BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ ĐỐI TÁC NHÀ NƯỚC- TƯ NHÂN (PPP)
I. Các khái niệm về mối quan hệ đối tác Nhà nước- Tư nhân
1. Định nghĩa về mối quan hệ Nhà nước Tư nhân
Theo định nghĩa của ABD, thuật ngữ “mối quan hệ đối tác Nhà nước- Tư
nhân” miêu tả một loạt các mối quan hệ có thể có giữa các tổ chức Nhà nước và Tư
nhân liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực dịch vụ khác.
Theo dự thảo “Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công-tư ”: Đầu
tư theo hình thức đối tác công- tư là việc nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp để
thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp
đồng Dự án.
• PPP thể hiện một khuôn khổ có sự tham gia của khu vực Tư nhân nhưng vẫn
ghi nhận và thiết lập vai trò của chính phủ đảm bảo đáp ứng các nghĩa vụ xã hội và
đạt được thành công trong cải cách của khu vực Nhà nước và đầu tư công.
• Mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân chặt chẽ phân định một cách hợp lý
các nhiệm vụ, nghĩa vụ và rủi ro mà mỗi đối tác Nhà nước và đối tác Tư nhân phải
gánh vác. Đối tác Nhà nước trong mối quan hệ PPP là các tổ chức chính phủ, bao
gồm các bộ ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp Nhà nước.
Đối tác Tư nhân có thể là đối tác trong nước hoặc nước ngoài, và có thể là các
doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư có chuyên môn về tài chính hoặc kỹ thuật liên
quan đến dự án. Mối quan hệ PPP cũng có thể bao gồm cả các tổ chức phi chính
phủ (NGO) hoặc các tổ chức cộng đồng (CBO) đại diện cho những tổ chức và cá
nhân mà dự án có tác động trực tiếp.
1
• Các lĩnh vực trong đó mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân đã thực hiện
trên toàn thế giới bao gồm:
- Sản xuất và phân phối điện,
- Nước và vệ sinh,
- Xử lý phế thải,
- Đường ống,
- Bệnh viện,
• Các dạng hợp đồng mang tính chất mối quan hệ đối tác Nhà nước- Tư nhân
bao gồm:
- Các hợp đồng dịch vụ;
- Các hợp đồng quản lý;
- Các hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng giao thầu;
- Các thỏa thuận BOT- BTO- BT;
3
- Nhượng quyền;
- Liên doanh.
Mỗi phương án thiết lập mối quan hệ đối tác Nhà nước - Tư nhân có những
mức độ nghĩa vụ và rủi ro khác nhau đối với nhà điều hành Tư nhân, đi kèm với
những cơ cấu và hình thức hợp đồng khác nhau
3. Thiết lập một mối quan hệ đối tác Nhà nước – Tư nhân
Việc lựa chọn một phương án thiết lập mối quan hệ đối tác PPP phù hợp dựa
vào phân tích về:
- Các phương án thiết lập mối quan hệ PPP sẵn có,
- Những trở ngại kỹ thuật và các mục tiêu của lĩnh vực,
- Những trở ngại về luật pháp và quy định,
- Các vấn đề và thể chế,
- Những yêu cầu và những trở ngại về thương mại, tài chính, và cấp vốn,
- Mối quan tâm của thị trường,
- Các yêu cầu đặc biệt của lĩnh vực dựa trên những đặc điểm của hệ thống
hoặc dân số.
Mối quan hệ đối tác PPP cần được thực hiện theo một chiến lược cải cách
tổng thể. Các mục tiêu của một dự án PPP sẽ là một tập hợp con của các mục tiêu
cải cách tổng thể của lĩnh vực. Danh sách các mục tiêu cải cách cần được so sánh
với những kết quả phân tích và các đặc điểm của từng loại hình hợp đồng, các ưu
thế và bất lợi của mỗi loại hình, các kết quả và các điều kiện tiên quyết.
II. Hình thức PPP trên thế giới
4
phát triển và minh bạch như: Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nam Phi, Úc,
Hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng chỉ mới tiến hành
theo phương thức này như Singapore chỉ mới phát triển PPP từ 2-5 năm trở lại đây
và cũng đang gặp nhiều khó khăn. Indonesia cũng tiến hành khoảng 3-4 năm nay.
Trong trường hợp Việt Nam hiện nay, các chuyên gia cho rằng, trước hết
đó là vấn đề thay đổi các thiết chế cần thiết, quy định về mức phí sử dụng các dịch
vụ, thay đổi quan điểm cải cách hành chính trong thủ tục đầu tư PPP, những quy
định cần phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và điều kiện Việt Nam. Xây dựng
một cơ chế hỗ trợ đối với các dự án, tính đến vai trò của nhà nước với tư cách là
người bão lãnh và xúc tiến khả thi.
2. Đầu tư theo hình thức PPP vào lĩnh vực đường sắt đô thị trên thế giới
Cơ sở hạ tầng cho đường sắt đô thị rất tốn kém và số tiền người dân bình
thường có thể trả giá vé là không đủ để trả các chi phí xây dựng và vận hành đường
6
sắt, thậm chí, trong nhiều trường hợp không đủ để trang trải chi phí hoạt động hằng
ngày. Vì thế các chính phủ đã phải trang trải các khoản thiếu hụt. Họ phải cung cấp
cơ sở hạ tầng, hoặc ít nhất là giúp đỡ, hỗ trợ để cung cấp nó, đồng thời hỗ trợ các
chi phí hoạt động và bảo trì.
Trong những năm gần đây, trong nỗ lực quản lý tài chính công, chính
phủ các nước đã chuyển sang hợp tác đầu tư với khu vực tư nhân. Trong một số
trường hợp, một số tiện ích thuộc sở hữu nhà nước đã được chuyển giao cho tư
nhân kèm theo các ưu đãi, bảo lãnh và trợ cấp tài chính. Với sự bão lãnh của nhà
nước và sự thay đổi trong quản lý, vận hành từ phía đơn vị tư nhân, trong nhiều
trường hợp đã có những thành công nhất định trong điều hành hệ thống đường sắt.
Tuy nhiên, mười năm qua chỉ ra rằng, sự hợp tác đầu tư và cung cấp dịch vụ đường
sắt ở Anh đã ko chứng minh được sự thành công mà các chính trị gia hy vọng. Chi
phí tăng thêm dù điều kiện vận hành thuận lợi hơn.
Với chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng rất lớn, hiệu quả từ hoạt động vận hành,
duy trì dịch vụ giao thông công cộng- đường sắt đô thị- lại không rõ ràng nên
đường sắt đô thị là lĩnh vực kém hấp dẫn với các nhà đầu tư tư nhân trên thế giới .
+ Thuế
+ Thời gian lập, phê duyệt dự án quá lâu và không có cơ chế linh hoạt
trước biến động giá.
Ngoài ra, trong thời gian qua, việc phân bổ nguồn vốn và mời gọi đầu tư
trong nước cũng có nghịch lý so với tình hình chung thế giới:
8
Theo đó, các lĩnh vực thu hút được nhiều đầu tư trên thế giới là năng
lượng và viễn thông chứ không phải là giao thông như ở tại Việt Nam hiện nay.
Đây là điều hết sức đáng tiếc.
2. Sự cần thiết phải thay đổi mô hình đầu tư
Thiếu hiệu quả trong đầu tư xây dựng cơ bản, thất thoát nguồn vốn ưu đãi từ
các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khung pháp lý và điều kiện đầu tư chưa đủ hấp
dẫn cũng như chưa đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư hiện đang là một vấn đề lớn
của Việt Nam. Nhu cầu đầu tư ngày càng lớn trong nước (khoảng 16 tỉ USD/năm)
đang vấp phải sự khan thiếu vốn do lượng vốn từ chính phủ chỉ đáp ứng được
khoảng 7-8 tỉ USD.
Đầu tư theo hình thức BOT đã ko thành công, không tận dụng được nguồn
vốn ít ỏi của các nhà đầu tư cũng như lĩnh vực đầu tư không hấp dẫn.
Do đó, chuyển đổi mô hình đầu tư sang PPP là một yêu cầu tất yếu tại Việt
Nam hiện nay nhằm thúc đẩy cải cách hành chính, năng lực quản lý, đa dạng hóa
lĩnh vực đầu tư , hợp lý hóa quy trình đầu tư theo thông lệ quốc tế cũng như có thể
tận dụng được nguồn vốn đầu tư từ tư nhân trong và ngoài nước.
9
3. Tình hình chung hình thức PPP tại Việt Nam
Được sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, chương trình
hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và WB nhằm thu hút vốn từ kinh tế tư nhân,
giảm chi phí thực hiện dự án và san sẻ rủi ro cho Nhà nước đã được tiến hành.
Ngân hàng Thế giới đã cam kết viện trợ không hoàn lại để xây dựng Văn phòng
phát triển chương trình hợp tác Nhà nước- Tư nhân (PPP) trong lĩnh vực cơ sở hạ
tầng cũng như xây dựng khung tài trợ dự án PPP dựa trên thị trường. Đây là tín
4. Các yêu cầu đặt ra hiện nay
Thách thức của việc thực hiện dự án PPP hiện nay, theo kinh nghiệm từ
các nước trên thế giới, Nhà nước phải tiến hành nghiên cứu, lập dự án, xây dựng
một dự án hấp dẫn để có thể mời gọi được nhà đầu tư. Trong khi đó, đội ngũ nhân
lực cho việc chuẩn bị các bước trước khi mời gọi đầu tư hiện nay tại nước ta chưa
thể đáp ứng được yêu cầu. Chính phủ cần sớm hợp tác với ngân hàng WB để xây
dựng đội ngũ nhân lực quan trọng này.
Tuy nhiên, vấn nạn thủ tục hành chính mới thực sự làm các nhà đầu tư
nản chí. Theo nghiên cứu, thời gian xin và cấp phép dự án hiện nay tại Việt Nam là
450 ngày. Do đó, cần sớm cải cách hành chánh, xây dựng khung chính sách- pháp
lý tường minh, hoàn thiện theo các hướng:
+ Nghiên cứu thông lệ quốc tế về PPP, các chính sách ưu đãi đối với nhà
đầu tư, hoàn thiện luật pháp phù hợp điều kiện quốc tế trong điều kiện Việt Nam.
+ Nghiên cứu các mẫu điển hình thành công và thất bại trong đầu tư PPP
để rút ra các hướng xử lý khi gặp những trường hợp rủi ro và khó khăn trong tiến
11
hành dự án PPP. Tránh việc thất bại do không lường hết được các rủi ro khi tiến
hành dự án như đã từng xảy ra với các dự án BOT
+ Sớm xây dựng mức giá sử dụng dịch vụ, các điều kiện ưu đãi nhà đầu
tư để làm cơ sở phục vụ công tác lập dự án, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên
trong mối quan hệ PPP.
IV. Hình thức PPP tại thành phố Hồ Chí Minh
1. Tình hình chung
Theo ông Nguyễn Thành Tài- Phó Chủ tịch thường trực UBND
TP.HCM giai đoạn từ 2011-2015 thành phố cần 15 tỷ USD để đầu tư vào các dự án
hạ tầng nước, chống ngập, đường sắt đô thị. Nhu cầu vốn rất lớn nhưng hiện nay
thành phố đang trong cơn “khát”, không đủ vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng, đáp
ứng nhu cầu phát triển.
Đầu tư theo hình thức PPP hiện được xem là lời giải cho bài toán thiếu
vốn trầm trọng tại thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố cam kết ủng hộ, sẵn sàng
a) Đặc điểm.
Dự án Nhà ga Trung tâm Bến thành là một trong những hạng mục quan
trọng nhất của hệ thống đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Với vị trí không
những là trung tâm của đầu mối giao thông công cộng trong tương lai, vị trí này
còn là:
+ Đầu mối kinh tế : kết nối với nhiều trung tâm thương mại, cao ốc văn
phòng lân cận, đặc biệt là chợ Bến thành
+ Điểm nhấn không gian kiến trúc cảnh quan cho các trục đường lớn:
Hàm Nghi, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo…
+ Khu vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hóa hằng ngày của người dân trong
khu vực cũng như của thành phố trong các dịp lễ tết.
Với những yếu tố trên, Dự án Nhà ga Trung tâm Bến thành đặt ra yêu
cầu cần phải nghiên cứu chi tiết về các thành phần công năng, năng lực đáp ứng,
cách ứng xử với kiến trúc cảnh quan hiện hữu của khu vực và đặc biệt là phải tìm
ra giải pháp đầu tư hợp lý cho dự án.
Phương án thiết kế làm sao để thỏa mãn được các yêu cầu về kiến trúc
cảnh quan, phát triển kinh tế, sinh hoạt văn hóa, đồng thời phải có khả năng kết nối
linh hoạt về sau và quan trọng nhất là phát triển giao thông công cộng- đường sắt
đô thị tại khu vực này thực sự là một bài toán khó. Với vị trí thuận lợi, cơ hội phát
triển không gian ngầm thương mại là rất lớn, không những vậy việc kết nối không
gian thương mại ngầm của Nhà ga Trung tâm với các trung tâm thương mại kế cận
cũng có thể mở ra cơ hội xây dựng các tuyến thương mại ngầm kết nối các không
13
gian thương mại lớn trong khu vực. Bên cạnh đó, hạ tầng về giao thông như : bus,
bãi đỗ xe, taxi cũng là một vấn đề cần quan tâm khi quỹ đất tại khu vực xây dựng
dự án là không lớn.
Quy mô lớn, kết nối nhiều tuyến metro, cơ hội phát triển của dự án là rất
lớn nhưng hiện nay dự án đang gặp nhiều khó khăn về nguồn vốn xây dựng.
Nguồn vốn trong nước không thể tập trung để đầu tư cho dự án, các nguồn vốn đi
vay các tổ chức tài chính trên thế giới không có nhiều ưu đãi, trong khi đó lĩnh vực
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp thành công đối với những tuyến
có thuận lợi về xây dựng, nhận được nhiều ưu đãi của nhà nước cũng như nhu cầu
sử dụng lớn, ngoài ra có thể kể đến các hình thức hợp đồng dịch vụ ( chính phủ- cơ
quan nhà nước thuê một công ty tư nhân hoặc một thực thể tư nhân tiến hành một
hoặc nhiều công việc hoặc dịch vụ cụ thể trong một khoảng thời gian, thường từ 1
đến 3 năm) với khu vực tư nhân để cung cấp dịch vụ đường sắt. Các tuyến Metro
của Tp.HCM có thể áp đụng cách này để tận dụng năng lực quản lý của khu vực tư
nhân.
Hiện nay, hai tuyến monorail đang được kêu gọi ngay là tuyến từ đường
Nguyễn Văn Linh nối với cầu Tân Thuận xuôi về quận 2 và tuyến từ Công viên
Phần mềm Quang Trung chạy dọc theo đường Quang Trung về ngã sáu Gò Vấp.
Hai dự án trên có tổng vốn khoảng 9.000 tỷ đồng. Đây là 2 tuyến đi trên không,
vốn đầu tư thấp hơn và dễ thi công hơn các tuyến khác, tỉ lệ thành công khi tiến
hành dự án theo hình thức PPP cũng khả quan hơn.
Ngoài ra, ta cũng có thể nghiên cứu áp dụng phân chia các cấu phần dự
án như trong đề xuất của JICA để áp dụng cho các tuyến khác. Các cấu phần có
sức hấp dẫn về thương mại như : Thương mại ngầm, bãi đỗ xe… nên thực hiện
theo PPP để giảm bớt gánh nặng vốn cho nhà nước và tận dụng nguồn vốn tư nhân.
3. Đề xuất kiến nghị.
Theo những kinh nghiệm thành công và thất bại từ các quốc gia đã thực
hiện hình thức đầu tư PPP, để thực hiện thành công dự án PPP cần phải:
+ Nhà nước bỏ tiền ra để nghiên cứu dự án, thiết kế, xây dựng các thủ
tục, tính toán đầu tư khả thi, định ra mức lợi nhuận trước khi kêu gọi đầu tư
+ Lựa chọn nhà đầu tư bằng cách đấu thầu một cách minh bạch nhằm có
được đối tác có lợi nhất,
+ Nhà nước tham gia góp vốn cho dự án, tăng khả năng huy động vốn.
+ Thực hiện cải cách thủ tục hành chính, luật định phù hợp với thông lệ
quốc tế và điều kiện trong nước.
Ngoài ra, cần có một cơ quan phụ trách mối quan hệ đối tác Nhà nước-
Tư nhân được thành lập như một điểm điều phối, kiểm soát chất lượng, chịu trách