Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
Lời mở đầu
Hiện nay nớc ta đang hội nhập theo nền kinh tế Thế giới với chính
sách mở cửa hợp tác với các nớc. Ngay từ đầu, Đảng ta đã đa ra quan điểm
rõ ràng "Một nền kinh tế phát triển theo mô hình nền kinh tế nhiều thành
phần, theo định hớng xã hội chủ nghĩa và dới sự quản lý của nhà nớc". Trong
quá trình phát triển nền kinh tế nớc ta chiụ tác động của nhiều nhân tố khách
quan, một trong những nhân tố khách quan chủ yếu là quy luật giá trị. Đó là
một quy luật kinh tế căn bản nó tác động vào nền kinh tế nh một tất yếu
khách quan, ở đâu có hàng hoá và sản xuất hàng hoá thì quy luật giá trị còn
tồn tại và phát sinh tác dụng, thông qua đó ta thấy vai trò to lớn của quy luật
giá trị nó duy trì và mở rộng sản xuất của xí nghiệp và của xã hội. Việc phân
phối thu nhập quốc dân và theo đó đạt những cân đối cần thiết của nền kinh
tế theo hình thức giá trị, mặt khác nó còn kích thích sản xuất dựa vào hao
phí lao động xã hội cần thiết, đồng thời tính toán kinh tế để bố trí lực lợng
sản xuất trong cả nớc nhằm thực hiện tốt yêu cầu của quy luật phát triển
kinh tế có kế hoạch. Với những vai trò đó quy luật giá trị tác động mạnh
trong phân phối xã hội chủ nghĩa: Phân phối theo lao động thông qua giá cả,
tiền tệ nó có tác động đẩy nhanh hoặc kìm hãm tốc độ thực hiện kế hoạch
lu thông, hoàn thiện hoặc phá vỡ kế hoạch đó.
Nhng trong đó nhân tố giá cả là yếu tố biểu hiện cơ bản của quy luật
gía trị. Trong thực trạng nớc ta hiện nay nó đang biểu hiện nhiều mặt tích
cực, kích thích lu thông nâng cao hiệu quả sản xuất, nhng bên cạnh nó
những biểu hiện nhiều mặt tiêu cực Hạn chế rất lớn đối với sự phát triển
của nớc ta hiện nay vì vậy cần phải nghiên cứu kỹ quy luật giá trị để có
những hiểu biết thêm về những biểu hiện mới của nó từ đó có những chính
sách và hớng đi rõ ràng cụ thể để nớc ta ngày càng phát triển đi lên.
Bố cục đề án gồm chơng I và chơng II.
Chơng I: Một số vấn đề cơ bản về quy luật giá trị.
Chơng II: Thực trạng về vận dụng quy luật giá trị
và những giải pháp để vận dụng tốt.
(ngợc với Mác) và lảng tránh quy luật giá trị. Theo Smit ngời đầu tiên đề cập
2
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
đến lao động xã hội với t cách thớc đo giá trị hàng, ông đề cao tính tự do,
trật tự, tự nhiên "sản phẩm đợc chế tạo ra thông thờng trong hai ngày hoặc
hai giờ sẽ có giá trị gấp đôi sản phẩm đợc chế tạo ra thông thờng trong một
ngày hay một giờ". Ông không thấy đợc quy luật giá trị là trung tâm, của
cánh tay vô hình. Theo quan điểm của Ricardo ông cho rằng giá trị của hàng
hoá đợc xác định bởi lợng lao động cần thiết để chế tạo ra hàng hoá trong
những điều kiện xấu nhất. Giá trị của hàng hoá bị điều tiết bởi lao động thủ
công, ông cha thấy rõ vai trò to lớn của quy luật giá trị.
1.2.2. Quan điểm của Mác.
1.2.2.1. Yêu cầu, nội dung của quy luật giá trị.
Ông cho rằng lao động với t cách là thớc đo giá trị, đó là lao động của
xã hội nh một chỉnh thể, trong đó các lao động t nhân chỉ là "khí quan" của
một sức lao động thống nhất, là những "khâu" của lao động tổng thể. Do đó
lao động t nhân chỉ là hình thức biểu hiện của lao động tổng thể này. Trong
nền sản xuất hàng hoá thì mối quan hệ giữa lao động t nhân và lao động xã
hội bị che dấu đi và mang tính tự phát. Vì vậy Mác cho rằng không bao giờ
gía trị (chính xác là gía trị kinh tế) cũng do điều kiện trung bình quyết định.
Khi số lợng không đủ thì hàng hoá sản xuất ra trong điều kiện bất lợi nhất
điều tiết giá trị thị trờng, khi sản phẩm nhiều quá thì giá trị thị trờng đợc
điều tiết bởi hàng hoá sản xuất ra trong điều kiện thuận lợi nhất. Tức là giá
trị hàng hoá đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra
hàng hoá tơng tự, hoặc cùng loại và nó đợc quyết định với điều kiện tái sản
xuất có thể tốt hơn hay xấu hơn.
Về tính cần thiết đối với lao động xã hội làm thớc đo giá trị thì chỉ đợc
hiểu về khả năng sản xuất: cần bao nhiêu thời gian để hoàn thành ra sản
phẩm, đối với giá trị kinh tế thì tính cần thiết đợc hiểu theo nhu cầu xã hội,
xã hội cần hay không cần. Do "tính cần thiết" đợc hiểu cả về khả năng sản
ra tình trạng có một loại hàng hoá đợc sản xuất ra quá nhiều, dẫn đến hiện t-
ợng d thừa, lãng phí lao động xã hội.
1.2.2.2.3. Thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá ngời sản
xuất thành kẻ giàu ngời nghèo.
4
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
Trong cuộc cạnh tranh chạy theo giá trị lao động cá biệt của ngời sản
xuất có thể không nhất trí với lao động cần thiết. Những ngời làm tốt làm
giỏi có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết.
Nhờ đó phát tài, làm giàu, mở rộng quy mô sản xuất, bên cạnh đó có những
ngời làm ăn thua kém có hao phí lao động cá biệt cao hơn hao phí lao động
xã hội cần thiết nên bị lỗ vốn có thể dẫn đến phá sản. Vì vậy nó mang lại
phần thởng cho những ngời làm ăn tốt và hình phạt cho những ngời làm ăn
thua kém.
1.3. Yêu cầu, nội dung của quy luật giá trị.
1.3.1. Yêu cầu, nội dung của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng
hoá T bản chủ nghĩa.
Trong Chủ Nghĩa T Bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện
thông qua quy luật giá cả sản xuất . giá cả của hàng hoá xoay quanh giá trị
và nó chính bằng giá trị cộng với phần giá trị thặng d, đó là lấy sự bù đắp
ngang giá làm chuẩn mức trong trao đổi vì cho rằng sự trao đổi những lợng
lao động bằng nhau là lợi ích cơ bản của những ngời sản xuất hàng hoá. Còn
trong Chủ Nghĩa T Bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thông qua quy
luật giá cả độc quyền trong đó giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất t Bản
Chủ Nghĩa cộng với lợi nhuận độc quyền, giá cả độc quyền xoay quanh giá
cả thị trờng. Vì vậy trong Chủ nghĩa t bản những tỉ lệ cơ bản của nền sản
xuất đợc quy định bởi quy luật giá trị thặng d còn cái điều tiết thực hiện tỷ
lệ cơ bản ấy là quy luật giá trị. Vì vậy trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên
chế độ t hữu về t liệu sản xuất, những ngời sản xuất tách với nhau mặc dầu
đợc liên kết với nhau do sự phân công lao động xã hội - có sự đối kháng về
cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội thống nhất hữu cơ và kết hợp hài
hoà. Sự thống nhất giữa các lợi ích này đã đem lại cho quy luật giá trị một
nội dung mới khác với quy luật trớc nó: Đó là sự kết hợp giữa các lợi ích
trong lợng giá trị. Quy luật giá trị dới chủ nghĩa xã hội yêu cầu sản xuất và
trao đổi hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết,
nhằm bảo đảm thống nhất giữa các lợi ích: lơị ích cá nhân, lợi ích tập thể,
lợi ích xã hội.
6
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
Chủ nghĩa xã hội có thể kế hoạch hoá việc hình thành thời gian lao
động xã hội cần thiết, đó là thời gian lao động cần thiết đợc tính trên điều
kiện kỹ thuật trung bình, và giữa các lợi ích phải phù hợp với điều kiện kinh
tế của xã hội trong từng thời kì, trong thực tiễn có những xí nghiệp có giá trị
cá biệt cao hơn giá trị xã hội đó là những xí nghiệp cần thiết đáp ứng nhu
cầu xã hội nên đợc bảo hộ bằng cách bù lỗ, sự bù lỗ đó là sự khẳng định giá
trị hàng hoá do lao động xã hội cần thiết chứ không phải thời gian lao động
cá biệt. Vì vậy quy luật giá trị dới chủ nghĩa xã hội đòi hỏi việc trao đổi
hàng hoá phải tiến hành trên cơ sở giá trị tức là lấy giá trị xã hội làm cơ sở
cho giá cả hàng hoá, còn phần giá trị do lao động thặng d sáng tạo đợc phân
phối trong giá cả dới hình thức lợi nhuận không chỉ đảm bảo lợi ích riêng
cho xí nghiệp, ngời lao động mà phải đảm bảo sự thống nhất giữa ba lợi ích:
Lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.
Nh vậy giá cả của hàng hoá không nhất định phải nhất trí với giá trị cá
biệt hoặc giá trị xã hội của hàng hoá đó, giá cả có khả năng tách rời giá trị
hàng hoá nhng xét trên toàn bộ tổng giá cả vẫn bằng tổng giá trị.
1.4. Vị trí, tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá
Xã hội chủ nghĩa.
Quy luật giá trị là một quy luật kinh tế căn bản trong toàn hệ thống
các quy luật kinh tế. Nó không điều tiết tự phát nên kinh tế quốc dân xã hội
chủ nghĩa, nhng nó thực hiện những chức năng điều tiết nhất định trong
nghĩa xã hội kinh tế hàng hoá còn tồn tại, do vậy kế hoạch hoá xã hội chủ
nghĩa nền kinh tế quốc dân tất yếu bao gồm kế hoạch hoá các quan hệ hàng
hoá tiền tệ. Kế hoạch hoá cả sản xuất và thị trờng.
Và trong mọi hình thức kế hoạch hoá dù gián tiếp hay trực tiếp, các
quan hệ hàng hoá và quy luật giá trị đều phải đợc tính đến và sử dụng một
cách đúng đắn. Vấn đề quan trọng trong kế hoạch hoá trực tiếp về mặt giá trị
là cân đối đợc nhu cầu xã hội về sản phẩm với thời gian lao động xã hội để
sản xuất toàn bộ khối lợng sản phẩm ấy. Đó là cơ sở phân công lao động
8
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
giữa các ngành, phân bố lao động giữa các vùng, nhằm khai thác có hiệu quả
nhất các nguồn tài nguyên đất nớc và đa ra các kế hoạch hoá giá trị ngành
của từng loại hàng hoá, từng loại sản phẩm trong thực tiễn đó chính là kế
hoạch hoá giá thành. Không thể lấy giá trị cá biệt vủa xí nghiệp là cơ sở xây
dựng giá cả đợc mà phải có giá thành của sản phẩm và đó là bộ phận cơ bản
biểu hiện giá trị xã hội.
Khi kế hoạch hoá giá trị phải tính đến giá trị quốc tế, mối tơng quan giữa giá
trị dân tộc và giá trị quốc tế có kế hoạch giải quyết mâu thuẫn này và sự giao hởng
hàng hoá giữa các nớc là điều kiện cho sự phát triển kinh tế của mỗi nớc.
Ngoài ra vấn đề có ý nghĩa quyết định trên cơ sở giá trị xã hội đã đợc kế
hoạch hoá, phải kế hoạch hoá lu thông hàng hoá tiền tệ trong xã hội, phải đảm bảo
khối lợng tiền tệ cần thiết để thực hiện hàng hoá trong từng thời kỳ và ở đây là
quan hệ hàng hoá - tiền tệ; giá trị không chỉ là hình thái biểu hiện mà còn là công
cụ đo lờng, phơng tiện thực hiện và là đòn bẩy kích thích lợi ích kinh tế.
1.4.2. Quy luật giá trị và giá cả.
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị, giá trị là quy luật của giá cả,
giá cả là phơng thức vận động của giá trị có nghĩa là quy luật giá trị thông qua sự biến
động của giá cả để tác động đến nền kinh tế. Do vậy giá cả là cơ chế chủ yếu để vận
dụng quy luật giá trị. Khi xác lập giá cả kế hoạch phải tính đến quan hệ cung cầu để
không phạm phải chủ nghĩa chủ quan, nhng để cho quan hệ cung cầu thị trờng chi
Qua kinh nghiệm một số nớc chúng ta rút ra nhận định rằng giá cả là
một công cụ hết sức quan trọng dựa vào điều tiết giá cả mà chúng ta có thể
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng hợp lý hơn và nó có thể đẩy mạnh xuất
khẩu và hạn chế nhập khẩu Nhng trớc tiên chúng ta phải có sự hoạch định
chính xác, hợp lý trên cơ sở phải hiểu rõ nhu cầu, năng lực khách quan của
đất nớc mình, chúng ta cần phải học hỏi kinh nghiệm của các nớc khác biến
nó thành của mình, phù hợp với điều kiện nớc ta, ngoài ra áp dụng các quy
luật kinh tế cần phải linh hoạt, biết sai và sửa sai đồng thời nhà nớc không
nên can thiệp trực tiếp hay quá sâu vào nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế t
nhân, tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển theo đúng định h-
ớng của nớc mình.
10
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
Chơng II:
thực trạng sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh
tế hàng hoá ở nớc ta thời gian qua và những giải pháp
để vận dụng tốt nó trong thời gian tới.
2.1. Thực trạng vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng
hoá ở nớc ta thời gian qua.
2.1.1. Một số vấn đề sản xuất hàng hoá và quy luật día trị trong thời
kỳ quá độ tiến nên Chủ nghiã xã hội ở nớc ta.
2.1.1.1. Chuyển sản xuất nông nghiệp sang kinh tế hàng hoá là yêu
cầu to lớn của phát triển sản xuất hàng hoá ở một nớc tiến lên chủ nghĩa
xã hội từ nền sản xuất nhỏ nh nớc ta.
Đặc điểm to lớn của nớc ta là nền kinh tế nớc ta đang vận động từ nền
sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa: Xét về phơng diện sản xuất
hàng hoá thì đó là quá trình vận động từ sản xuất hàng hoá đơn giản lên sản
xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa, quá trình nhẩy vọt đã làm cho những mâu
thuẫn vốn có của sản xuất hàng hoá trở nên gay gắt, đó là sự tăng tr ởng hết
sức nhanh chóng của nhu cầu - không chỉ nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, mà
nhu cầu. Dới sự tác động của ba cuộc cách mạng ấy sản xuất hàng hoá sẽ
phát triển mạnh, hàng hoá sẽ từ ít đến nhiều, từ xấu đến tốt và đắt đến rẻ.
2.1.1.3. Phát huy tác động của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội
chủ nghĩa, hạn chế tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế không
xã hội chủ nghĩa là yêu cầu của chính sách giá cả và quản lí thị tr ờng ở
nớc ta trong thời kì quá độ.
Trong sản xuất hàng hoá giản đơn, quy luật giá trị có nhu cầu là bảo
đảm lợi ích cá nhân ngời lao động riêng biệt, trong sản xuất hàng hoá t bản
chủ nghĩa quy luật giá trị có nhu cầu mang lại giá trị thặng d càng nhiều,
càng tốt cho nhà t bản "hình thức" ngang giá. Trong sản xuất hàng hoá xã
hội chủ nghĩa quy luật giá trị bảo đảm sự thống nhất lợi ích hài hoà trong xã
hội: Lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích ngời lao động. Đó là cuộc đấu
12
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
tranh giữa ba loại hình sản xuất hàng hoá mà biểu hiện của nó là giá cả trên
thị trờng luôn có xu hớng ổn định hoặc rối loạn.
Và để phù hợp với giai đoạn hiện nay nhà nớc Việt Nam áp dụng cơ
chế hai giá: Giá ổn định thể hiện đầy đủ tác dụng của quy luật giá trị trong
toàn bộ hệ thống điều tiết xã hội chủ nghĩa, giá linh hoạt để phát huy tác
dụng điều tiết của quy luật giá trị đối với những cân đối không cơ bản trong
nền kinh tế.
2.1.2. Tình hình giá cả của nớc ta thời kì hình thành và trình tự của
cơ chế tập chung quan liêu bao cấp (1955-1980). Trong
thời kỳ 1955-1960, hệ thống hai giá: Hệ thống giá chỉ đạo của nhà nớc và
giá cả của thị trờng tự do.
2.1.2.1. Hệ thống giá chỉ đạo.
Nó có đặc điểm là khi đã hình thành thì thay đổi không đáng kể. Giá
ổn định có mặt tích cực là ổn định sản xuất, ổn định đời sống nhân dân. Tuy
nhiên, mức giá chỉ đạo ít thay đổi và ổn định, thờng thấp dới mức giá thành.
Giá không đảm bảo bù đắp giá thành là hiện tợng phổ biến, không có tác
hội những năm cuối thập kỷ 70, nguyên nhân dẫn đến cuộc tổng điều chỉnh
giá thời kỳ 1981 - 1986.
2.1.3. Thực trạng về giá cả nớc ta thời kỳ 1981-1986.
Trong thời kỳ 1981-1986, giá cả bị rơi vào tình trạng bất ổn định
nghiêm trọng, mà nó đợc biểu hiện ở một số mặt:
Lạm phát bùng nổ, tốc độ lạm phát đạt mức ba con số và đỉnh cao là
năm 1986. Đây là giai đoạn lich sử trong đó hệ thống giá bị khủng khoảng
nghiêm trọng, diễn biến giá bất ổn định nhất là từ trớc tới đó, tốc độ tăng giá
cũng mức cao nhất trong lịch sử giá cả Việt Nam.
Tốc độ tăng giá của thị trờng tự do và thị trờng có tổ chức đan xen và
thúc đẩy lẫn nhau. Trong thời kỳ thực hiện tổng điều chỉnh hệ thống giá điều
chỉnh của nhà nớc cao hơn giá của thị trờng tự do, nhng sau đó giá cả thị tr-
ờng tự do lại vợt lên và "dẫn đầu" tạo thành " vòng xoáy giá cả". Cả hai hệ
thống giá đều thay đổi với tốc độ phi mã.
Tình trạng trên đây đã gây ra tình trạng bất ổn định nghiêm trọng
trong cả đời sống và sản xuất - thể chế "hai giá " đồng thời cũng làm xuất
14
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
hiện hệ thống giá thứ ba đó là hệ thống "giá ngầm". Cuộc đấu tranh của ba
hệ thống giá này đã gây khó khăn không nhỏ cho các hoạt động kinh tế.
Tình trạng " lãi giả, lỗ thật" là phổ biến, nhà nớc phải bao cấp, tràn lan, thâm
hụt ngân sách trở nên nghiêm trọng, tuy vậy có một số tiến bộ hơn đó là giá
cả phản ánh sát chi phí thực tế hơn.
Tóm lại, mặc dù hai cuộc tổng điều chỉnh giá không thành công và gây
ra không ít khó khăn cho nền kinh tế đất nớc, nhng xét về nhiều mặt sự điều
tiết giá cả nớc ta thời kỳ 1981 - 1986 đều có tiến bộ, phù hợp với những luận
điểm cơ bản của lí luận giá trị kinh tế về giá trị và giá cả. Đây là cơ sở cho
những thành công về sau trong lĩnh vực này.
2.1.4. Thực trạng về giá cả của nớc ta hiện nay.
" Năm1999 kinh tế nớc ta gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trởng còn
Điều đáng lo ngại là giá lơng thực ở trên thế giới giảm mạnh khiến cho
việc xuất khẩu gạo và giá mua gạo của nông dân gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác tốc độ tăng trởng xuất khẩu nớc ta trong sáu tháng đầu năm
2001 giảm xuống còn 14% so với mức 82% cùng kỳ năm ngoái. Do xuất
khẩu nông nghiệp tiếp tục giảm và doanh thu từ dầu thô và các hàng hoá
khác cũng có phần giảm sút.
Do tình hình biến động giá cả trên, nên thực trạng nền kinh tế nớc ta là
rất đáng lo ngại. Điều này đợc chứng minh cụ thể sau:"Năm 1997,tốc độ
tăng trởng kinh tế 8,2%;tốc độ tăng tổng phơng diện thanh toán 26.1%( cao
cấp 3,2 tốc độ tăng trởng kinh tế) tốc độ tăng vốn huy động 25,7%; tốc độ
tăng d nợ tín dụng 22%; tốc độ tăng giá tiêu dùng 3,6%. Năm 1998 tốc độ
tăng trởng kinh tế 5,8%; tốc độ tăng trởng phơng diện thanh toán 23,9%; tốc
độ tăng d nợ tín dụng 16,4%; tốc độ tăng giá tiêu dùng 9,2%. Năm 2000 tốc
độ tăng trởng kinh tế 6,7%; tốc độ tăng tổng phơng diện thanh toán 25%;
Tốc độ tăng vốn huy động 29%; Tốc độ tăng d nợ tín dụng25%; Tốc độ tăng
giá tiêu dùng 26% (Lần đầu tiên tính từ năm 1976 mang dấu âm)"
1
.
Những tháng đầu năm 2001 giá tiêu dùng có xu hớng lập lại bốn năm
trớc đó tức là giảm ngay từ tháng ba nhng với mức nặng nề hơn, chỉ sau bốn
tháng giá tiêu dùng đã giảm 0,5% là điều cha từng xảy ra trong thời gian
cùng kỳ tính từ năm1976 đến nay. Thực tế cho thấy cung hàng hoá trong nớc
có biểu hiện d thừa trong khi đó mức cầu không đổi hoặc ngợc lại cầu hàng
hoá suy giảm trong khi cung không đổi.
2.2. Những nguyên nhân dẫn đến sự biến động giá cả nớc ta hiện nay:
16
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
Một là: Tình hình diễn biến của kinh tế thế giới đang rất phức tạp chứa
đựng những yếu tố tác động không thuận lợi đến nền kinh tế nớc ta. Mức tăng tr-
ởng kinh tế năm 2001 do chịu ảnh hởng của cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ ở
và gian lận thơng mại thông qua các biện pháp quản lý chặt chẽ hàng hoá
nhập khẩu từ khẩu, gián tem hàng hoá lu hành trên thị trờng nội địa. Về phía
doanh nghiệp trong nớc phải nhanh chóng đổi mới công nghệ , cải tiến quản
lý, nâng cao chất lợng sản phẩm, chuyển đổi cơ cấu sản xuất để chiếm lĩnh
thị trờng.
Thứ hai: Giảm thuế và tăng chi tiêu của chính phủ nhằm kích cầu tiêu
dùng và đầu t. Các biện pháp cần làm là: Giảm lãi xuất, tăng tiêu dùng và
đầu t, nhanh chóng đa kinh tế đi lên theo hớng sản xuất phát triển.
Ngoài ra nhà nớc còn đa ra một số biện pháp áp dụng trong quá trình
tự do hoá giá cả: Thiết lập một cơ chế kiểm soát việc sát nhập các doanh
nghiệp để chống tạo nên độc quyền, hạn chế cạnh tranh gây thiệt hại cho ng -
ời tiêu dùng cho phép thành lập các hiệp hội tiêu dùng với những biện pháp
nêu trên nhà nớc ta đã nhanh chóng ổn định nền kinh tế với mức giá cả ổn
định.
2.3.2. Các giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nớc ta trong thời
gian tới để thực hiện bình ổn giá nhà nớc ta sẽ đa ra một pháp lệnh về gía
trong thời gian tới.
Pháp lệnh vô giá là cơ sở quản ký quan trọng trong công tác quản lý
nhà nớc về giá. Trong một nền kinh tế thị trờng có sự quản ký của nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Nhà nớc thực hiện công tác quản lý kinh tế
chủ yếu bằng pháp luật, thì việc ban hành một văn bản quy phạm pháp luật
có tính pháp lý cao là điều cần thiết nhằm định hớng cho công tác quản lý về
giá pháp huy tác dụng góp phần ổn định giá cả thị trờng, thúc đẩy phát triển
kinh tế mặt khác, nó cũng là một động lực khuyến khích pháp triển sản xuất,
cạnh tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngời sản xuất, tiêu dùng và
của nhà nớc.
Trong những biểu hiện của việc thực hiện pháp lệnh giá là nhà nớc
thực hiện định giá (tức là dùng các công cụ hành chính để tác động vào mức
giá và hớng sự vận động của giá trị hàng hoá về phía giá trị thị trờng). Định
giá đợc thực hiện dới các dạng sau:
tiết kiệm phân phối hợp lý thu nhập; ổn định và nâng cao mức sống. Suy cho
cùng, bình ổn giá cả sẽ góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình kinh
tế, chính trị xã hội nói chung của đất nớc. Nh vậy quy luật giá trị là thống
soái "chi phối cơ chế thị trờng, chi phối các quy luật kinh tế khác". Vì vậy
trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế đất nớc chúng ta cần
nghiên cứu và tìm hiểu thêm về quy luật giá trị để hiểu đúng và vận dụng có
hiệu quả nó là thực sự cần thiết.
20
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
Mục lục
Lời mở đầu
Chơng I: Một số vấn đề cơ bản về quy luật giá trị
và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trờng.
1.1. Tính tất yếu khách quan.
1.1.1. Lý thuyết giá trị khách quan.
1.1.2. Lý thuyết giá trị chủ quan.
1.1.3. Lý luận giá trị lợi ích biên.
1.2. Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại phơng tây
1.2.1. Quan điểm của Smit và Ricardo
1.2.2. Quan điểm của Mác.
1.2.2.1. yêu cầu nội dung của quy luật giá trị.
1.2.2.2 Tác dụng của quy luật giá trị.
1.2.2.2.1. Điều tiết sản xuất và lu thông hàng hoá.
1.2.2.2.2. Kích thích lực lợng sản xuất.
1.2.2.2.3. Thực hiện sự bình tuyển tự nhiên và phân hoá
1.3. Yêu cầu, nội dung của quy luật.
1.3.1. Yêu cầu, nội dung của quy luật của quy luật giá trị trong nền
kinh tế hàng hoá TBCN.
1.3.2.Yêu cầu, nội dung của quy luật của quy luật giá trị trong nền kinh
tế hàng hoá XHCN.
5
5
5
6
7
9
9
10
11
11
11
11
12
21
Đề án ktct Phạm Thị Kim Anh - K 43
2.1.1.3. Phát huy tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế
XHCN
2.1.2.Tình hình giá cả của nớc ta thời kỳ thịnh hành và thịnh trị của cơ
chế tập chung quan liêu bao cấp (1955-1980).
2.1.2.1.Hệ thống giá chỉ đạo.
2.1.2.2.Hệ thống giá thị trờng tự do.
2.1.2.3. Mối quan hệ giữa hai hệ thống giá.
2.1.3. Thực trạng về giá cả nớc ta thời kỳ 1981-1986.
2.1.4.Thực trạng về giá cả của nớc ta hiện nay.
2.2. Những nguyên nhân dẫn đến sự biến động giá cả nớc ta hiện nay.
2.3. Một số giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nhà nớc ta hiện nay
và trong thời gian tới.
2.3.1. Các giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nhà nớc ta hiện nay.
2.3.2. Các giải pháp chủ yếu điều tiết giá cả của nhà nớc ta trong thời
gian tới.