Kiểm toán nhà nớc
Trung tâm Khoa học và Bồi dỡng cán bộ Báo cáo tổng kết
đề tài khoa học cấp cơ sở
Đề tài: định hớng và giải pháp tổ chức thực
hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và
quản trị tài chính tại Trung tâm Khoa học và
Bồi dỡng cán bộ Kiểm toán Nhà nớc. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thanh Mai
Trởng phòng Thông tin khoa học
Các thành viên: Nguyễn Tuấn Nam
Nguyễn Bích Thuỷ đề tài khoa học cấp cơ sở
Đề tài: định hớng và giải pháp tổ chức thực
hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và
quản trị tài chính tại Trung tâm Khoa học và
Bồi dỡng cán bộ Kiểm toán Nhà nớc.
Cơ quan chủ trì:
trung tâm khoa học và bồi dỡng cán bộ
kiểm toán nhà nớc
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thanh Mai
Trởng phòng Thông tin khoa học
QTTC
10 Sự nghiệp
SN
Mục lục
Tt Tiêu đề Trang
Mở đầu 1
Chơng1 Những vấn đề lý luận về hoạt động DV và DV
kế toán, kiểm toán và QTTC
3
1.1 Khái niệm và phân loại dịch vụ 3
1.1.1 Khái niệm về hoạt động dịch vụ 3
1.1.2 Phân loại hoạt động dịch vụ 5
1.2 DV kế toán, kiểm toán, QTTC và những quy định
của về tổ chức hoạt động các DV này trên thị trờng
9
1.2.1 Một số vấn đề lý luận về DV kế toán, kiểm toán và
2.2.2 Khó khăn 43
2.3 Mục tiêu, định hớng về nội dung hoạt động DV kế
toán, kiểm toán và QTTC tại Trung tâm KH và
BDCB
49
2.3.1 Mục tiêu 49
2.3.2 Định hớng về nội dung hoạt động DV kế toán, kiểm
toán và QTTC tại Trung tâm KH và BDCB
52
TT Tiêu đề Trang
2.4 Một số giải pháp và kiến nghị để phát triển hoạt
động DV kế toán, kiểm toán và QTTC tại Trung
tâm KH và BDCB.
56
2.4.1 Xây dựng bộ máy tổ chức, cơ chế hoạt động và chế độ
tài chính tại Trung tâm KH và BDCB phù hợp với yêu
cầu tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ĐVSN công lập
theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ
56
2.4.2 Đẩy mạnh quảng cáo và xúc tiến thị trờng cho các loại
hình DV kế toán, kiểm toán và QTTC của Trung tâm
KH và BDCB.
61
2.4.3 Xây dựng chơng trình đào tạo phong phú, hấp dẫn,
phù hợp và có chất lợng cao
63
2.4.4 Đổi mới quan điểm và cách thức tuyển dụng, đào tạo
nguồn nhân lực
64
Mở đầu
1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài.
Trung tâm Khoa học và Bồi dỡng cán bộ là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Kiểm toán Nhà nớc có chức năng nghiên cứu khoa học và đào tạo bồi dõng cán
bộ, công chức, kiểm toán viên cho KTNN. Từ ngày thành lập đến nay, Trung tâm
đã đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển và triển khai hoạt động của KTNN.
Hiện nay, Trung tâm có một đội ngũ nghiên cứu khoa học và giáo viên kiêm chức
đợc đào tạo đầy đủ, trong đó lực lợng trẻ chiếm đa số, năng động, linh hoạt. Tuy
nhiên do những khó khăn, hạn chế nhất định cả về khách quan lẫn chủ quan, lực
lơng này cha phát huy đợc hết năng lực và nhiệt tình công tác. Trong khi đó
nhu cầu về dịch vụ đào tạo và t vấn về kế toán, kiểm toán, quản trị tài chính cho
các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đang rất lớn.
Trong quá trình thực hiện cải cách hành chính, Nhà nớc đã có những chủ trơng,
chính sách cho phép các ĐVSN phát triển các dịch vụ, mở rộng thêm nguồn thu,
cải thiện thu nhập cho cán bộ công chức và tự trang trải một phần hoặc toàn bộ
chi phí thờng xuyên. Tại KTNN, Quyết định 115/QĐ-KTNN ngày 01 tháng 3
năm 2003 của Tổng Kiểm toán Nhà nớc cũng đã cho phép Trung tâm KH và
BDCB tổ chức các lớp đào tạo bồi dỡng về kiểm toán cho các tổ chức cá nhân có
nhu cầu; cung cấp các dịch vụ t vấn về kế toán, kiểm toán cho các tổ chức ngoài
KTNN theo quy định của Pháp luật và của Tổng Kiểm toán Nhà nớc. Trong bối
cảnh đó, việc nghiên cứu để đa ra đợc những định hớng, hình thức tổ chức,
phơng pháp và giải pháp tổ chức các dịch vụ đào tạo, t vấn về kế toán, kiểm toán
và quản trị tài chính tại Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nớc là rất cần
thiết nhằm khai thác tối đa năng lực của đội ngũ cán bộ khoa học và giáo viên kiêm
chức của đơn vị, tạo nguồn thu cho Trung tâm, tạo môi tr
ờng để rèn luyện kỹ
năng nghề nghiệp, cải thiện đời sống cho cán bô - viên chức, góp phần hoàn thành
nhiệm vụ chuyên môn, Vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học Định hớng và giải
pháp tổ chức thực hiện các hoạt động DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính
của Trung tâm KH và BDCB Kiểm toán Nhà nớc có ý nghĩa cả về mặt lý luận
- Phơng pháp tổng hợp, phân tích.
- Phơng pháp suy luận và diễn giải.
6. Kết cấu của đề tài gồm 2 chơng, 8 mục.
Chơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động dịch vụ và dịch vụ kiểm toán, kế toán
và quản trị tài chính;
Chơng 2: Thực trạng hoạt động và định hớng, giải pháp tổ chức phát triển
dịch vụ kế toán, kiểm toán và quản trị tài chính tại Trung tâm KH và BDCB Kiểm
toán Nhà nớc. 3
Chơng 1
Cơ sở lý luận về hoạt động Dịch Vụ và Dịch Vụ
kiểm toán, kế toán và quản trị tài chính 1.1. kháI niệm và phân loại dịch vụ.
1.1.1. Khái niệm về hoạt động dich vụ
Điểm khác biệt cơ bản giữa SX hàng hoá với SX tự cung tự cấp đó là xuất hiện
sự trao đổi, mua bán, chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng các loại phơng tiện,
vật dụng, tài sản, sức lao động, giữa ngời này qua ngời khác, giữa vùng này qua
vùng khác, giữa quốc gia này qua quốc gia khác. SX hàng hoá càng phát triển càng
đòi hỏi phải sử dụng nhiều loại nguyên nhiên vật liệu, công cụ, máy móc, phơng
tiện và trải qua nhiều quá trình, công đoạn SX khác nhau. Đó chính là cơ sở cho sự
ra đời cho hàng loạt các DV cung ứng các yếu tố đầu vào và đầu ra cho các quá
trình sản xuất hàng hoá. Đồng thời, SX hàng hoá phát triển đã thúc đẩy nhanh tốc
Theo nghĩa rộng: DV là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của
chúng không tồn tại dới dạng hình thái vật thể. Hoạt động DV bao trùm lên tất cả
các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. DV không chỉ
bao gồm những lĩnh vực truyền thống nh: vận tải, du lịch, thơng mại ngân hàng,
bu điện, bảo hiểm, truyền thông liên lạc mà DV còn lan tỏa đến khu vực rất mới
nh: bảo vệ môi trờng, DV văn hóa, DV hành chính, t vấn pháp luật, t vấn tình
cảm [1]
Theo nghĩa hẹp: DV là một công việc cho ngời khác hay cộng đồng, là một
việc mà hiệu quả của nó đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngời nh: vận chuyển,
cung ứng nớc, đón tiếp, sữa chữa và bảo dỡng các thiết bị máy móc hay công
trình [1]
Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu trong nớc cũng đã đề
cập nhiều về DV. Trong sách tham khảo "Giải thích thuật ngữ Kinh tế đối ngoại
KD" của Nguyễn Thế Kỷ - Phạm Mạnh Khôi định nghĩa DV nh sau: DV
(Services) là kết quả của hoạt động SX mà không đem lại một sản phẩm vật chất,
nhng đem lại một lợi ích có giá trị kinh tế: thơng mại, săn sóc sức khỏe, du lịch,
quản trị hành chính v.v về phơng diện kinh tế, ngời ta thờng nói sự SX ra
hàng hóa và DV [7] hay: "DV là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo
ra các sản phẩm không tồn tại dới hình thái vật chất, không dẫn đến việc chuyển
quyền sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu SX và đời sống sinh hoạt của
con ngời" [7].
Luật thơng mại đợc Quốc hội Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 không quy định về
dịch vụ nhng giải thích rõ về hoạt động Cung ứng dịch vụ là hoạt động thơng
mại, theo đó một bên (bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho
một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có
nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Nh vậy cho đến nay trên thế giới cũng nh ở trong nớc đã có nhiều quan
điểm và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về DV, tuy cha có một quan điểm
10 ngành chính, 71 phân ngành, 294 nhóm, 1162 loại và tới 2093 tiểu loại ngành
SX&DV. Theo CPC thì DV đ
ợc đa vào từ ngành thứ 5 đến ngành thứ 9 và có tới
29 phân ngành DV, 101 nhóm, 401 loại DV và 917 tiểu loại DV [2].
1.1.2.2. Phân loại DV của Tổ chức thơng mại thế giới (WTO)
Ban Th ký của WTO đã chia "các DV" thành 12 ngành, bao gồm:
- Ngành I - các DV kinh doanh;
- Ngành II - các DV truyền thông;
6
- Ngành III - các DV xây dựng và kỹ thuật dân dụng;
- Ngành IV - các DV phân phối;
- Ngành V - các DV giáo dục;
- Ngành VI - các DV về môi trờng;
- Ngành VII - các DV tài chính;
- Ngành VIII - các DV về y tế;
- Ngành IX - các DV về du lịch và lữ hành;
- Ngành X - các DV văn hoá thể thao, vui chơi giải trí;
- Ngành XI - các DV vận chuyển;
- Ngành XII - các DV khác.
12 ngành DV này lại đợc chia tiếp thành 155 phân ngành khác nhau
Trong đó DV kế toán, kiểm toán nằm ở tiểu mục b (DV tính toán, kế toán,
kiểm toán), thuộc mục A (DV chuyên ngành), chuyên ngành I (DV kinh doanh).
Trong ngành VII (DV tài chính) mục B (DV ngân hàng và DV tài chính khác)
có 2 loại dịch vụ: DV ở tiểu mục k (DV t vấn và tài chính phụ khác bao gồm diễn
giải và phân tích số d tài khoản, nghiên cứu đầu t trực tiếp và gián tiếp ) và DV
ở tiểu mục l (cung cấp và chuyển tiếp thông tin tài chính và các phần mềm liên
quan do các nhà cung cấp làm và các DV tài chính khác ) có thể đợc xem là DV
t vấn quản trị tài chính.[2].
1.1.2.3. Phân loại DV của Tổng cục Thống kê Việt Nam
điều chỉnh để đáp ứng yêu cầu của quá trinh hội nhập và toàn cầu hoá.
Ngoài các cách phân loại trên, trong thực tế còn có một số cách phân loại
khác của những ngành, những cơ quan cụ thể phù hợp với cách thức tác động, điều
chỉnh và quản lý các hoạt động DV nh sau:
- Phân loại theo giai đoạn bán hàng, giao hàng:
+ Dịch vụ trớc bán hàng: dịch vụ thu gom hàng hóa, dịch vụ quảng cáo, dịch
vụ xúc tiến thị trờng, dịch vụ đóng gói;
+ Dịch vụ trong quá trình bán hàng: Dịch vụ vận chuyển, dịch vụ giao hàng,
dịch vụ thanh toán;
+ Dịch vụ sau bán hàng: Dịch vụ bảo hành, dịch vụ sữa chữa;
- Phân loại theo chủ thể thực hiện:
+ Chủ thể là cơ quan nhà nớc, các tổ chức kinh tế, xã hội;
+ Chủ thể là các doanh nghiệp;
+ Chủ thể là các hộ gia đình, cá nhân;
- Phân loại theo tính chất và ngành nghề hoạt động:
+ Dịch vụ đào tạo, giáo dục;
+ Dịch vụ y tê;
+ Dịch vụ t vấn;
+ Dịch vụ tài chính, tín dụng;
+ Dịch vụ kế toán, kiểm toán;
8
+ Dich vụ khoa học và công nghệ
- Phân loại theo mục tiêu hoạt động
+ Dịch vụ công: Đây là những dịch vụ đợc tổ chức hoạt động và cung ứng
không vì mục đích lợi nhuận mà nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của
các tổ chức, các cơ quan trong khu vực công; cải thiện điều kiện sống và nâng cao
trình độ dân trí, văn hoá, sức khoẻ cho cộng dồng, bảo vệ và cải tạo môi
trờngĐối tợng phục vụ là các cơ quan tổ chức của Nhà nớc, các tổ chức đoàn
thể, xã hội; cộng đồng dân cnh DV y tế, giáo dục, vệ sinh môi trờng, DV cây
9
1.2. dv kế toán, kiểm toán, qTTC và những quy định về tổ
chức hoạt động các dv này trên thị trờng hiện nay
.
1.2.1. Một số vấn đề lý luận về DV kiểm toán, kế toán và quản trị tài
chính.
1.2.1.1. Dịch vụ Kiểm toán
Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng
nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lợng
của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các
thông tin và các chuẩn mực đã xây dựng [16].
Phân loại theo loại hình kiểm toán, có kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ
và kiểm toán hoạt động.
- Kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial Statemans)
Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực và
tính hợp lý của báo cáo tài chính cũng nh xem xét báo cáo tài chính có phù hợp
với các nguyên tắc chuẩn mực kế toán và các yêu cầu của pháp luật hay không.
ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, công việc kiểm toán báo cáo
tài chính thờng do các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện để phục vụ các nhà quản
lý, Chính phủ, các ngân hàng và chủ đầu t, cho ngời bán và khách hàng.
- Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit)
Kiểm toán tuân thủ là hoạt động kiểm toán để xem xét bên đợc kiểm toán có
tuân thủ các thủ tục, nguyên tắc, quy chế mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên
hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nớc đã đề ra hay không. Vì thế, kiểm toán
tuân thủ còn đợc gọi là kiểm toán tính quy tắc (Regularity Audit).
- Kiểm toán hoạt động (Operational Audit)
Kiểm toán hoạt động là hoạt động kiểm toán để xem xét và đánh giá tính hiệu
lực và tính hiệu quả của một đơn vị: tính hiệu lực là khả năng hoàn thành các
nhiệm vụ và mục tiêu của một đơn vị; tính hiệu quả là việc đạt đợc hiệu quả cao
quyết toán của các chơng trình, các dự án, các công trình đầu t của Nhà nớc và
các doanh nghiệp Nhà nớc.
Nghị định số 93/2003/NĐ-CP ngày 11/8/2003 của Chính phủ mở rộng thêm
chức năng, nhiệm vụ của KTNN: Ngoài chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng
đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán NSNN các cấp và báo cáo Tổng quyết toán
NSNN KTNN còn có chức năng kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế
trong việc quản lý, sử dụng NSNN và tài sản công.
Hiện nay, Luật Kiểm toán đã đợc Quốc hội Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2006 quy định Kiểm toán Nhà nớc là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài
chính Nhà nớc do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật [6].
Mục đích hoạt động kiểm toán của KTNN là nhằm thực hiện việc kiểm tra,
kiểm sát của Nhà nớc trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nớc;
góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí, phát hiện và
ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách,
tiền và tài sản của Nhà nớc.
Nhiệm vụ cơ bản của KTNN là tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán hàng
năm và thực hiện nhiệm vụ kiểm toán theo yêu cầu của Quốc hội, Uỷ ban thờng
11
vụ Quốc hội, Chủ tịch nớc, Chính phủ và Thủ tớng Chính phủ và các nhiệm vụ
khác.
Nh vậy, với mục đích hoạt động và nhiệm vụ của KTNN đợc quy định theo
Luật Kiểm toán, tuy KTNN là một cơ quan chuyên môn nhng hoạt động kiểm
toán của KTNN thuộc về hoạt động quản lý của Nhà nớc (kiểm tra, kiểm sát là
một khâu của hoạt động quản lý) không phải là những hoạt động dịch vụ. Kinh phí
để bảo đảm cho hoạt động của KTNN là từ nguồn của NSNN, do KTNN lập dự
toán và đề nghị Chính phủ trình Quốc hội quyết định. Hoạt động kiểm toán của
KTNN hoàn toàn không phải là những hoạt động nhằm để thu phí từ các đơn vị đ-
12
Kiểm toán độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài
chính. Ngoài ra, tuỳ thuộc và yêu cầu của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn
có thể thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các dịch
vụ t vấn tài chính kế toán khác[16].
ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, DV kiểm toán độc lập rất phổ
biến. ở Việt Nam, quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân đợc
ban hành theo Nghị định 07/CP ngày 29 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ. Nghị
định này đã nêu định nghĩa về kiểm toán độc lập: Kiểm toán độc lập là việc kiểm
tra và xác định của Kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc
lập về tính đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán
của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội khi có yêu cầu
của các đơn vị này và Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 điều chỉnh
lại Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh
nghiệp kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và tổ chức (gọi chung là đơn vị đợc kiểm
toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này [11]
Nh vậy, kiểm toán độc lập thực chất là một loại hình DV đợc thực hiện trên
cơ sở tự nguyện và theo thỏa thuận của tổ chức kiểm toán độc lập với các đơn vị
đợc kiểm toán (khách hàng). Ngời trả tiền cho các DV là đơn vị đợc kiểm toán.
- Kiểm toán nội bộ (Internal Audit)
Kiểm toán nội bộ là các hoạt động kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ
của đơn vị tiến hành
Lĩnh vực chủ yếu của kiểm toán nội bộ là kiểm toán hoạt động để đánh giá
tính kinh tế, tính hiệu lực và hiệu quả của hoạt động trong đơn vị. Bên cạnh đó, các
kiểm toán viên nội bộ cũng tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ để xem xét việc
chấp hành các quy chế, chính sách trong nội bộ đơn vị.
Về mặt tổ chức, bộ phận kiểm toán nội bộ thờng trực thuộc Giám đốc và báo
cáo trực tiếp cho Giám đốc. ở những công ty lớn, các tập đoàn kinh tế, bộ phân
kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ
đơn vị kế toán
Hành nghề kế toán là hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán của doanh
nghiệp cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện dịch vụ kế toán [5].
Dịch vụ kế toán là một loại hình dịch vụ tài chính kế toán nảy sinh từ thực
tiễn hoạt động kế toán nhằm đáp ứng một số nhu cầu sau:
- Đánh giá mức độ chính xác, trung thực của các báo cáo tài chính, báo cáo kế
toán của một chủ thể nhất định phục vụ cho các mục tiêu về đầu t, sản xuất kinh
doanh và làm nghĩa vụ với Ngân sách nhà nớc (đầu t vốn, vay vốn, tham gia
liên doanh, nộp thuế ).
- T vấn đối với việc tổ chức và vận hành bộ máy kế toán của một chủ thể
nhất định sao cho có hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy định của pháp luật [18].
Các hoạt động đáp ứng những nhu cầu trên là các loại dịch vụ có liên quan
đến hoạt động kế toán hay còn gọi là các dịch vụ kế toán.
Với quan điểm này có thể liệt kê một số dịch vụ kế toán sau:
- Dịch vụ kiểm toán, đánh giá báo cáo tài chính, báo cáo kế toán
- Cung cấp nhân viên kế toán và kế toán trởng làm thuê cho các đơn vị,
doanh nghiệp.
14
- Đào tạo kế toán, kế toán trởng, bồi dỡng nghiệp vụ kế toán, phổ biến và
hớng dẫn thực hành các chuẩn mực kế toán, các chế độ chính sách mới về kế
toán, tài chính
- T vấn cho các đơn vị doanh nghiệp, dự án tổ chức xây dựng, điều hành và
quản lý bộ máy kế toán; t vấn và hỗ trợ bộ phận kế toán của các đơn vị ghi chép
sổ sách kế toán, cấp nhật chứng từ, hạch toán kế toán, khai báo và quyết toán thuế,
lập báo cáo tài chính, quyết toán các dự án đầu t
1.2.1.3. Dịch vụ quản trị tài chính
Trong hoạt động kinh doanh để có thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển trong
cơ chế thị trờng, Doanh nghiệp phải thờng xuyên quan tâm đến những vấn đề lớn
15
nhân chuyên cung cấp nhân lực có trình độ chuyên môn phù hợp trực tiếp phụ trách
các vấn đề này hoặc cung ứng các dịch vụ t vấn này cho các doanh nghiệp và các
chủ đầu t, đó chính là dịch vụ quản trị tài chính doanh nghiệp.
Nh vậy, trên thị trờng hiện hay, dịch vụ quản trị tài chính doanh nghiệp có
2 hình thức chủ yếu sau:
1, Cung cấp nhân lực cho doanh nghiệp thuê để trực tiếp phụ trách các vấn đề
quản trị tài chính:
- Cho thuê các chuyên gia tài chính, chuyên gia quản lý tài chính, chuyên gia
phân tích kinh tế tài chính, chuyên gia maketting thị trờng tài chính
- Cho thuê các giám đốc tài chính, giám đốc quản lý tài chính
2, Cung cấp các dịch vụ t vấn về quản trị tài chính cho doanh nghiệp:
- T vấn về phân tích và đánh giá các vấn đề tài chính cho doanh nghiệp;
- T vấn về đầu t tài chính;
- T vấn về quản lý tài chính;
- T vấn về nguồn nhân lực;
- T vấn về quản lý dự án đầu t;
- T vấn thuế.
1.2.2. Một số quy định hiện nay về tổ chức hoạt động kinh doanh DV kế
toán, kiểm toán và quản trị tài chính.
Kinh tế dịch vụ ở Việt Nam hiện nay đang có tốc độ tăng trởng nhanh, ngày
càng chiếm tỷ lệ lớn trong Tổng thu nhập quốc dân, tuy nhiên do đặc thù là một
nền kinh tế bao cấp và hiện vật trớc đây, kinh tế dịch vụ ở nớc ta còn rất mới mẻ,
các văn bản luật và dới luật điều chỉnh các hoạt động DV đang còn ít và thiếu
đồng bộ. Về DV kế toán, kiểm toán, quản trị tài chính hiện nay có một số văn bản
luật và dới luật điều chỉnh nh sau:
1.2.2.1. Hoạt động kinh doanh DV kế toán
Hiện nay, kinh doanh DV kế toán đợc điều chỉnh chủ yếu bằng Luật Kế toán
Luật Kế toán quy định về điều kiện và tiêu chuẩn hành nghề kế toán nh sau:
Điều 55 chơng IV quy định về điều kiện hành nghề kế toán:
chính, kế toán, kiểm toán;
- Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các tổng công ty và Sở Tài chính các tỉnh đợc
kết hợp với các đơn vị đợc quy định trên để tổ chức các khóa bồi dỡng kế toán
trởng cho Bộ, ngành, địa phơng.
Các đơn vị đợc quyền tổ chức khóa học bồi dỡng kế toán trởng đợc cấp
Chứng chỉ bồi dỡng kế toán trởng
1.2.2.2. Hoạt động kinh doanh DV kiểm toán
Nh mục 1.2.1.1. đã đề cập trong 3 hình thức tổ chức hoạt động kiểm toán
hiện nay ở Việt Nam về cơ bản chỉ có hoạt động kiểm toán độc lập đúng tính chất
là các hoạt động dịch vụ.
Hiện nay, tổ chức và hoạt động kiểm toán độc lập đợc quy định trong Nghị
định 105/NĐ-CP/2004 của Chính phủ:
Điều 13 Chơng II Nghị định 105/NĐ-CP/2004 quy định về tiêu chuẩn Kiểm
toán viên (kiểm toán viên trong kiểm toán độc lập):
- Kiểm toán viên phải có các tiêu chuẩn sau:
- Có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trung thực, liêm khiết, có ý thức chấp
hành pháp luật;
- Có bằng cử nhân chuyên ngành Kinh tế Tài chính Ngân hàng hoặc
chuyên ngành Kế toán Kiểm toán và thời gian công tác thực tế về tài chính, kế
17
toán từ 5 năm trở lên hoặc thời gian làm trợ lý kiểm toán ở doanh nghiệp kiểm toán
từ 4 năm trở lên;
- Có chứng chỉ kiểm toán viên do Bộ trởng Bộ Tài chính cấp.
- Những ngời có chứng chỉ chuyên gia kế toán hoặc chứng chỉ kế toán, kiểm
toán do tổ chức nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế về kế toán, kiểm toán cấp, đợc
Bộ Tài chính thừa nhận thì phải đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật kinh tế, tài chính,
kế toán Việt Nam do Bộ Tài chính tổ chức và đợc Bộ trởng Bộ tài chính cấp
chứng chỉ kiểm toán viên thì đợc công nhận là kiểm toán viên.
vụ kiểm toán.
18
- Doanh nghiệp kiểm toán chỉ đợc cung cấp dịch vụ kiểm toán khi: Có đủ
điều kiện hành nghề kiểm toán; có danh sách kiểm toán viên đăng ký hành nghề có
xác nhận của Bộ Tài chính.
1.2.2.3. Hoạt động kinh doanh DV tài chính quản trị.
Nh phần 1.2.1.3 đã đề cập DV quản trị tài chính là bao gồm DV cung cấp
chuyên gia về quản trị tài chính và DV t vấn về quản trị tài chính. Hiện nay cha
có văn bản pháp quy nào điều chỉnh về hoạt động DV cung cấp chuyên gia về quản
trị tài chính nhng DV t vấn về quản trị tài chính là một trong những loại hình DV
t vấn và nó đợc điều chỉnh bởi Nghị định 87/2002/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt
động cung ứng và sử dụng dịch vụ t vấn
Nghị định 87/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định những tổ chức và cá nhân
đợc cung ứng DV t vấn:
1. Đối với tổ chức:
- Là doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ hoặc tổ chức khác có năng
lực và kinh nghiệm chuyên môn trong lĩnh vực t vấn, đợc thành lập và đăng ký
hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật;
- Có trụ sở và phơng tiện làm việc
- Có ít nhất là 02 ngời có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 của điều này
2. Đối với cá nhân:
- Có trình độ cao đẳng, đại học trở lên thuộc lĩnh vực hành nghề t vấn hoặc
có chứng chỉ hành nghề t vấn trong trờng hợp pháp luật có quy định;
- Có t cách đạo đức tốt;
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Không ở trong tình trạng đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực hành nghề t vấn;
- Phải hoạt động trong một tổ chức t vấn nhất định.
3. Cán bộ, công chức đợc phép tham gia cung ứng dịch vụ t vấn trong
tạo công lập đã có đóng góp đáng kể vào phục vụ công tác quản lý nhà nớc,
nghiên cứu khoa học công nghệ và đào tạo bồi dỡng cán bộ, góp phần quan trọng
vào sự nghiệp phát triển kinh tê xã hội của đất nớc. Tuy nhiên cũng còn nhiều
ĐVSN NCKH và đào tạo công lập hoạt động kém hiệu quả, cha thực sự làm đúng
chức năng của mình và cha phát huy đợc những tiềm năng về đội ngũ khoa học
và cơ sở vật chất hiện có. Nhìn chung các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập cha
có đợc sự phát triển tơng xứng với sự đầu t của nhà nớc và cha đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, nhất là trong bối cảnh
hội nhập quốc tế và xu hớng phát triển kinh tế tri thức trên thế giới.
Có thể thấy rõ một số mặt hạn chế của các các ĐVSN NCKH và đào tạo công
lập nh
sau:
a, Về tổ chức, quản lý và sử dụng nhân lực
Các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập không đợc quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm từ khâu lập kế hoạch, quyết định tuyển dụng và sử dụng biên chế. Cách thức
tổ chức và quản lý nhân sự cứng nhắc, không cho phép các ĐVSN NCKH và đào
tạo công lập tạo ra sự thay đổi trong bộ máy của mình để đáp ứng những yêu cầu
của sự phát triển mới trong hoạt động. Ngời đứng đầu các ĐVSN NCKH và đào
tạo công lập không có quyền bố trí, sắp xếp cán bộ, viên chức trong đơn vị của
mình. Nhiều đơn vị có nhu cầu tăng thêm biên chế để phát triển sự nghiệp của đơn
vị hoặc nhu cầu dịch vụ của xã hội và có nguồn để trả lơng nhng phải chờ cơ
quan quản lý nhà nớc có thẩm quyền phân chỉ tiêu biên chế mới đợc thực hiện.
Sự đông cứng biên chế đã hạn chế tính năng động trong các các ĐVSN NCKH và
20
đào tạo công lập, không tạo đợc đông lực và sức ép đối với cán bộ khoa học, công
nghệ vơn lên trong công tác
b. Về tổ chức hoạt động NCKH, đào tạo và các hoạt động sự nghiệp khác.
Kế hoạch hoạt động hàng năm của các ĐVSN NCKH và đào tạo công lập do
cơ quan chủ quản phê duyệt, quyết định. Điều này đã không phát huy đợc tính
sau:
- Các ĐVSN có thu đợc tự chủ về tài chính, đợc chủ động bố trí kinh phí để
thực hiện nhiệm vụ, đợc ổn định kinh phí hoạt động thờng xuyên do NSNN đối