VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ KIM PHƯỢNG
KIỂM SOÁT VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Đà Nẵng, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ KIM PHƯỢNG
KIỂM SOÁT VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM
Ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TUẤN KHANH
Đà Nẵng, năm 2019
bàn tỉnh ............................................................................................................ 34
2.3. Đánh giá chung về thực trạng kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục
hành chính trên địa bàn tỉnh ............................................................................ 39
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ KIỂM SOÁT VIỆC TỔ CHỨC THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH ........................................................................................................... 49
3.1. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát việc tổ chức
thực hiện thủ tục hành chính ........................................................................... 49
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát việc tổ chức thực
hiện thủ tục hành chính ................................................................................... 53
KẾT LUẬN .................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách thủ tục hành chính là một nội dung quan trọng trong tổng thể
cải cách nền hành chính. Tuy nhiên, cải cách thủ tục hành chính lại được đặt
ra trước cải cách hành chính, được xem như là khâu đột phá của cải cách hành
chính với ba lý do chính: (1) Cải cách thủ tục hành chính là một nội dung của
cải cách hành chính, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa
nhà nước và công dân, đồng thời là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người
dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội
nhập kinh tế. (2) Trong điều kiện nguồn lực còn nhiều khó khăn nên chưa thể
cùng một lúc thực hiện được nhiều nội dung cải cách như: cải cách tài chính
công, cải cách tiền lương, cải cách tổ chức bộ máy, …(3) Thông qua cải cách
thủ tục hành chính, chúng ta có thể xác định căn bản các công việc của cơ
quan nhà nước với người dân, doanh nghiệp; qua đó chúng ta có thể xây dựng
bộ máy phù hợp và từ đó có thể lựa chọn đội ngũ cán bộ, công chức hợp lý,
đáp ứng được yêu cầu công việc. Như vậy, có thể coi cải cách thủ tục hành
chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp
dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp có nhiều kết quả tích cực. Chất
lượng giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức tại Trung tâm
Hành chính công tỉnh và tại các cơ quan, đơn vị có nhiều tiến bộ, đáp ứng
được yêu cầu của cá nhân, tổ chức đến giao dịch. Tuy nhiên, hoạt động kiểm
soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh vẫn còn tồn tại một số hạn chế như:
Việc công bố, niêm yết công khai thủ tục hành chính có lúc chưa đầy đủ, kịp
thời; hệ thống cán bộ, công chức làm nhiệm vụ đầu mối kiểm soát thủ tục
hành chính tại một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa đảm bảo kinh nghiệm
và năng lực; bên cạnh đó, do thực hiện theo chế độ kiêm nhiệm, thường
2
xuyên thay đổi nên chất lượng, hiệu quả chưa cao; việc phát hiện các vướng
mắc, bất cập về thủ tục hành chính để chủ động xây dựng Kế hoạch rà soát
thủ tục hành chính hằng năm của các Sở, Ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp
huyện còn chậm, chất lượng đạt được chưa cao; vẫn còn xảy ra tình trạng
chưa kiểm soát chặt chẽ quá trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ và trả kết quả, chưa
tuân thủ đầy đủ các quy định về quy trình, thời hạn giải quyết thủ tục hành
chính; chưa huy động được đông đảo sự tham gia của người dân vào công tác
kiểm soát thủ tục hành chính thông qua kênh phản ánh, kiến nghị; vai trò của
người dân trong việc góp ý, hiến kế và giám sát các quy định hành chính và
thực hiện quy định hành chính chưa được phát huy cao; số lượng thủ tục hành
chính được triển khai thực hiện trực tuyến còn hạn chế và chưa thực chất,
chưa thực sự mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp như kỳ vọng…
Nhằm đưa ra một số giải pháp phù hợp tiếp tục nâng cao chất lượng cải
cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh nói riêng và đối với cả nước nói
chung, nêu trên, Học viên chọn đề tài: "Kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ
tục hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
- Nguyễn Đăng Thành (2010), WTO với vai trò thúc đẩy cải cách hành
chính ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước số 168, 01/2010.
- Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Hồng Diễm (đồng chủ biên), Lực cản và
động lực cải cách hành chính ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Tổng
hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2008.
- Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (đồng chủ biên), Đổi mới cung ứng dịch
vụ công ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, năm 2006.
- Nguyễn Văn Cường (2010), Bài học kinh nghiệm từ quá trình cải cách
hành chính tại Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (175).
Và còn một số đề tài, công trình khác nghiên cứu về vấn đề này.
Qua nghiên cứu, tham khảo các sách, đề tài, bài viết nêu trên cho thấy
hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính đã được các tác giả đề cập nghiên
4
cứu, phản ánh trên nhiều góc độ và thời gian khác nhau. Vẫn còn nhiều vấn
đề về thực trạng công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong thời gian gần
đây chưa được đề cập, nghiên cứu, đánh giá và kiến nghị một cách đầy đủ,
thấu đáo, đặc biệt là hoạt động kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục
hành chính.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tế, luận văn đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành
chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành
và vì Nhân dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quan sát.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Từ việc nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu, luận văn làm rõ một số
vấn đề lý luận về kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính với tư
cách là một hoạt động khoa học pháp lý và khoa học hành chính; đưa ra một
số nhận xét đánh giá về hoạt động này đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần nâng cao chất lượng công tác cải cách thủ tục hành chính trên
địa bàn tỉnh; Tăng cường chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm soát việc tổ
6
chức thực hiện thủ tục hành chính. Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa đối với
đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát thủ tục hành chính, giúp hiểu đầy đủ,
sâu sắc về bản chất nghiệp vụ của hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và
cải cách thủ tục hành chính.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm soát việc tổ chức
thực hiện thủ tục hành chính.
Chương 2: Thực trạng kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành
chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát
8
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày
08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (đã được sửa đổi,
bổ sung; sau đây gọi tắt là Nghị định số 63/2010/NĐ-CP): “Thủ tục hành
chính là trình tự, cách thực thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể
liên quan đến cá nhân, tổ chức”. Thủ tục hành chính được quy định để các cơ
quan nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước. Thủ tục hành
chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Thông qua thủ
tục hành chính, các cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của
mình, đồng thời các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản
lý nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm thủ tục hành chính
Thứ nhất, thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục, là
cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình. Hệ
thống quy phạm thủ tục hành chính là toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về
trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc
giải quyết công việc nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính đối với các
cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân. Đó cũng chính là hệ thống các
nguyên tắc quản lý và điều hành bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các
cán bộ, công chức phải tuân theo trong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền
của mình. Thủ tục hành chính có chức năng làm cho các quy phạm nội dung
của luật pháp được thực hiện thuận lợi. Thiếu thủ tục hành chính, việc thực thi
luật pháp sẽ gặp khó khăn, thậm chí không có khả năng đi vào đời sống thực
tế. Ví dụ như: Nhà nước muốn thu thuế thì cần có thủ tục để người dân thực
hiện việc nộp thuế… Hoạt động quản lý chủ yếu là hoạt động áp dụng pháp
sang hành chính phục vụ đã tác động mạnh mẽ vào hoạt động cải cách thủ tục
hành chính;
10
+ Thực hiện chủ yếu ở công sở nhà nước, gắn liền với công tác văn thư
và tổ chức ban hành, quản lý văn bản, giấy tờ;
+ Do chủ thể cơ quan hành chính nhà nước xây dựng để giải quyết công
việc nên phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể ban hành.
+ Trong bối cảnh của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay,
các thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài cần phải phù hợp với thông lệ
quốc tế.
Thứ tư, thủ tục hành chính có tính năng động hơn so với các quy phạm
nội dung, đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng và phù hợp với nhu
cầu thực tế của đời sống xã hội. Đây chính là yếu tố cần nhận thức đúng đắn
để xây dựng và ban hành các quy định thủ tục hành chính phù hợp với thực tế
khách quan và tiến trình phát triển kinh tế xã hội.
1.1.3. Vai trò của thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính với tư cách là bộ phận của thể chế hành chính ngày
càng có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Thủ
tục hành chính quy định cách thức tiến hành các hoạt động quản lý hành
chính nên chúng tạo ra cơ sở và điều kiện cần thiết để các cơ quan quản lý
nhà nước giải quyết các công việc của tổ chức, cá nhân theo luật định, đảm
bảo quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nếu không có thủ tục hành
chính thì mọi chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước ban hành sẽ khó
được thực thi. Có thể nói thủ tục hành chính là công cụ và phương tiện để đưa
pháp luật vào đời sống.
Vai trò của thủ tục hành chính đươc biểu hiện qua những khía cạnh cơ
bản sau:
quan nhà nước có thẩm quyền do pháp luật quy định mới được ban hành thủ
tục hành chính.
Theo Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP quy định:
“1. Thủ tục hành chính phải được quy định trong văn bản quy phạm
12
pháp luật theo đúng thẩm quyền được quy định tại Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật.
2. Việc quy định một thủ tục hành chính chỉ hoàn thành khi đáp ứng đầy
đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây:
a) Tên thủ tục hành chính;
b) Trình tự thực hiện;
c) Cách thức thực hiện;
d) Thành phần, số lượng hồ sơ;
đ) Thời hạn giải quyết;
e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính;
g) Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính;
h) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành
chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí thì
mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu
cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính”.
Đồng thời, Khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
nghiêm cấm việc quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch
giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính”.
Đồng thời, căn cứ vào nội hàm của “kiểm soát” được hiểu là việc xem xét để
phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định (Từ điển Tiếng Việt của Viện
ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành)
Như vậy, quan niệm chung nhất: Kiểm soát thủ tục hành chính được hiểu
là việc thực hiện các hoạt động của cơ quan nhà nước để theo dõi, phát hiện
14
ngăn ngừa các sai phạm trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện thủ
tục hành chính nhằm bảo đảm tính khả thi, công khai và minh bạch đáp ứng
sự phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Từ quan niệm về kiểm soát thủ tục hành chính như nêu trên và thực tiễn
thực hiện nhiệm vụ này cho thấy, kiểm soát thủ tục hành chính là một quy
trình chặt chẽ, toàn diện bắt đầu từ kiểm soát quy định về thủ tục hành chính
trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đến tổ chức, thực hiện thủ
tục hành chính này trên thực tế, trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
- Kiểm soát quy định thủ tục hành chính:
+ Thực hiện đánh giá tác động trong dự thảo các văn bản quy phạm pháp
luật trên cơ sở các tiêu chí về sự cần thiết, tính hợp lý, hợp pháp và tính hiệu quả;
+ Tham gia ý kiến về quy định thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật;
+ Thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở xem
xét, đánh giá cụ thể về quy định thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật.
- Kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính:
+ Công bố thủ tục hành chính;
+ Công khai thủ tục hành chính;
+ Giải quyết thủ tục hành chính và theo dõi, đôn đốc giải quyết thủ tục
ương thực hiện quản lý nhà nước về công tác kiểm soát thủ tục hành chính tại
địa phương.
- Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu, giúp Chánh
văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức
thực hiện công tác kiểm soát thủ tục hành chính.
- Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quy định cụ thể chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Kiểm soát thủ tục hành
16
chính; chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của Phòng Kiểm soát thủ tục
hành chính thuộc Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ và Văn phòng Ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương .
- Cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.
- Cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính.
1.2.3. Nội dung kiểm soát việc tổ chức thực hiện thủ tục hành chính
- Công bố thủ tục hành chính:
Công bố thủ tục hành chính để đảm bảo thực hiện đầy đủ, chính xác,
đồng bộ, thống nhất, minh bạch và kịp thời các quy định thủ tục hành chính,
tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhân dân kiểm tra,
giám sát việc giải quyết thủ tục hành chính.
Thủ tục hành chính phải được công bố dưới hình thức quyết định của Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và
của người đứng đầu cơ quan, đơn vị được cơ quan nhà nước cấp trên giao
nhiệm vụ hoặc ủy quyền ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện thủ tục giải
quyết công việc cho cá nhân, tổ chức. Thủ tục hành chính được công bố phải
đúng thẩm quyền, theo quy trình chặt chẽ đảm bảo độ tin cậy, chính xác, đầy
Quyết định công bố thủ tục hành chính của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang bộ phải được ban hành chậm nhất trước 20 (hai mươi) ngày tính
đến ngày văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính có
hiệu lực thi hành; chậm nhất sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban
hành văn bản quy phạm pháp luật (đối với văn bản quy phạm pháp luật có
hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành).
Đối với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực kể từ ngày thông qua
hoặc ký ban hành, quy trình công bố như sau: Các cơ quan, đơn vị chức năng
thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật dự
thảo Quyết định công bố ngay trong quá trình dự thảo văn bản quy phạm pháp
18
luật có quy định thủ tục hành chính. Sau khi văn bản quy phạm pháp luật
được thông qua hoặc ký ban hành, cơ quan, đơn vị dự thảo quyết định công
bố gửi Tờ trình và dự thảo quyết định công bố đến Văn phòng Bộ, cơ quan
ngang bộ.
Đối với Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương: Trên cơ sở Quyết định công bố của bộ, cơ quan ngang bộ
(đã được gửi theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Thông tư này), cơ quan chuyên
môn về ngành, lĩnh vực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng Tờ trình,
dự thảo Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính và gửi đến Văn
phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Phòng Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh chịu trách nhiệm giúp Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
kiểm soát về hình thức, nội dung Quyết định công bố sau khi nhận được hồ sơ
trình ban hành Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính. Trường hợp
dự thảo Quyết định công bố đáp ứng đủ điều kiện về nội dung và hình thức,
sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính và tích hợp dữ liệu để công khai
trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh theo quy định.
Cơ quan, đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan trực thuộc Bảo
hiểm xã hội Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển
Việt Nam có nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho
cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện công khai kịp thời, đầy đủ các thủ
tục hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết.
Các cơ quan, đơn vị có nhiệm vụ trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục
hành chính tại địa phương phải thực hiện công khai kịp thời, đầy đủ thủ tục
hành chính thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết.
Cơ quan, tổ chức được cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm
quyền ủy quyền thực hiện dịch vụ công công khai đầy đủ các thủ tục hành
20
chính được ủy quyền.
Việc công khai thủ tục hành chính phải được tổ chức thực hiện kịp thời,
đảm bảo thủ tục hành chính được công khai đúng ngày Quyết định công bố có
hiệu lực thi hành; không công khai các thủ tục hành chính đã hết hiệu lực thi
hành. Việc công khai thủ tục hành chính phải bảo đảm chính xác, rõ ràng, đầy
đủ các thủ tục hành chính và bộ phận tạo thành thủ tục hành chính theo Quyết
định công bố và dữ liệu được kết xuất từ Cơ sở dữ liệu quốc gia đối với thủ
tục hành chính trong Quyết định công bố danh mục thủ tục hành chính; tạo
thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, tìm hiểu và thực hiện thủ tục
hành chính; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời
có cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền giám sát quá trình tiếp nhận, giải quyết
thủ tục hành chính của cán bộ, công chức nhà nước. Trong trường hợp các thủ
tục hành chính được công khai có mẫu đơn, mẫu tờ khai thì các mẫu đơn, mẫu
tờ khai phải được đính kèm ngay sau thủ tục hành chính; bản giấy thủ tục