Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp là loại hình kinh tế đã tồn tại lâu dài và
phát triển của hầu hết các nớc trên thế giới. ở nớc ta sau năm 1954 chúng ta
bắt tay vào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Đến cuối năm 1960 Miền Bắc
đã căn bản hoàn thành HTX bậc thấp và cuối năm 1969 hầu hết các HTX
chuyển lên HTX bậc cao. Đặc biệt sau 1975 đất nớc thống nhất thì các HTX
quy mô lớn đợc xây dựng một cách nhanh chóng.
Trong điều kiện của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chế độ phân
phối bình quân theo định suất, định lợng làm cho ngời lao động kém phấn
khởi, giảm nhiệt tình hăng say trong sản xuất. Việc tập thể hoá t liệu sản xuất
làm cho ngời nông dân không có điều kiện sản xuất độc lập, mất dần tính chủ
động sáng tạo, họ hoàn toàn bị phụ thuộc và dựa dẫm ỉ lại vào HTX. Thu nhập
từ kinh tế tập thể không đủ để đảm bảo cho cuộc sống gia đình, xã viên quay
về với nghề phụ và đầu t cho đất 5% của gia đình và đây là nguồn thu nhập
chủ yếu của họ. Từ đó kinh tế HTX bị giảm sút, lòng tin của nông dân vào
HTX mất dần. Trớc tình hình đó, Đảng, Nhà nớc có nhiều chủ trơng, chính
sách nhằm củng cố và phát triển HTX nh: Chỉ thị 100 của Ban bí th,Nghị
quyết 10 của Bộ chính trị và rất nhiều Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ . Đặc
biệt, luật HTX đợc Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 có hiệu lực thi hành
kể từ 1/1/1997 là cơ sở pháp lý cho các HTX nông nghiệp hoạt động bình
đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác trớc pháp luật. Kể từ đó các HTX đã
từng bớc chuyển đổi hoạt động theo luật và bớc đầu đã có kết quả. Hầu hết
các HTX đều chuyển theo hớng sang kinh doanh dịch vụ phục vụ xã viên ở
các khâu trớc, trong và sau quá trình sản xuất.
Trên thực tế, các HTX nông nghiệp hiện nay do phải giải quyết đồng thời
với những cái cũ còn tồn tại, những cái mới đang đặt ra nên trong quá trình
hoạt động kinh doanh dịch vụ, các HTX nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn
khăn nh: Công tác cán bộ quản lý, vốn, thực hiện chế độ kế toán
Hà Tây là một tỉnh đồng bằng mà dân số hầu hết làm nông nghiệp.
- Phơng pháp so sánh
5. Kết cấu của đề tài: Đề tài gồm 3 chơng:
- Ch ơng I: Một số vấn đề lý luận chung về HTX nông nghiệp.
- Ch ơng II: Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX nông
nghiệp sau chuyển đổi luật HTX trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
- Ch ơng III: Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lợng hoạt
động kinh doanh dịch vụ ở HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Tây.
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
2
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Đề tài đợc hoàn thành với sự hớng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo
TS. Trần Quốc Khánh cùng các cô, chú ở phòng Chính sách nông nghiệp và
phát triển nông thôn - Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Tây.
Do nhận thức của bản thân còn hạn chế, nên đề tài của em không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong các thầy, cô giáo góp ý để đề tài tốt hơn.
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
3
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Chơng I
Một số vấn đề lý luận chung về HTX nông nghiệp
I. Lý luận về HTX nông nghiệp.
1. Khái niệm về HTX nông nghiệp:
Hợp tác là phơng thức chủ yếu trong lao động sản xuất và hoạt động kinh
tế của con ngời. Nó bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung,
của lao động sản xuất và hoạt động kinh tế của con ngời nói riêng.Do vậy, sự
phát triển của hợp tác gắn liền và bị quy định bởi sự tiến triển trong quá trình
xã hội hoá hoạt động kinh tế của con ngời . Đến lợt mình sự phát triển các
hình thức và tính chất thích hợp của hợp tác lại có tầm quan trọng to lớn đối
với sự phát triển kinh tế. ở bớc chuyển nền kinh tế chậm phát triển sang nền
kinh tế phát triển, hợp tác có ý nghĩa quan trọng . Thật vậy, hợp tác chính là
của hộ nông dân phải thực hiện thống nhất trên từng cánh đồng về chủng loại
giống, về thời vụ gieo trồng và chăm sóc.
- HTX nông nghiệp còn là nơi tiếp nhận những trợ giúp của Nhà nớc tới
hộ nông dân .Vì vậy, hoạt động của HTX có vai trò cầu nối giữa Nhà nớc với
hộ nông dân một cách có hiệu quả.
- Trong một số trờng hợp khi có nhiều tổ chức tham gia hoạt động dịch
vụ cho hộ nông dân, hoạt động của HTX là đối trọng buộc các đối tợng phải
phục vụ tốt cho nông dân.
b- Đặc điểm của HTX nông nghiệp:
Căn cứ vào luật HTX và điều lệ mẫu HTX nông nghiệp, thì HTX nông
nhiệp có những đặc điểm sau đây:
- HTX nông nghiệp vừa là tổ chức kinh tế, vừa là tổ chức xã hội. Là một
tổ chức kinh tế, HTX nông nghiệp cũng thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh dịch vụ nhằm thu lợi nhuận. Là một tổ chức xã hội của tập thể ngời lao
động, HTX đợc lập ra để "phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên"
nhằm giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống xã
viên.
- Tài sản của HTX nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể của HTX, là hình
thức sở hữu tập thể theo quy định của pháp luật.
- Xã viên HTX nông nghiệp có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình có đủ điều
kiện do pháp luật quy định.
- HTX nông nghiệp có t cách pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách
nhiệm hữu hạn.
- HTX nông nghiệp chịu sự quản lý Nhà nớc của Chính phủ, Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp. Nội dung quản lý Nhà nớc và thẩm
quyền của các cơ quan Nhà nớc đối với HTX nông nghiệp đợc quy định của
pháp luật.
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
5
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
quả và sự giàu lên của kinh tế hộ là chủ yếu. Do đó nó đã chuyển từ trung tâm
điều hành sang trung tâm dịch vụ.
c- Khác nhau về cơ chế và bộ máy quản lý điều hành.
- HTX nông nghiệp kiểu cũ tổ chức, điều hành và quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung cao độ. Ngời xã viên đồng
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
6
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
thời là ngời lao động trực tiếp cho HTX, không có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, thậm chí không có trình độ văn hoá tham gia hoạt động với HTX
theo kiểu "Đánh trống ghi tên ". Bộ máy quản lý cồng kềnh, kém hiệu quả.
- HTX nông nghiệp kiểu mới có đội ngũ cán bộ và lao động tham gia
hoạt động kinh doanh dịch vụ cho HTX đợc đào tạo, bồi dỡng chuyên môn
nghiệp vụ kỹ thuật. Bộ máy quản lý điều hành hoạt động theo cơ chế thị trờng,
cơ cấu bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả.
d- Khác nhau về việc quy định chức năng, nhiệm vụ.
- Chức năng, nhiệm vụ của HTX nông nghiệp kiểu cũ chủ yếu là sản xuất
ra sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội.
- Các HTX nông nghiệp kiểu mới thì chức năng, nhiệm vụ đa dạng nhng
chủ yếu là dịch vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm của các hộ nông dân.
Qua so sánh những điều cơ bản của HTX nông nghiệp kiểu mới và HTX
nông nghiệp kiểu cũ chúng ta mới thấy đợc tính u việt của HTX nông nghiệp
kiểu mới. Từ đó có những quan điểm, cách nghĩ, cách làm, và thực hiện hoạt
động kinh doanh dịch vụ ở HTX nông nghiệp có hiệu quả hơn.
4. Các hình thức của HTX nông nghiệp.
Các HTX nông nghiệp trong nông nghiệp có các hình thức sau:
- HTX nông nghiệp làm dịch vụ: Về hình thức đây là tổ chức kinh tế
trong nông nghiệp tách ra làm chức năng dịch vụ cho nông nghiệp bao gồm:
+ Dịch vụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (các HTX cung
ứng vật t, giống )
để phục vụ kinh tế hộ xã viên phát triển là chủ yếu.
Vấn đề nâng cao chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX nông
nghiệp đợc các HTX, cấp uỷ Đảng, chính quyền , hộ xã viên và các tổ chức
kinh tế khác quan tâm. Bởi vì, hoạt động kinh doanh dịch vụ của nó ảnh hởng
to lớn tới hoạt động sản xuất của hộ nông dân, từng bớc đa nông nghiệp lên
sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp - hiện đại hoá
nông thôn. Việc nâng cao chất lợng kinh doanh dịch vụ ở HTX nông nghiệp là
cần thiết, xuất phát từ các vấn đề sau:
- Trớc hết, nâng cao chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX nông
nghiệp nhằm làm cho HTX sử dụng nguồn lực đất đai, lao động, vốn có hiệu
quả.
- Thứ hai, nâng cao chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX, buộc
cán bộ quản lý, lao động của HTX phải tự nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ
thuật, năng động, sáng tạo nắm bắt nhanh thông tin để sử lý những biến động
của nền kinh tế thị trờng.
- Thứ ba, nâng cao chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX là một
giải pháp để huy động vốn cổ phần, vốn vay của hộ xã viên, các đơn vị và tổ
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
8
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
chức kinh tế khác tạo điều kiện cho HTX mở rộng quy mô kinh doanh dịch vụ
phục vụ hộ xã viên tốt hơn. Từ đó, HTX tạo niềm tin để hộ xã viên yên tâm
sản xuất, đơn vị và tổ kinh tế khác yên tâm đầu t vào HTX.
- Thứ t, nâng cao chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX, HTX
phải đa dạng hoá các hình thức kinh doanh dịch vụ để phục vụ nhanh chóng,
kịp thời, đầy đủ, đúng chất lợng theo yêu cầu của hộ xã viên và các tổ chức
kinh tế khác.
- Cuối cùng, nâng cao chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX
nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống xã viên, tạo việc làm cho lao động nông
thôn và thực hiện phúc lợi xã hội. Bởi vì, khi HTX hoạt động kinh doanh dịch
khích phát triển đối với các HTX nông nghiệp.
1. Chính sách trớc khi có luật HTX.
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp việc đa ngời nông dân vào
HTX nông nghiệp là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng để xây dựng nền nông
nghiệp tập thể hoá. Chính sách đối với HTX nông nghiệp trong thời kỳ đó là:
tập thể hoá ruộng đất và các t liệu sản xuất khác, tổ chức lao động tập thể và
thống nhất phân phối thu nhập trong HTX. Từ năm 1981 đến năm 1988 nớc ta
bắt đầu thi hành một số chính sách mới nh chỉ thị 100/CT của ban bí th ngày
13/1/1981 về khoán sản phẩm tới hộ xã viên, nghị quyết 10/BCT ngày
5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Chính sách đã bớc đầu giải
phóng một phần lực lợng sản xuất trong nông nghiệp nông thôn.
Từ năm 1988 đến khi có luật HTX, chúng ta đã thực hiện đớng lối đổi
mới nhằm chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền sản xuất hàng
hoá theo cơ chế thị trờng. Các chính sách đợc ban hành:
- Chính sách đổi mới HTX nông nghiệp theo hớng chuyển sang làm chức
năng hớng dẫn xã viên thực hiện tốt quy hoạch sản xuất, tổ chức làm các dịch
vụ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề, thực hiện
đúng nguyên tắc "Tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi"
- Chính sách phát huy vai trò xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ.
- Chính sách đất đai (luật đất đai 1993), chính sách thuế, chính sách hỗ
trợ cho hộ vay vốn để phát triển sản xuất
Hệ thống chính sách trên mặc dù cha đợc hoàn chỉnh song có tác động
mạnh mẽ tới HTX nông nghiệp, đòi hỏi các HTX nông nghiệp phải đổi mới cả
về tổ chức, nội dung và phơng thức hoạt động cho phù hợp với nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của Nhà nớc.
2. Chính sách sau khi có luật HTX.
Để đổi mới và phát triển các HTX có hiệu quả, luật HTX đợc Quốc hội
thông qua ngày 20/3/1996 và có hiệu lực thi hành 1/1/1997. Luật HTX ra đời
tạo cơ sở pháp lý cho các HTX hoạt động. Sau đó , điều lệ mẫu áp dụng cho
HTX nông nghiệp đợc ban hành.
nghiệp phát triển.
3. Chính sách phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Hà Tây.
Để khắc phục những mặt yếu kém của các HTX nông nghiệp kiểu cũ và
thực hiện luật HTX, tạo đà đổi mới và phát triển các HTX nông nghiệp hoạt
động theo luật HTX, Nghị định 16/CP ngày 21/2/1997 của Chính phủ, Ban th-
ờng vụ Tỉnh uỷ tỉnh Hà Tây đã ra chỉ thị số 20 - CT/TU ngày 01/4/1997 về
việc chuyển đổi HTX nông nghiệp theo luật HTX trên cơ sở đề án chuyển đổi
HTX nông nghiệp của Ban kinh tế Tỉnh uỷ số 28/ĐA/BKT ngày 26/3/1997.
Tiếp đó ngày 8/2/1998 UBND tỉnh Hà Tây ra kế hoạch 895 KH/UB về việc chỉ
đạo phát triển HTX nông nghiệp trên toàn tỉnh Hà Tây, chơng trình 16/CT của
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
11
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tỉnh uỷ ngày 10/4/1999 về củng cố, hoàn thiện HTX nông nghiệp sau chuyển
đổi theo luật và kế hoạch, biện pháp số 1261 KH/ UB của Uỷ ban nhân dân
Tỉnh Hà Tây ngày 9/9/1999 để thực hiện 4 chơng trình sản xuất nông nghiệp
của Tỉnh uỷ. Ngày 24/3/2000 diễn ra hội nghị của tỉnh uỷ và UBND tỉnh Hà
Tây về tiếp tục nâng cao chất lợng của các HTX nông nghiệp. Với các chủ tr-
ơng và chính sách trên sẽ là cơ sở pháp lý, tạo động lực thúc đẩy các HTX
nông nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển.
III. Kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp ở một số nớc trên
thế giới.
1. Kinh nghiêm phát triển HTX nông nghiệp ở Mỹ:
Mỹ là một trong những nớc giàu kinh nghiệm về HTX. Ngay từ những
năm 20, theo quy định của các bang thì các HTX có thể do các chủ trại thành
lập để cùng hoạt động buôn bán hoặc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của chủ
trại. Về cơ bản, các HTX nông nghiệp của các chủ trại đợc phân làm ba loại:
HTX tiêu thụ, HTX cung ứng và HTX chuyên đảm bảo các dịch vụ sản xuất.
Trong các HTX tiêu thụ, trên 50% giá trị chu chuyển hàng hoá là do việc
bán các sản phẩm nông nghiệp (năm 1987 chiếm 67% toàn bộ chu chuyển
chung và HTX nói riêng. Hơn 139 năm trớc, năm 1862, Tổng thống Lin Côn
đã ký "Luật ruộng đất", một đạo luật có sức hút dân di c đến khai khẩn ở
những vùng đất mới (mỗi công dân là chủ gia đình, hoặc cá nhân đủ 21 tuổi
trở lên đến nơi mới đợc Nhà nớc cấp cho 65 ha đất, với điều kiện ngời đó phải
làm nhà và ở trên mảnh đất đợc cấp và phải canh tác không dới 5 năm). Đạo
luật Copoprwalstal ban hành năm 1922 giữ vai trò quan trọng nhất trong các
giai đoạn đầu của sự phát triển HTX. Theo đạo luật này, các chủ trại và HTX
đợc năm ngoài phạm vi tác động của các luật chống các tờ rớt, tạo ra khả năng
xây dựng các HTX ngành.
2. Kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp ở Cộng hoà Liên bang Đức:
Cộng hoà Liên bang Đức là một trong những nớc có lịch sử ra đời và phát
triển HTX lâu đời. HTX ở Cộng hoà Liên bang Đức phát triển hầu hết các
ngành nghề với những hình thức tổ chức đa dạng phong phú. Nhng tập trung ở
2 loại mô hình cơ bản là: HTX dịch vụ và HTX sản xuất, trong đó HTX dịch
vụ là chủ yếu. ở phía Tây nớc Đức chủ yếu tồn tại hình thức HTX dịch vụ,
hầu nh không có HTX sản xuất tập trung; còn ở phía Đông Đức hình thức
HTX sản xuất tập trung vẫn còn phổ biến nhng đã đợc chuyển đổi.
Có thể nêu một số mô hình HTX dịch vụ là:
- HTX cung tiêu BAEKO là HTX dịch vụ cung ứng nguyên vật liệu, hàng
hoá, kỹ thuật và dịch vụ tiêu thụ cho các lò bánh mỳ t nhân là xã viên HTX.
Đây là HTX dịch vụ thuộc khối tiêu thủ công nghiệp.
- HTX cung tiêu BAG, nhiệm vụ chủ yếu của HTX là cung ứng dịch vụ
đầu vào và dịch vụ kỹ thuật cho các hộ xã viên trồng củ cải, ngũ cốc, khoai
tây
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
13
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- HTX sản xuất rợu vang Heilbronn - Erlenbarh Weinshorg - Nhiệm vụ
chủ yếu là chế biến sản phẩm nho do các hộ nông dân sản xuất ra thành rợu và
tiêu thụ. Đây là loại hình HTX dịch vụ đầu ra và chế biến nông nghiệp.
14
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
3. Kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp ở Nhật Bản:
Trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ II, cho đến năm 1946 ở nông
thôn Nhật Bản đã có các tổ chức hiệp hội nông nghiệp bao gồm các hộ nông
dân, nhng thực chất đây là các tổ chức do chính quyền lập ra nhằm phục vụ
cho nhu cầu chiến tranh.
Sau chiến tranh chính quyền đã tiến hành cải cách ruộng đất, mua lại
ruộng đất của địa chủ và bán lại cho những hộ nông dân thiếu ruộng đất trả
tiền dần, hình thành các nông trại gia đình tự canh tác trên mảnh ruộng của
mình. Đến nay, trên 99% trang trại gia đình ở Nhật Bản là thành viên của các
HTX trong nông nghiệp.
Đến năm 1947 luật HTX nông nghiệp đợc ban hành nhằm thúc đẩy việc
phát triển các hoạt động kinh tế hợp tác giữa các hộ nông dân để phát huy mọi
lực lợng sản xuất trong nông nghiệp, nâng cao địa vị kinh tế xã hội của nông
dân và trên cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Năm 1967, chính phủ Nhật Bản lại ban hành chính sách cơ bản về HTX
để phát triển nông nghiệp. Thực hiện chính sách này mạng lới HTX trong
nông nghiệp đợc tập hợp lại thành một hệ thống HTX nông nghiệp toàn Nhật
Bản với hai loại hình HTX nông nghiệp đa ngành (tổng hợp) và HTX nông
nghiệp chuyên ngành.
HTX nông nghiệp tổng hợp và HTX nông nghiệp chuyên ngành có chức
năng và nhiệm vụ giống nhau. Về chức năng, HTX nông nghiệp không can
thiệp công việc và kế hoạch sản xuất kinh doanh của từng nông trại gia đình,
không chỉ đạo sản xuất theo kế hoạch quản lý tập trung của HTX không sử
dụng vốn, lao động vật t, xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất tiêu thụ sản
phẩm. Chủ động đề xuất và tiếp nhận sữ hỗ trợ khi có nhu cầu cần thiết.
Nhiệm vụ hoạt động chủ yếu của HTX nông nghiệp (chuyên ngành và
tổng hợp) là thực hiện các dịch vụ kinh tế kỹ thuật, tác động tới dịch vụ đầu
vào và đầu ra trong quá trình sản xuất và sinh hoạt của hộ xã viên bao gồm
Đây là tổ chức trung gian có mối quan hệ trực tiếp với các HTX cơ sở
làng xã và quan hệ với liên hiệp HTX toàn quốc, có chức năng hỗ trợ và quản
lý các HTX nông nghiệp cơ sở. Nhiệm vụ của liên hiệp HTX nông nghiệp cấp
tỉnh, thành phố là tổ chức điều phối các hoạt động kinh doanh giúp các HTX
cơ sở, dịch vụ hớng dẫn việc tổ chức quản lý hoạt động của HTX nông nghiệp
cơ sở, đại diện cho các HTX nông nghiệp trong tỉnh quan hệ với chính quyền
địa phơng.
* Cấp trung ơng:
Có liên hiệp HTX nông nghiệp quốc gia làm chức năng quản lý chỉ đạo
phối hợp các hoạt động dịch vụ cung ứng vật t kỹ thuật, mua bán, xuất nhập
khẩu nông sản trong phạm vi cả nớc, làm nhiệm vụ đại diện cho HTX nông
nghiệp cơ sở và liên đoàn HTX nông nghiệp cấp tỉnh trong cả nớc.
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
16
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
4. Kinh nghiệm phát triển HTX nông nghiệp ở Thái Lan.
HTX là một hình thức khá phát triển ở Thái Lan. HTX ra đời đầu tiên
cách đây hơn 85 năm, đó là HTX hữu hạn Watchan thành lập ngày 26/2/1916
với 16 thành viên. Mục đích hoạt động của các HTX này là nhằm giúp đỡ hộ
nông dân trang trải những món nợ đối với bọn cho vay nặng lãi và bảo quyền
canh tác trên mảnh đất cho thuê. Với sự giúp đỡ của Nhà nớc 2 năm sau đó có
hơn 60 HTX nông nghiệp đợc thành lập, đến đầu những năm 1990 có 3009
HTX với 3,196 triệu hộ xã viên và đến năm 1993 số HTX đã tăng đến 3435
HTX và số hộ xã viên là 5,19 triệu hộ xã viên. Ngày nay, cùng với sự phát
triển nền kinh tế của đất nớc, ở Thái Lan các tổ chức HTX đã phát triển sâu
rộng trong cả nớc và ngày càng vững mạnh. Hiện tại, Thái Lan có 6 loại HTX
đó là: HTX nông nghiệp, HTX khai khẩn đất đai, HTX ng nghiệp, HTX tín
dụng và tiết kiệm, HTX tiêu dùng, HTX dịch vụ. Trong đó, HTX nông nghiệp
có 1797 HTX chiếm 52,1% trong chiếm vai trò quan trọng nhất và chủ đạo
trong phong trào HTX ở Thái Lan. Hiện nay, HTX nông nghiệp đa ngành có
HTX tín dụng, HTX dịch vụ cũng khá phát triển mạnh mẽ. Mục đích hoạt
động chủ yếu của các loại HTX này là kinh doanh có lãi, giúp đỡ xã viên
trong điều kiện khó khăn và đáp ứng mọi dịch vụ mà xã viên yêu cầu.
Tất cả các loại HTX ở Thái Lan đều nằm trong, là thành viên của hiệp hội
các HTX ở Thái Lan. Đây là cơ quan đứng đầu của toàn bộ phong trào HTX ở
Thái Lan. Nhiệm vụ chính của các hiệp hội các HTX ở Thái Lan là thúc đẩy
và phát triển các hoạt động chung của các tổ chức, các thành viên, giữ vai trò
cầu nối giữa phong trào HTX với Nhà nớc, giữa các liên hiệp HTX trong hiệp
hội với nhau, thực hiện các mối quan hệ quốc tế của hiệp hội với liên minh
HTX quốc tế và các tổ chức nớc ngoài khác.
5. Một số nhận xét và bài học rút ra từ HTX nông nghiệp ở một số nớc
trên thế giới.
- Các HTX nông nghiệp chỉ thực hiện chức năng chủ yếu của mình là làm
dịch vụ cho sản xuất của các hộ gia đình tạo điều kiện cho các hộ gia đình
nông dân sản xuất tốt nhất.
- Mục đích chủ yếu của HTX là phục vụ sản xuất nông nghiệp của các hộ
gia đình xã viên chứ không phải kinh doanh kiếm lãi thuần tuý.
- Tính tự nguyện trong HTX nông nghiệp là rất cao. Ngời nông dân hoàn
toàn tự nguyện khi quyết định gia nhập hoặc xin ra HTX nông nghiệp.
- Phát triển đa dạng các hình thức hợp tác từ hợp tác đơn giản trong khâu
chuyên ngành đến những HTX đa chức năng (HTX dịch vụ, kinh doanh tổng
hợp).
- Một xã viên có thể tham gia nhiều HTX.
- Có sự phân biệt giữa ngời xã viên và ngời lao động trong HTX nông
nghiệp. Xã viên là ngời góp cổ phần vào HTX nông nghiệp để hởng dịch vụ
của HTX nông nghiệp, còn lao động trong HTX nông nghiệp kể cả lao động
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
18
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
làm công tác quản lý trong HTX nông nghiệp do ban quản trị HTX nông
cửa ngõ vào Thủ đô qua các quốc lộ 1,2,3,6 và đờng cao tốc Láng-Hoà
Lạc.Tỉnh Hà Tây gồm 14 huyện, thị xã ; trong đó có hai thị xã là Hà Đông và
Sơn Tây. Phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ,Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Ninh
Bình; phía Đông giáp Thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình.
Với vị trí địa lý trên đây, tỉnh Hà Tây có điều kiện mở rộng giao lu, quan
hệ thị trờng trong và ngoài nớc.Nhất là có vị trí kề cận với Thủ đô Hà Nội, là
trung tâm chính trị-kinh tế-văn hoá của cả nớc, tạo điều kiện tốt để tiếp thu
tiến bộ khoa học-kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, thủ công
mỹ nghệ và là nơi thu hút lao động của tỉnh.
b- Khí hậu:
Hà Tây nằm trong nền khí hậu chung của vùng đồng bằng Bắc bộ là khí
hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm và có mùa đông lạnh. Với đặc điểm địa mạo
Hà tây đợc chia làm 2 vùng rõ rệt:
+ Vùng đồng bằng: Có độ cao trung bình 5-7m,chịu ảnh hởng của gió
biển,khí hậu nóng ẩm,nhiệt độ trung bình năm 23.8
0
C, lợng ma trung bình
năm 1700-1800mm.
+Vùng gò đồi: Độ cao trung bình 15-50m,khí hậu lục địa chịu ảnh hởng
của gió Lào, nhiệt độ trung bình năm 23,5
0
C, lợng ma trung bình 2300-
2400mm.
với đặc điểm nh vậy cho phép Hà Tây phát triển một nền nông nghiệp đa
dạng.
c. Đất đai:
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
20
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Diện tích đất đai toàn tỉnh 219161 ha, trong đó đất nông nghiệp 123399
- Tuyến vành đai Thủ đô qua cầu Thăng Long khổ đờng 1 m qua địa phận
tỉnh 13 km có ga Bala ở phía Tây Thị xã Hà Đông.
- Tuyến Hà nội-TP Hồ Chí Minh khổ đờng 1 m qua địa phận tỉnh 29.5
km.
+ Mạng đờng sông: Tổng chiều dài đờng sông khai thác vận tải đợc trên
địa bàn tỉnh là 199 km,trong đó:
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
21
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Sông Đà từ Sơn La, Lai Châu qua vùng hồ Hoà Bình đến ngã ba sông
Hồng dài 93.8 km qua địa phận tỉnh phía hữu ngạn 32 km.
- Sông Hồng từ Lào Cai,Yên Bái qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc dài 114 km
qua địa phận tỉnh phía hữu ngạn 127 km.
- Sông Đáy do địa phơng quản lý dài, trên sông có công trình đại thuỷ
nông đập Đáy nằm ở ngã ba sông Đáy-sông Hồng.
Ngoài ra, Hà Tây còn có các tuyến sông nội tỉnh nh sông Tích, sông
Nhuệ, sông Bùi chủ yếu phục vụ đắc lực cho tới tiêu đồng ruộng.
+ Mạng giao thông đờng bộ: Đến nay,mạng lới giao thông đờng bộ của
tỉnh đã phủ đều trên khắp toàn lãnh thổ. Hiện nay, tổng chiều dài là 4503.4
km, trong đó: Đờng quốc lộ do trung ơng quản lý dài 194.4 km, đờng tỉnh lộ
(24 tuyến) dài 274.6 km, đờng huyện 501 km, đờng đô thị là 25.1 km, đờng
liên xã 302 km và đơng liên thôn 3206.3 km. Tuy nhiên, đờng giao thông tỉnh
Hà Tây (nhất là đờng thôn xóm) có chất lợng cha cao, cha đáp ứng đợc nhu
cầu phát triển kinh tế. Hầu hết các tuyến đờng đều thiết kế cho xe có trọng tải
thấp, mặt đờng chỉ rộng từ 3.5-5.5 m, cấu kết mặt đờng hầu hết đều không có
móng (chỉ có lớp đá 8-12 cm), lớp mặt láng nhựa, đổ bê tông, đá dăm hoặc để
nguyên đất.Các đờng liên thôn, liên xã nhỏ hẹp, chỉ đủ cho một làn xe chạy và
vào mùa ma thờng lầy lội, khó đi.
b- Công trình thuỷ lợi:
Hiện nay,toàn tỉnh có 7 công trình đại thuỷ nông: Suối Hai, Đồng Mô,
khoảng 20 - 25% số hộ có thu nhập dới 10 triệu đồng .Toàn tỉnh chỉ còn
khoảng 2500 hộ đói nghèo, chiếm khoảng 5.4% tổng số hộ dân c trong toàn
tỉnh.
+Hiện nay, tổng số lao động làm nông nghiệp là 894110 ngời nhng chất l-
ợng lao động còn hạn chế. Nếu chia tổng số lao động theo trình độ văn hoá thì
có: 17882 ngời cha biết chữ (chiếm 2%), 135904 ngời cha tốt nghiệp cấp I
(chiếm 15.2%), 270915 ngời đã tốt nghiệp cấp I (chiếm 30.3%),314726 ngời
đã tốt nghiệp cấp II (chiếm 35.2%), số còn lại đã tốt nghiệp cấp III là 154683
ngời (chiếm 17.3%). Nếu chia tổng số lao động theo trình độ chuyên môn, kỹ
thuật thì: Số ngời cha đào tạo chuyên môn,kỹ thuật là 815428 ngời (chiếm
91.2%), 8941 ngời đã qua đào tạo sơ cấp (chiếm 1%), số ngời đã qua trung
học chuyên nghiệp là 50069 ngời (chiếm 5.6%), số còn lại 19672 ngời ( chiếm
2.2%) đã qua đào tạo từ Cao đẳng trở lên. Nh vậy, tỷ lệ lao động của tỉnh đã
qua đào tạo chuyên môn, kỹ thuật còn thấp ( dới 10% trong tổng số lao động).
Trong những năm tới vấn đề đào tạo chất lợng lao động cần đợc tỉnh quan tâm
hơn nữa.
4. Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Hà Tây:
+ Tổng giá trị sản phẩm: Trong thời gian vừa qua,với cơ chế quản lý
thích hợp, kinh tế của tỉnh Hà Tây đã có những bớc phát triển đáng kể.Tốc độ
phát triển kinh tế (Tính theo giá trị so sánh) tăng bình quân 7.65%/năm trong
giai đoạn 1995-2001.
Biểu 2: GTSX và GTSX bình quân đầu ngời tỉnh Hà Tây.
Năm
Giá trị thực tế
(tỷ đồng)
Giá trị so sánh
(tỷ đồng)
GTSX /ngời/năm
(giá hiện hành:1000
đ
% cơ cấu 1.29 1.16 1.13 1.11
3.Thuỷ sản 94.90 101.60 105.60 121.10
% cơ cấu 3.17 3.15 3.13 3.44
Nguồn: Cục Thống kê Hà Tây.
Qua biểu trên ta thấy rằng, giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp liên
tục tăng qua các năm, từ năm 1998 2001 tăng 529.5 tỷ đồng ( tăng 17.7%).
So với toàn ngành, qua các năm ngành nông nghiệp và thuỷ sản tăng lên cả giá
trị và tỷ trọng, riêng ngành lâm nghiệp thì lại giảm đi ( từ năm 1998 2001
giảm 0.6 tỷ đồng. Đối với ngành nông nghiệp đã có sự chuyển biến rõ rệt từ
ngành trồng trọt sang ngành chăn nuôi, nếu nh năm 1998, tỷ trọng ngành
trồng trọt là 69.3%, ngành chăn nuôi là 30.7% thì năm 2001 tỷ lệ này tơng
ứng là 65.6% và 34.4%.
Nguyễn Văn Đăng - Lớp Nông nghiệp 40B
24
Luận văn tốt nghiệp Khoa Nông nghiệp và phát triển nông thôn
5. Đánh giá chung
- Về thuận lợi
+ Hà Tây có những thuận lợi về thời tiết,khí hậu,đất đai và các nguồn lực
để thực hiện đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, luân canh đợc nhiều vụ trong
năm. Phát triển các loại cây lơng thực, thực phẩm, đặc biệt là cây công nghiệp
có giá trị kinh tế cao.Để đa nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá thì ngoài
những thuận lợi đã nêu ở trên, việc hỗ trợ các khâu dịch vụ của HTX nông
nghiệp là quan trọng ở cả trớc,trong và sau quá trình sản xuất nông nghiệp,
nên đòi hỏi chất lợng hoạt động kinh doanh dịch vụ ở HTX nông nghiệp phải
đợc nâng cao.
+ Qua một thời gian dài đầu t và xây dựng cơ sở hạ tầng, Hà Tây đã có
một cơ sở hạ tầng tơng đối đồng bộ và vững chắc, góp phần thúc đẩy phát
triển nông nghiệp nông thôn. Nó sẽ tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hoá,
dịch vụ, kiến thức khoa học-kỹ thuật sẽ tác động tới hộ nông dân và lúc đó
họ sẽ yên tâm đầu t cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Lúc này, yêu cầu đặt