BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM
Nguyễn Hoài Bảo PHÂN TÍCH NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN LẠM PHÁT
CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1995-2007
BẰNG MÔ HÌNH P-STAR
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
BẰNG MÔ HÌNH P-STAR
Chuyên ngành: Kinh tế Phát Triển
Mã số: 60.31.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Nguyễn Trọng Hoài
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2008 Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Nguyễn Hoài Bảo
Đối tượng nghiên cứu 3
4.
Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 3
5.
Kết cấu của đề tài 3
6.
Những đóng góp của đề tài 4
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT LẠM PHÁT VÀ MÔ HÌNH P-STAR 5
3.1.
Định nghĩa lạm phát và cách đo lường 5
3.2.
Quan điểm các trường phái kinh tế vĩ mô về nguyên nhân lạm phát 8
1.2.1.
Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ. 9
1.4.2.
Mô hình P-Star và nền kinh tế “đóng” 24
1.4.3.
Mô hình P-Star và nền kinh tế “mở - nhỏ” 27
1.4.4.
Mô hình P-Star tổng quát 29
3.5.
Những bằng chứng thực nghiệm của mô hình P-Star 30
CHƯƠNG 2 33
LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM: DIỄN BIẾN VÀ MÔ TẢ 33
2.1.
Lịch sử lạm phát của Việt Nam 33
2.2.
Lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu (1995-2007) 37
2.3.
3.2.2.
Neo tỷ giá của đồng Việt Nam 55
3.2.3.
Kiểm định thống kê các biến 58
3.3.
Ước lượng các giá trị cân bằng 60
iii
3.4.
Chênh lệch giá và kiểm định tính chất các biến hồi qui 64
3.5.
Lựa chọn mô hình thích hợp 67
3.6.
Phân tích kết quả thực nghiệm 69
3.7.
Kết luận và gợi ý chính sách 71
IMF Quĩ Tiền tệ Quốc tế International Monetary Fund
USD Đồng đô la Mỹ United States dollar
VND Việt Nam Đồng Viet Nam Dong
WB Ngân hàng Thế giới World Bank
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization
Ký hiệu Tên tiếng Việt Từ tiếng Anh
π
Lạm phát Inflation
AD Tổng cầu Aggregate Demand
AS Tổng cung Aggregate Supply
CPI Chỉ số giá tiêu dùng Consumer Price Index
E Tỷ giá hối đoái (danh nghĩa) Exchange rate
ER Tỷ giá hối đoái thực Real Exchange rate
GAPD Chênh lệch giá trong nước Domestic Price Gap
GAPF Chênh lệch giá nước ngoài Foreign Price Gap
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
GDPdeflator GDP điều chỉnh GDP deflator
M Khối lượng tiền Money
P Mức giá Prices
T Tổng số giao dịch Transaction
Y Tổng sản lượng thực Output
V Vòng quay tiền Velocity
v
Danh mục các bảng
Bảng 1. 1 Quan hệ giữa chênh lệch sản lượng, vòng quay tiền và lạm phát 26
Bảng 2. 1 Cơ cấu tính CPI của Việt Nam 39
Hình 2. 3 Tỷ lệ tổng đầu tư trong GDP của Việt Nam 1995 – 2006 (%) 36
Hình 2. 4 Cơ cấu đầu tư của Việt Nam 1995 – 2006 (%) 37
Hình 2.5 Lạm phát của Việt Nam tính theo CPI và GDPdeflator 1995-2007 (%) 38
Hình 2.6 Chỉ số giá của Việt Nam trong từng nhóm hàng chi tiết 2000 – 2007 40
Hình 2.7 Tốc độ tăng giá của nhóm lương thực thực phẩm hàng tháng so với mức
tốc độ tăng giá chung trong các năm. 44
Hình 2. 8 Giá dầu thô trên thế giới trong giai đoạn 1995 – 2007 45
Hình 2.9 Tăng trưởng M2 của Việt Nam, Thái Lan và Trung quốc qua các năm 47
Hình 2.10 Kiếu hối của Việt Nam, số liệu thống kê chính thức (triệu đô la) 49
Hình 2.11 Tỷ giá hối đoái của Việt Nam và Trung Quốc 50
Hình 3.1 Biến động tỷ giá của VND so với một số đồng tiền mạnh. 56
Hình 3.2 Tỷ trọng (%) của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của từng nước trong 10
đối tác thương mại chính. 57
Hình 3.3 Giá trị cân bằng của thu nhập, vòng quay tiền và tỷ giá Việt Nam 1995Q2
– 2007Q2 63
Hình 3.4 GAPD và GAPF dạng mức và I(1). 66vii
(9,6 phần trăm) và khi đó mặc dù có một số giải pháp ngắn hạn từ Chính phủ, chẳng
hạn như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với hệ thống ngân hàng thương mại nhằm
thắt chặt tiền tệ, nhưng lạm phát trong giai đoạn 2004-2007 vẫn tiếp tục tăng vọt.
Trong giai đoạn này, thay vì giảm lạm phát phải trở thành mục tiêu ưu tiên cao nhất
trong các mục tiêu quản lý vĩ mô thì Chính phủ vẫn tiếp tục xem tăng trưởng kinh tế
là quan trọng hàng đầu. Sự thiếu quan tâm này xuất phát từ những nhận định trái
ngược nhau về nguyên nhân tạo ra lạm phát, không ít trong số đó xem lạm phát tăng
cao là kết quả của những nguyên nhân khách quan chứ không phải từ chính sách
chủ quan của chính Chính phủ.
Thực tế, một cách tổng quát, có hai dòng ý kiến trái ngược nhau. Dòng ý kiến thứ
nhất là cho rằng lạm phát có thể bắt nguồn từ giá thế giới tăng (đại diện là giá dầu
lửa và giá lương thực tăng) và như vậy sự tăng giá của các mặt hàng này trên thế
giới lan truyền sang giá nội địa là một điều hiển nhiên. Giải pháp khả dĩ chống lạm
phát của nhóm này là hạn chế sự lan truyền thông qua thuế quan và can thiệp giá
trực tiếp trên thị trường nội đia, chẳng hạn như trợ giá xăng dầu.
Ngược lại, nhóm ý kiến thứ hai phản biện rằng sự gia tăng của lạm phát bắt nguồn
từ nguyên nhân bên trong chứ không phải từ bên ngoài. Cụ thể, nhóm này cho rằng
cung tiền đã tăng quá cao trong suốt giai đoạn trên chính là nguyên nhân dẫn đến
lạm phát cao. Mặc dù hai nhóm ý kiến trên đều có luận cứ cho riêng mình, nhưng
phần lớn đều là những nhận định chủ quan và thiếu những bằng chứng thực nghiệm
tin cậy.
2
Hơn thế nữa, những sự kiện ảnh hưởng đến lạm phát này ngày càng diễn ra phức
tạp, giá dầu trong năm 2007 và nữa đầu năm 2008 tiếp tục leo thang, cung tiền trong
nước tiếp tục mở rộng, dòng vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp vẫn tràn vào Việt Nam
sau khi quốc gia này trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới….Trong năm 2007, sự mở cửa trên thị trường vốn và sự tăng vọt về khối lượng
thương mại trên thị trường hàng hoá đã làm cho các biến số gây ra lạm phát vô cùng
phức tạp. Điều này đã dẫn đến các đề nghị chính sách không theo một hướng nhất
chính là bối cảnh của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, khi phân tích nhân tố bên
ngoài có ảnh hưởng đến lạm phát của Việt Nam – như một nền kinh tế nhỏ và mở
cửa thì nền kinh tế Mỹ sẽ đại diện như là nước ngoài, khi đó VND neo danh nghĩa
vào USD.
4.
Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là những vấn đề liên quan đến lạm phát cũng như
biến động của nó. Các nhân tố tạo nên lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn cũng
được kiểm chứng ở đây.
Để trả lời cho các câu hỏi ở phần mục tiêu nghiên cứu. Ngoài các phương pháp mô
tả thống kê cơ bản và nhận định vấn đề theo lối diễn dịch hoặc qui nạp, nghiên cứu
này dựa vào phương pháp định lượng để kiểm chứng giả thuyết. Người viết sẽ thực
hiện các hồi qui thực nghiệm trên cơ sở của giả thuyết mô hình kinh tế lượng P-
Star. Những hồi qui này được thực hiện bằng phần mềm Eviews phiên bản 5.
5.
Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, danh mục bảng, danh mục hình, danh mục các chữ viết tắt, phụ
lục, tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương nội dung:
Chương 1: Tổng quan về lý thuyết lạm phát và mô hình P-Star. Mục tiêu của
chương này là tóm tắt những lý thuyết có liên quan đến vấn đề lạm phát của một
nền kinh tế. Sau đó chúng tôi phân tích chi tiết về sự phát triển cũng như ứng dụng
của mô hình P-Star trong phân tích lạm phát. Chương này làm cơ sở cho các vấn đề
phân tích thực nghiệm của các chương sau.
4
Chương 2: Lạm phát ở Việt Nam: diễn biến và mô tả. Mục tiêu của chương 2 là
mô tả bối cảnh phát triển kinh tế và lạm phát của của Việt Nam. Chương này đặc
biệt nhấn mạnh những diễn biến chi tiết của lạm phát trong giai đoạn mà nghiên cứu
này thực hiện. Những ý kiến phân tích trong cùng chủ đề này cũng được đề cập
nhằm mục đích làm rõ cho tính thực tiễn và lý do chọn đề tài. Nội dung của chương
hỏi cần được trả lời thấu đáo. Thế nào là giá cả chung? Thế nào là tăng một lần?
Để giảm bớt sự tranh luận thế nào là nhóm hàng cá biệt hoặc thế nào là sự tăng lên
một lần hay liên tục, các nhà kinh tế thống kê đề xuất ra các loại lạm phát mang tính
“chính xác” với định nghĩa của nó hơn như là lạm phát cơ bản (core inflation) hay
lạm phát cơ sở (underlying inflation). Với các chỉ số lạm phát này, bằng các phương
pháp thống kê khác nhau, các nhà thống kê tìm cách loại trừ đi các biến động nhất
thời như các cú sốc về giá dầu, yếu tố thời tiết …để thấy được xu hướng cơ bản và
ổn định của giá cả.
1
Về mặt tính toán, lạm phát là phần trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền
kinh tế theo từng giai đoạn, nó có thể là tháng, quí hoặc năm.
1
Có thể tham khảo bài “Better measures of core inflation” của Julie K. Smith, bài trình bày tại Hội thảo Đo
lường Giá cả cho Chính sách tiền tệ (Price Measuring ofr Monetary Policy) tổ chức tại Federal Reserve
Bank of Dallas ngày 24-25/5/2007 tại: (Smith,
2007). Trong luận văn này, khái niệm lạm phát hiểu một cách tổng quát là sự tăng lên của mức giá chung.
Khi đề cập đến lạm phát cụ thể của Việt Nam thì lạm phát tính theo CPI và lạm phát tính theo GDPdeflator
được sử dụng. Hiện tại ở Việt Nam chưa công bố các chỉ số lạm phát cơ bản.
6
Để đo lường mức giá chung này, các nhà thống kê xây dựng hai chỉ số giá để đo
lường. Thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và thứ hai là GDP điều chỉnh
(GDPdeflator). Cả hai chỉ số này đều tính toán mức giá trung bình (có trọng số) của
toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Sự khác biệt duy nhất giữa hai loại
chỉ số này là quan điểm của rổ hàng hoá làm trọng số tính toán.
CPI là một tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với chính giá
của rổ hàng đó ở một năm nào đó. Thống kê gọi đó là năm cơ sở hay năm gốc
(based year). Nghĩa là, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là không thay đổi
trễ từ một quí đến một năm (tuỳ vào cơ quan thống kê của từng quốc gia).
Bởi vì tính chất khác biệt như trên, về mặt lý thuyết, CPI thường phóng đại mức giá
sinh hoạt. Còn đối với GDPdeflator thì ngược lại, nghĩa là có khuynh hướng đánh
giá thấp mức giá này (Chung, 2002).
2
Chính vì sự thiếu hoàn hảo của cả hai chỉ số, một chỉ số trung bình nhân của cả CPI
và GDPdeflator được đề nghị và gọi là chỉ số Fisher (Fisher Index) theo tên của nhà
kinh tế học Irving Fisher.
3
Ba chỉ số trên là giá trị cơ sở, các cơ quan thống kê của các nước có thể ước tính chỉ
số giá theo một số đặc điểm khác nhau nhằm phục vụ cho những phân tích khác
nhau của nền kinh tế. Ví dụ như chỉ số giá tiêu dùng ở nông thôn, thành thị, chỉ số
giá bán buôn, chỉ số giá công nghiệp, chỉ số giá nhập khẩu,…
Tóm lại, với một định nghĩa đơn giản, song về thực nghiệm thì có nhiều cách để đo
lường lạm phát và nó tuỳ thuộc vào chỉ số giá chung nào của nền kinh tế được áp
dụng. Cho dù bằng phương pháp nào đi chăng nữa thì vẫn có những hạn chế hoặc
về phương pháp luận lẫn thực hành. Để giảm bớt hai sai lầm này, việc phân tích lạm
phát phải dựa trên nhiều chỉ số đối chứng khác nhau và trong một bối cảnh thời gian
2
Phạm Chung và Trần Văn Hùng, 2002, Kinh tế Vĩ mô Phân tích, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh.
3
Phụ lục I trình bày công thức tính toán 3 chỉ số giá vừa nêu.
8
tương đối dài để tránh các nhận định nhất thời. Đồng thời sự thiếu tin cậy này cũng
là một phần nguyên nhân của các cuộc tranh luận không chỉ trong vấn đề tính toán
nhóm cuối cùng, thứ tư, là lạm phát bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế chính trị.
Cũng nên lưu ý rằng, trong từng nhóm này lại có những quan điểm tranh luận khác
nhau. Chẳng hạn như, mặc dù cùng đồng ý với nhau khối tiền hay tốc độ tăng cung
tiền trong nền kinh tế là nguyên nhân chính tạo ra lạm phát. Nhưng giữa các nhà
kinh tế trong nhóm Tân cổ điển (neo-classical) lại giải thích cơ chế lan truyền khác
với nhóm của những nhà kinh tế gọi là trường phái tiền tệ (monetarism).
1.2.1. Lạm phát là một hiện tượng của tiền tệ.
a. Quan điểm của Cổ điển và Tân cổ điển
Những nhà kinh tế học Cổ điển (classical) và Tân cổ điển (neo-classical)
4
sử dụng
thuyết số lượng tiền (quantity theory of money) để giải thích cho lạm phát. Thuyết
số lượng tiền tệ dựa trên phương trình trao đổi như sau:
[1.1] MV = PT
Trong đó là M là khối lượng cung tiền, V là vòng quay của tiền, P là mức giá chung
trong nền kinh tế và T là khối lượng giao dịch thực (the real volume of transactions)
và giả thuyết T này bằng với sản lượng trong nền kinh tế là Y. Trong khuôn khổ của
lý thuyết này thì tổng cung (AS) được giả định là cho trước ở mức độ tòan dụng,
hay nói cách khác là sản lượng đang ở tình trạng cân bằng dài hạn.
[1.2] AS = Y
Với Y là tổng sản lượng thực được xác định bởi hàm sản xuất trong dài hạn. Trong
khi đó tổng cầu (AD) được xác định như sau:
[1.3] AD = (M.V)/P
4
Những đại diện cho nhà kinh tế học Cổ điển là David Hume, Adam Smith, David Ricardo và John Stuart
Mill; đại diện cho những nhà kinh tế học Tân cổ điển là Leon Walras, Alfred Marshall, Irving Fisher và
Arthur C. Pigou.
10
11
tổng quát mà không ảnh hưởng gì đến cung và cầu hàng hoá, hay nói cách khác là
sản lượng thực trong nền kinh tế không thay đổi. Hiện tượng này thường được biết
đến với tên gọi là tính trung lập của tiền (neutrality of money).
Ngược lại, theo O’Brien thì những nhà kinh tế học cổ điển, chẳng hạn như David
Hume, thì giả định rằng không có toàn dụng lao động và vì thế không có sự phân
đôi ở đây. Theo Hume, sự tăng lên của cung tiền sẽ dẫn đến sự tăng lên của mức giá
tổng quát bằng một cơ chế lan truyền khác. Cụ thể, sự tăng lên của khối lượng tiền
mặt sẽ trước hết dẫn đến việc chi tiêu hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn và khi đó phải
sản xuất nhiều hơn. Sau đó, dưới giả định chưa toàn dụng lao động, giá sẽ từ từ điều
chỉnh theo sự tăng cung tiền. Do vậy, tiền tệ không đóng vai trò trung lập như trong
Tân cổ điển. Theo cách tiếp cận này, lạm phát sẽ khác nhau giữa ngắn hạn và dài
hạn. Trong ngắn hạn giá cả có thể bị cứng nhắc và sản lượng thực cũng có thể tăng
lên bởi lượng tiền tăng.
b. Quan điểm của trường phái tiền tệ
Milton Friedman đóng vai trò là người sáng lập ra trường phái tiền tệ (monetarism).
Có nhiều đóng góp khác nhau trong khoa học kinh tế vĩ mô của nhóm này. Một
trong những đóng góp nổi bật là phân tích vai trò của tiền ảnh hưởng như thế nào
đến giá cả và sản lượng trong nền kinh tế. Friedman đã đặt ra một quan điểm khác
về cầu tiền so với hầu hết các quan điểm thống trị đương thời, chẳng hạn như quan
điểm về cầu tiền của J. M. Keynes (chúng ta sẽ nói rõ hơn về quan điểm của Keynes
trong phần bên dưới). Hàm cầu tiền của Keynes là một hàm số liên quan đến thu
nhập thực và tiền chỉ đóng vai trò trao đổi. Trong khi đó Friedman cho rằng dân
chúng giữ tiền vì ngoài việc dùng tiền để trao đổi thì họ còn xem tiền như một tài
sản và thu nhập thường xuyên, chứ không phải là thu nhập thực, là biến số ảnh
hưởng đến cầu tiền.
Dựa vào giả định này, Friedman đã cho kết luận rằng tiền đóng vai trò trung lập
giống như kết luận của Tân cổ điển. Hay nói cách khác, việc tăng cung tiền sẽ kéo
theo lạm phát trong dài hạn. Nhưng ông cho rằng không có sự phân đôi cổ điển
lương) và giá cả hàng hoá và dịch vụ có thể thay đổi. Ông mô tả lạm phát trong một
13
mô hình có tên gọi là “hố cách lạm phát” (inflationary gap). Theo đó, lạm phát hoạt
động như một cái bơm chuyển thu nhập từ những người làm công ăn lương–đây là
nhóm có khuynh hướng tiết kiệm biên (marginal rate of saving) lẫn biên độ thuế
(marginal tax rate) là thấp, sang khu vực doanh nghiệp – đây là nhóm có khuynh
hướng tiết kiệm biên lẫn biên độ thuế cao. Như vậy, lạm phát như là một cơ chế để
tái phân phối thu nhập.
Theo Keynes, một sự tăng lên đột ngột của tổng cầu, chẳng hạn như trong tình
huống chiến tranh, sẽ dẫn đến mức giá tăng lên trong khi thị trường lao động đang
toàn dụng. Trong bối cảnh này, với tiền lương danh nghĩa tạm thời cố định (ví dụ
như do các hợp đồng lao động đã ấn định tiền lương trong giai đoạn làm việc) nên
việc tăng giá tạo ra một khoản lợi nhuận ngoài dự kiến cho các doanh nghiệp. Lợi
nhuận tăng lên này sẽ tạo ra một mức dư cầu trong thị trường hàng hoá. Chính mức
dư cầu trong thị trường hàng hoá này sẽ tạo ra sự dư cầu trên thị trường lao động.
Kết quả là với sự cạnh tranh của các doanh nghiệp thì tiền lương danh nghĩa sẽ tăng
cho đến khi nào mà tiền lương thực quay về với mức ban đầu của nó. Trong trường
hợp tiền lương thực tăng lên cũng có tác động tương tự, nghĩa là cũng tạo ra sức ép
ở phía cầu trong thị trường hàng hoá và giá cả lại tiếp tục tăng. Một khi mà cơ chế
lan truyền từ cầu sang cung và thị trường lao động có độ trễ thì vòng xoáy lạm phát
sẽ diễn ra. Do vậy, theo Keynes, cắt giảm phía cầu là là giải pháp chính để cắt giảm
lạm phát.
Hộp 1: Tranh luận xung quanh đường cong Phillips
Lập luận của Keynes bên trên thì cho rằng lạm phát xảy ra hoàn toàn bắt nguồn từ
phía cầu khi mà tiền lương bị cứng nhắc mà không hề nhắc gì đến thị trường tiền tệ
như trường phái Cổ điển hoặc Tân cổ điển. Ở mức độ tổng quát thì nguyên nhân
lạm phát của Keynes đến từ phí cầu kéo lẫn chi phí đẩy. Nhưng phần lớn các hậu
duệ của ông, được gọi là trường phái Keyens (Keynesian school), chẳng hạn như A.
Smithies, G. Ackley, S. Maital và A. Trevithhick thì luôn xem phía cầu là một
và lúc đó cũng có dư cầu trong thị trường hàng hoá thì lạm phát sẽ tăng lên, và
ngược lại.
Tuy nhiên, quan hệ này đã không còn đúng nữa vào giai đoạn 1973-1974 và 1978-