định của pháp
luật.
Chương 3: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
trong chương này với mục đích tham khảo quan điểm ở nhiều địa phương khác


1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Quyền sử dụng đất
Đất đai là một bộ phận quan trọng và mang tính lãnh thổ, chủ quyền quốc
gia và có ý nghĩa đối với việc tồn tại, duy trì một ranh giới quyền lực nhà nước
trong một cộng đồng dân cư nhất định. Đối với con người, đất đai là một tài
nguyên vô tận và là tư liệu sản xuất phục vụ cho cuộc sống. Chính bởi vậy pháp
luật quốc tế và Việt Nam luôn chú trọng công tác quản lý và sử dụng đất đai.
Hiến pháp năm 2013, Điều 53 quy định về quyền sử dụng đất: “Đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”
và khoản 2 Điều 54: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất,
công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng
đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất
được pháp luật bảo hộ.”
Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 4 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao
quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Theo
đó, với vai trò chủ sở hữu đại diện, Nhà nước có quyền định đoạt đất đai thông
qua các quyền: quyền quyết định mục đích, thời hạn, hạn mức sử dụng đất;
quyền phân bổ đất đai thông như giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng

7


đất; thực hiện quản lí nhà nước ở về phương diện hành chính và kinh tế thông
qua việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất, điều chỉnh
các thu nhập đối với người sử dụng đất và quyền giải quyết các tranh chấp, bất
đồng, các khiếu nại về đất đai.

đai” cho đến nay Luật đất đai năm 2013 cũng giữ nguyên quan điểm lập pháp
này tại khoản 24 Điều 3 như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền,
nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Tiếp đó, “Quan hệ đất đai” được hiểu là quan hệ giữa người với người
trong việc sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai [20], trong đó có cả các chủ thể là
cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai. Với cách hiểu bao hàm các chủ thể cơ
quan quản lý Nhà nước về đất đai, dễ dẫn đến việc quan hệ đất đai bao gồm
tranh chấp giữa một bên là công dân và một bên là Nhà nước. Theo chúng tôi,
cách hiểu này là không đúng vì xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai,
việc công dân không đồng ý với việc giao đất của Nhà nước đối với các cơ quan
nhà nước thì không tồn tại quan hệ tranh chấp giữa công dân và cơ quan nhà
nước đó.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: tranh chấp đất đai là sự xung đột về
lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong
quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
1.1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính
Giải quyết tranh chấp đất đai
Thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” đã được đề cập trong nội dung
của Luật đất đai từ năm 1987 đến nay, tuy nhiên cũng chưa được giải thích rõ.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giải quyết tranh chấp đất đai là
giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức trên cơ sở đó
phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm
pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.” [21].
Như vậy, giải quyết TCĐĐ được hiểu là: một cách thức của con người với
mục đích giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể liên quan đến
việc quản lý và sử dụng đất.

9





chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các loại giấy tờ khác chứng minh quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành
chính
Hoạt động giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính có những đặc điểm
nổi bật sau:
Thứ nhất, là những tranh chấp mang tính chất hành chính.
Theo pháp luật hiện hành, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất
không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại
giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh. Về
bản chất, tranh chấp này xảy ra với mục đích xác định chủ sở hữu quyền sử dụng
đất hợp pháp, do đó trong phạm vi công tác của mình thì cơ quan hành hành
chính nhà nước (cơ quan quản lý đất đai) có khả năng và thẩm quyền trả lời đúng
đắn nhất. Cơ quan hành chính nhà nước với trách nhiệm được phân công là cơ
quan quản lý đất đai, có đầy đủ thông tin, số liệu về đất đai cũng như nguồn gốc,
hiện trạng sử dụng đất nên có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để thực hiện tốt chức
năng giải quyết tranh chấp này.
Thứ hai, về chủ thể thực hiện giải quyết tranh chấp
Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính
nhà nước sẽ do đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước làm nhiệm vụ quản lý đất
đai thực hiện. Điểm này là đặc trưng của công tác giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục
hành chính, so với thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án với sự tham gia của
Hội đồng xét xử, đại diện Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác.
Theo đó, việc giải quyết tranh chấp là sự phối hợp giải quyết giữa các cơ
quan chuyên môn ở cấp huyện, cấp xã; giữa những chủ thể là cán bộ, công chức
được phân công nhiệm vụ quản lý đất đai và những công tác khác có liên quan
đến công tác quản lý đất đai đối với vụ việc đang tranh chấp (tư pháp, tài nguyên

Kể từ sau khi Luật Đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực pháp luật,
công tác giải quyết TCĐĐ trên thực tế đã có nhiều chuyển biến, và bộc lộ một số

12


ưu điểm. Trong nội dung Luận văn, chúng tôi đưa ra một số vai trò của hoạt
động giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính như sau:
Thứ nhất, đảm bảo sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội.
Về mặt kinh tế, đất đai giữ vai trò cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện
quá trình lao động (xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, công trình công nghiệp,….);
là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Trong các
ngành nông-lâm nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều
kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự
tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, đào xới....) và công cụ hay phương
tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi...).
Về mặt xã hội, quá trình phát triển của xã hội loài người từ thuở sơ khai
cho đến nay đều gắn liền với quá trình sử dụng đất đai trong chăn nuôi, sản xuất
cho đến sự phát triển khoa học – công nghệ dưới “nền móng” là đất đai. Kinh tế
xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã tạo nên sự căng thẳng
giữa con người với con người về ý chí sở hữu đất đai. Các cá nhân, tổ chức đã
không còn xem đất đai chỉ là nơi sinh sống, mà giờ đây đó còn là sự khẳng định
vị thế kinh tế, đem lợi lợi ích vô hình cho chủ thể sở hữu. Ở quy mô một quốc
gia, đất đai rộng lớn cùng với sự đa dạng về tài nguyên, địa thế thuận lợi đã trở
thành thế mạnh về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng cho một quốc gia và là
yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh
vật khác trên trái đất.
Chính từ mối quan hệ mật thiết giữa đất đai với tình hình kinh tế, xã hội
có thể đánh giá rằng việc giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính cũng như
các hình thức giải quyết khác đều có vai trò quan trọng trong sự ổn định về tình

sử dụng đất hợp pháp lại thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước về đất
đai chứ không phải trách nhiệm của ngành Tòa án. Vì vậy nếu chuyển giao toàn
bộ các tranh chấp đất đai cho cơ quan Tòa án thực hiện thì đối với các tranh chấp
về quyền sử dụng đất hợp pháp Tòa án không thể xác định việc này mà lại phải
chuyển giao vụ việc cho cơ quan quản lý nhà nước về đất đai xác định và chờ
đợi câu trả lời của các cơ quan này. Trên cơ sở đó, Tòa án mới tiếp tục thụ lý

14


xem xét giải quyết. Việc làm này mất rất nhiều thời gian trong khi đó tranh chấp
đất đai đòi hỏi cần phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm nếu để kéo dài sẽ phát
sinh nhiều hệ quả tiêu cực gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, xã
hội. Do đó, giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính góp phần bảo đảm chất
lượng giải quyết các TCĐĐ thuộc phạm vi của mình cũng như của Tòa án theo
trình tự, thủ tục tố tụng.
1.2. Thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, nội dung và phạm vi giải quyết
tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính
1.2.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
Đây là hệ thống các quan điểm, tư tưởng của Nhà nước được xem xét và
làm cơ sở quan trọng trong quá trình giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp đất
đai nói chung và bằng thủ tục hành chính nói riêng phải tuân theo một số nguyên
tắc cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu. Có thể hiểu đất đai không thuộc quyền sở hữu riêng của một tổ
chức hay cá nhân nào. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu. Việc sử dụng đất của các chủ thể sử dụng đất phải đảm bảo đúng quy
hoạch, kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi
trường. Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản và xuyên suốt được quy định trong
Hiến pháp và pháp luật về đất đai thể hiện ý chí của Nhà nước trong quá trình

phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp; bảo vệ các giao dịch đã thiết lập
theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng truyền thống, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; tôn trọng tự do ý chí, tự do thỏa
thuận, thiện chí, trung thực và nguyên tắc pháp chế; thông qua hoạt động xét xử
loại việc này giáo dục pháp luật cho các đương sự và những người khác; thực
hiện nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam.
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Theo Luật Đất đai năm 2013 thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp đất đai gồm có cơ quan hành chính là UBND và cơ quan tư
pháp là Tòa án nhân dân. Tuy nhiên trước khi UBND hoặc Tòa án nhân dân giải

16


thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai thì tranh chấp đất đai đó phải qua thủ tục hòa
giải ở cơ sở, nếu hòa giải không thành thì đương sự mới có quyền tiến hành thủ
tục giải quyết tranh chấp đất đai tiếp theo là UBND hay Tòa án nhân dân.
Ở nước ta, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu tiên được quy
định theo ngành, theo cấp tại quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội
đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác
quản lý ruộng đất trong cả nước (Phần VII của quyết định số 201/CP ngày
01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng
cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước ). Theo đó, cơ quan hành pháp
có thẩm quyền giải quyết các trường hợp tranh chấp sau khi đã có ý kiến của cơ
quan quản lý ruộng đất cùng cấp và cơ quan chủ quản. Đối với những tranh chấp
đất đai giữa cơ quan nhà nước, tổ chức với nhau thì UBND cấp huyện có thẩm
quyền giải quyết, nếu tranh chấp trong phạm vi cùng huyện. Nếu các bên đương
sự thấy chưa được giải quyết thỏa đáng thì có quyền đưa lên UBND cấp tỉnh
xem xét và giải quyết; UBND hai huyện cùng giải quyết nếu tranh chấp mà
ruộng đất nằm trong hai huyện. Nếu hai huyện không nhất trí được với nhau thì

nếu không đạt được nhất trí thì giải quyết theo quy định của Hiến pháp 1980.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 38, Luật Đất đai 1993, UBND có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất
không có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể như sau:
UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh chấp giữa
cá nhân, hộ gia đình với nhau, giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức, giữa tổ chức
với tổ chức, nếu các tổ chức đó thuộc thẩm quyền quản lý của mình. UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương giải quyết các tranh chấp giữa các tổ chức với
tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân, nếu tổ chức đó thuộc quyền quản
lý của mình hoặc của trung ương. Trong trường hợp không đồng ý với quyết
định của UBND đã giải quyết tranh chấp, đương sự có quyền khiếu nại lên cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên. Quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên
trực tiếp có hiệu lực thi hành. Điều 39 Luật này quy định các tranh chấp về
quyền sử dụng đất có liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính, do

18


UBND các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết. Trong trường hợp không đạt
được sự nhất trí hoặc tự giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính, thì thẩm
quyền do Chính phủ quyết định nếu việc tranh chấp liên quan đến địa giới của
đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, do Quốc hội quyết định nếu việc tranh chấp liên
quan đến địa giới của đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương.
Theo Luật Đất đai năm 2013, tại Khoản 2 và khoản 3 Điều 203 quy định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của UBND khác với Luật Đất đai năm
2003. Nếu như về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của UBND theo Luật
Đất đai năm 2003 thì UBND bắt buộc phải có trách nhiệm phải giải quyết một số
trường hợp về tranh chấp đất đai, tuy nhiên kể từ ngày 01/7/2014 UBND không
phải bắt buộc là cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp đất đai nữa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status