Giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh quảng ngãi - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN THANH

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN TỈNH
QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ THỊ KIM ĐỊNH


CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH



TỈNH QUẢNG NGÃI HIỆN NAY................................................................... 66
3.1. Phương hướng tăng cường giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành
chính ở tỉnh Quảng Ngãi..................................................................................... 66
3.2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ
tục hành chính ở tỉnh Quảng Ngãi....................................................................... 68
KẾT LUẬN........................................................................................................ 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TCĐĐ
TAND
HTX
UBND


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
2.1

Lượng đơn giải quyết t
01/2015 đến 11/2017




đai; khắc phục phần nào những sai sót trong công tác quản lý đất đai trước đây.
Cũng như nhiều địa phương khác trên toàn quốc, tỉnh Quảng Ngãi còn gặp nhiều
khó khăn trong giải quyết tranh chấp đất đai xuất phát từ những nguyên nhân
phổ biến và những nguyên nhân mang tính đặc thù của tỉnh Quảng Ngãi, dẫn đến
chất lượng công tác này chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp đất
đai bằng thủ tục hành chính từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài luận văn
thạc sĩ ngành Luật hiến pháp và luật hành chính, với mục đích nghiên cứu những
giải pháp hữu hiệu để tăng cường quản lý nhà nước cả về phương diện pháp lý
lẫn thực tiễn ở lĩnh vực đất đai của tỉnh Quảng Ngãi.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về đất đai nói
chung và giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng đã có nhiều công trình nghiên
cứu ở các khía cạnh khác nhau như:
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hảo, Khoa Luật - Trường Đại
học quốc gia Hà Nội, Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, năm 2014.
Đề tài đã nghiên cứu, làm rõ về mặt lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai; nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hòa giải trong giải
quyết tranh chấp đất đai trong sự so sánh với quy định của pháp luật các nước
khác và quốc tế. Nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp đất đai bằng con
đường hòa giải trên nhiều địa phương khác nhau. Luận văn chủ yếu tập trung
nghiên cứu quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai của Việt
Nam, không đi sâu vào việc nghiên cứu tổng quan các quy định của pháp luật
trong việc giải quyết tranh chấp đất đai.
Luận văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hải Thanh, Học viện Khoa
học xã hội – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Giải quyết tranh chấp đất
đai bằng Tòa án từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, năm 2016. Đề
tài nghiên cứu lý luận chung về giải quyết tranh chấp và giải quyết tranh chấp


tranh chấp hành chính trong lĩnh vực đất đai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số

3


10/2013; Nguyễn Thắng Lợi (2013), Đổi mới cơ chế giải quyết tranh chấp hành
chính trong lĩnh vực đất đai ở nước ta hiện nay, Báo điện tử Bộ tư pháp.
Hầu hết các công trình nghiên cứu trong thời gian qua đã đã nghiên cứu
những khía cạnh khác nhau về pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp đất
đai thông qua thủ tục hành chính và Tòa án, đề ra những giải pháp, kiến nghị hay
mà thực tiễn áp dụng cần xem xét. Tuy nhiên, trong khả năng tiếp cận thông tin
nghiên cứu của tác giả, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quan về giải
quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính. Do vậy, trong quá trình nghiên
cứu đề tài Luận văn của mình, tác giả sẽ có sự tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các
kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở để nghiên cứu đề tài của mình.
3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết đất
đai bằng thủ tục hành chính nói chung và tại tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, từ đó đề
xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giải quyết tranh chấp đất
đai bằng thủ tục hành chính.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, nhiệm vụ đặt ra đối với tác giả của luận
văn như sau:
-

Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vai trò, thẩm quyền, nguyên tắc và

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2014 đến năm 2017.
5.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Phương pháp luận nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử và cách tiếp cận hệ thống.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp
phân tích và tổng hợp, diễn giải, quy nạp, các nhóm phương pháp thống kê, so
sánh, đối chiếu.
Chương 1: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải,
quy nạp để đưa ra các khái niệm; nhận diện những đặc điểm và vai trò của công
tác giải quyết tranh chấp đất đai, đồng thời phân tích cụ thể nhằm có nền tảng lý
luận để nghiên cứu chương 2.
Chương 2: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng
hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê... nhằm phân tích các quy định của pháp luật,
phân tích thực trạng để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trên cơ sở quy
định của pháp luật.
Chương 3: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp
trong chương này với mục đích tham khảo quan điểm ở nhiều địa phương khác

5


nhau và đưa ra những quan điểm cá nhân để có phương hướng, giải pháp phù
hợp.
6.


1.1.1.1. Khái niệm tranh chấp đất đai
Quyền sử dụng đất
Đất đai là một bộ phận quan trọng và mang tính lãnh thổ, chủ quyền quốc
gia và có ý nghĩa đối với việc tồn tại, duy trì một ranh giới quyền lực nhà nước
trong một cộng đồng dân cư nhất định. Đối với con người, đất đai là một tài
nguyên vô tận và là tư liệu sản xuất phục vụ cho cuộc sống. Chính bởi vậy pháp
luật quốc tế và Việt Nam luôn chú trọng công tác quản lý và sử dụng đất đai.
Hiến pháp năm 2013, Điều 53 quy định về quyền sử dụng đất: “Đất đai, tài
nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài
nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý tài sản công
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.”
và khoản 2 Điều 54: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất,
công nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng
đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất
được pháp luật bảo hộ.”
Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 4 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao
quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Theo đó,
với vai trò chủ sở hữu đại diện, Nhà nước có quyền định đoạt đất đai thông qua
các quyền: quyền quyết định mục đích, thời hạn, hạn mức sử dụng đất; quyền
phân bổ đất đai thông như giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng

7


đất; thực hiện quản lí nhà nước ở về phương diện hành chính và kinh tế thông
qua việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với người sử dụng đất, điều chỉnh
các thu nhập đối với người sử dụng đất và quyền giải quyết các tranh chấp, bất
đồng, các khiếu nại về đất đai.
Với các quy định về quyền sở hữu đất đai ghi nhận tại Điều 53, 54 Hiến

này tại khoản 24 Điều 3 như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền,
nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Tiếp đó, “Quan hệ đất đai” được hiểu là quan hệ giữa người với người
trong việc sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai [20], trong đó có cả các chủ thể là
cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai. Với cách hiểu bao hàm các chủ thể cơ
quan quản lý Nhà nước về đất đai, dễ dẫn đến việc quan hệ đất đai bao gồm tranh
chấp giữa một bên là công dân và một bên là Nhà nước. Theo chúng tôi, cách
hiểu này là không đúng vì xuất phát từ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, việc
công dân không đồng ý với việc giao đất của Nhà nước đối với các cơ quan nhà
nước thì không tồn tại quan hệ tranh chấp giữa công dân và cơ quan nhà nước
đó.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: tranh chấp đất đai là sự xung đột về
lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ đất đai trong
quá trình quản lý và sử dụng đất đai.
1.1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành
chính Giải quyết tranh chấp đất đai
Thuật ngữ “giải quyết tranh chấp đất đai” đã được đề cập trong nội dung
của Luật đất đai từ năm 1987 đến nay, tuy nhiên cũng chưa được giải thích rõ.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giải quyết tranh chấp đất đai là
giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức trên cơ sở đó
phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm
pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.” [21].
Như vậy, giải quyết TCĐĐ được hiểu là: một cách thức của con người với
mục đích giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể liên quan đến
việc quản lý và sử dụng đất.

9


Trong thực tế hiện nay có nhiều phương thức khác nhau để giải quyết


chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các loại giấy tờ khác chứng minh quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của giải quyết tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành
chính
Hoạt động giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính có những đặc điểm
nổi bật sau:
Thứ nhất, là những tranh chấp mang tính chất hành chính.
Theo pháp luật hiện hành, tranh chấp về đất đai mà người sử dụng đất
không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại
giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm
2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh. Về
bản chất, tranh chấp này xảy ra với mục đích xác định chủ sở hữu quyền sử dụng
đất hợp pháp, do đó trong phạm vi công tác của mình thì cơ quan hành hành
chính nhà nước (cơ quan quản lý đất đai) có khả năng và thẩm quyền trả lời đúng
đắn nhất. Cơ quan hành chính nhà nước với trách nhiệm được phân công là cơ
quan quản lý đất đai, có đầy đủ thông tin, số liệu về đất đai cũng như nguồn gốc,
hiện trạng sử dụng đất nên có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để thực hiện tốt chức
năng giải quyết tranh chấp này.
Thứ hai, về chủ thể thực hiện giải quyết tranh chấp
Tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính
nhà nước sẽ do đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước làm nhiệm vụ quản lý đất
đai thực hiện. Điểm này là đặc trưng của công tác giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục
hành chính, so với thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án với sự tham gia của
Hội đồng xét xử, đại diện Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng khác.
Theo đó, việc giải quyết tranh chấp là sự phối hợp giải quyết giữa các cơ
quan chuyên môn ở cấp huyện, cấp xã; giữa những chủ thể là cán bộ, công chức
được phân công nhiệm vụ quản lý đất đai và những công tác khác có liên quan
đến công tác quản lý đất đai đối với vụ việc đang tranh chấp (tư pháp, tài nguyên


công tác giải quyết TCĐĐ trên thực tế đã có nhiều chuyển biến, và bộc lộ một số

12


ưu điểm. Trong nội dung Luận văn, chúng tôi đưa ra một số vai trò của hoạt
động giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính như sau:
Thứ nhất, đảm bảo sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội.
Về mặt kinh tế, đất đai giữ vai trò cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện
quá trình lao động (xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, công trình công nghiệp,….);
là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Trong các
ngành nông-lâm nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều
kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự
tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, đào xới....) và công cụ hay phương
tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi...).
Về mặt xã hội, quá trình phát triển của xã hội loài người từ thuở sơ khai
cho đến nay đều gắn liền với quá trình sử dụng đất đai trong chăn nuôi, sản xuất
cho đến sự phát triển khoa học – công nghệ dưới “nền móng” là đất đai. Kinh tế
xã hội phát triển mạnh,cùng với sự tăng dân số nhanh đã tạo nên sự căng thẳng
giữa con người với con người về ý chí sở hữu đất đai. Các cá nhân, tổ chức đã
không còn xem đất đai chỉ là nơi sinh sống, mà giờ đây đó còn là sự khẳng định
vị thế kinh tế, đem lợi lợi ích vô hình cho chủ thể sở hữu. Ở quy mô một quốc
gia, đất đai rộng lớn cùng với sự đa dạng về tài nguyên, địa thế thuận lợi đã trở
thành thế mạnh về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng cho một quốc gia và là
yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật
khác trên trái đất.
Chính từ mối quan hệ mật thiết giữa đất đai với tình hình kinh tế, xã hội
có thể đánh giá rằng việc giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính cũng như
các hình thức giải quyết khác đều có vai trò quan trọng trong sự ổn định về tình
hình kinh tế, chính trị và xã hội trong đất nước.

đai chứ không phải trách nhiệm của ngành Tòa án. Vì vậy nếu chuyển giao toàn
bộ các tranh chấp đất đai cho cơ quan Tòa án thực hiện thì đối với các tranh chấp
về quyền sử dụng đất hợp pháp Tòa án không thể xác định việc này mà lại phải
chuyển giao vụ việc cho cơ quan quản lý nhà nước về đất đai xác định và chờ đợi
câu trả lời của các cơ quan này. Trên cơ sở đó, Tòa án mới tiếp tục thụ lý

14


xem xét giải quyết. Việc làm này mất rất nhiều thời gian trong khi đó tranh chấp
đất đai đòi hỏi cần phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm nếu để kéo dài sẽ phát
sinh nhiều hệ quả tiêu cực gây ảnh hưởng xấu về nhiều mặt: chính trị, kinh tế, xã
hội. Do đó, giải quyết TCĐĐ bằng thủ tục hành chính góp phần bảo đảm chất
lượng giải quyết các TCĐĐ thuộc phạm vi của mình cũng như của Tòa án theo
trình tự, thủ tục tố tụng.
1.2. Thẩm quyền, nguyên tắc, trình tự, nội dung và phạm vi giải quyết
tranh chấp đất đai bằng thủ tục hành chính
1.2.1. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
Đây là hệ thống các quan điểm, tư tưởng của Nhà nước được xem xét và
làm cơ sở quan trọng trong quá trình giải quyết. Việc giải quyết tranh chấp đất
đai nói chung và bằng thủ tục hành chính nói riêng phải tuân theo một số nguyên
tắc cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu. Có thể hiểu đất đai không thuộc quyền sở hữu riêng của một tổ chức
hay cá nhân nào. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu. Việc sử dụng đất của các chủ thể sử dụng đất phải đảm bảo đúng quy hoạch,
kế hoạch, mục đích sử dụng đất, tiết kiệm, có hiệu quả và bảo vệ môi trường.
Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản và xuyên suốt được quy định trong Hiến pháp
và pháp luật về đất đai thể hiện ý chí của Nhà nước trong quá trình quản lý đất
đai. Do vậy, khi giải quyết các TCĐĐ, cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải

theo nguyên tắc tuân thủ pháp luật, tôn trọng truyền thống, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; tôn trọng tự do ý chí, tự do thỏa
thuận, thiện chí, trung thực và nguyên tắc pháp chế; thông qua hoạt động xét xử
loại việc này giáo dục pháp luật cho các đương sự và những người khác; thực
hiện nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam.
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Theo Luật Đất đai năm 2013 thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp đất đai gồm có cơ quan hành chính là UBND và cơ quan tư
pháp là Tòa án nhân dân. Tuy nhiên trước khi UBND hoặc Tòa án nhân dân giải

16


thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai thì tranh chấp đất đai đó phải qua thủ tục hòa
giải ở cơ sở, nếu hòa giải không thành thì đương sự mới có quyền tiến hành thủ
tục giải quyết tranh chấp đất đai tiếp theo là UBND hay Tòa án nhân dân.


nước ta, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai lần đầu tiên được quy

định theo ngành, theo cấp tại quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng
Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý
ruộng đất trong cả nước (Phần VII của quyết định số 201/CP ngày
01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng
cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước ). Theo đó, cơ quan hành pháp
có thẩm quyền giải quyết các trường hợp tranh chấp sau khi đã có ý kiến của cơ
quan quản lý ruộng đất cùng cấp và cơ quan chủ quản. Đối với những tranh chấp
đất đai giữa cơ quan nhà nước, tổ chức với nhau thì UBND cấp huyện có thẩm
quyền giải quyết, nếu tranh chấp trong phạm vi cùng huyện. Nếu các bên đương
sự thấy chưa được giải quyết thỏa đáng thì có quyền đưa lên UBND cấp tỉnh

chính quyền cấp trên trực tiếp có hiệu lực thi hành. Tranh chấp đất đai liên quan
đến địa giới hành chính do UBND các đơn vị hành chính đó phối hợp giải quyết,
nếu không đạt được nhất trí thì giải quyết theo quy định của Hiến pháp 1980.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 38, Luật Đất đai 1993, UBND có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất
không có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể như sau:
UBND quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết các tranh chấp giữa
cá nhân, hộ gia đình với nhau, giữa cá nhân, hộ gia đình với tổ chức, giữa tổ
chức với tổ chức, nếu các tổ chức đó thuộc thẩm quyền quản lý của mình. UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết các tranh chấp giữa các tổ chức
với tổ chức, giữa tổ chức với hộ gia đình, cá nhân, nếu tổ chức đó thuộc quyền
quản lý của mình hoặc của trung ương. Trong trường hợp không đồng ý với
quyết định của UBND đã giải quyết tranh chấp, đương sự có quyền khiếu nại lên
cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. Quyết định của cơ quan nhà nước cấp
trên trực tiếp có hiệu lực thi hành. Điều 39 Luật này quy định các tranh chấp về
quyền sử dụng đất có liên quan đến địa giới giữa các đơn vị hành chính, do

18


UBND các đơn vị đó cùng phối hợp giải quyết. Trong trường hợp không đạt
được sự nhất trí hoặc tự giải quyết làm thay đổi địa giới hành chính, thì thẩm
quyền do Chính phủ quyết định nếu việc tranh chấp liên quan đến địa giới của
đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, do Quốc hội quyết định nếu việc tranh chấp liên
quan đến địa giới của đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương.
Theo Luật Đất đai năm 2013, tại Khoản 2 và khoản 3 Điều 203 quy định
thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của UBND khác với Luật Đất đai năm
2003. Nếu như về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của UBND theo Luật
Đất đai năm 2003 thì UBND bắt buộc phải có trách nhiệm phải giải quyết một số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status