TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay
Họ và tên sinh viên : Nguyễn Thùy Liên
Lớp : Anh 1
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Lan Anh
Hà Nội - 11/2009
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH THƢƠNG MẠI
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 4
2.3. Hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại 25
2.3.1. Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch thương mại của ngân hàng
thương mại 25
2.3.2. Giao dịch thương mại vô hiệu của ngân hàng thương mại và hậu quả
pháp lý của giao dịch vô hiệu 27
CHƢƠNG 2 GIAO DỊCH THƢƠNG MẠI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI HIỆN NAY 28
I. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thƣơng mại Việt Nam 28
II. Các hoạt động giao dịch thƣơng mại của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam
32
1. Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong lĩnh vực huy động
vốn 32
1.1. Giao dịch nhận tiền gửi 33
1.1.1. Khái niệm giao dịch nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại 34
1.1.2. Phân loại 34
1.1.3. Quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong giao dịch nhận tiền gửi
35
1.2. Giao dịch phát hành giấy tờ có giá 36
1.2.1. Khái niệm 36
1.2.2. Phân loại 36
1.2.3. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch phát hành giấy tờ có
giá 36
1.3. Giao dịch vay vốn của ngân hàng thương mại từ ngân hàng Nhà nước Việt
Nam 38
1.4. Giao dịch vay vốn của ngân hàng thương mại từ các tổ chức tín dụng
khác 38
2. Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại trong lĩnh vực cấp tín
dụng 39
2.1. Giao dịch cho vay của ngân hàng thương mại 39
2.1.1. Khái niệm về cho vay 39
hiệu quả các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ. 58
3. Định hướng 58
II. Các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật điều
chỉnh giao dịch thƣơng mại của ngân hàng thƣơng mai 59
2.1. Các mục tiêu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch
thương mại của ngân hàng thương mại 59
2.2 Một số nguyên tắc cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao
dịch thương mại của ngân hàng thương mại 60
III. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch thƣơng mại
của ngân hàng thƣơng mại 64
1. Hoàn thiện các quy định về tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng 64
2. Ban hành đầy đủ và đồng bộ các quy chế pháp lý về những giao dịch
thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại 68
3. Hoàn thiện quy chế cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng 71
4. Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường tiền tệ, góp phần thúc đẩy và
phát triển thị trường vốn 75
4.1. Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường tiền tệ 75
4.2. Góp phần thúc đẩy và phát triển thị trường vốn 76
5. Hoàn thiện cơ bản thể chế pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
phù hợp với định hướng, chiến lược phát triển ngành ngân hàng và lộ trình
thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. 77
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 0
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1: Thị phần của Ngân hàng thương mại trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam từ 2004-2007 31
Hình 1: Cơ chế xác lập giao dịch pháp nhân ngân hàng thương mại 24
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới hiện nay” nhằm góp phần làm rõ các
vấn đề lý luận về giao dịch thương mại của ngân hàng nói chung và bản chất pháp
lý của các giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại nói riêng, trên
2
cơ sở đó nhằm đưa ra các ý kiến đánh giá thực trạng giao dịch thương mại của ngân
hàng Việt Nam hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ:
- Phân tích, giải thích nhằm làm rõ các vấn đề lý luận chung về giao dịch
thương mại của ngân hàng thương mại
- Phân tích các giao dịch thương mại chủ yếu của các ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng giao dịch thương mại chủ yếu của ngân
hàng thương mại
- Đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh giao dịch
thương mại của ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế
thế giới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại Việt Nam
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của khoá luận này, nội dung nghiên cứu giới hạn ở việc
làm rõ các vấn đề lý luận và bản chất pháp lý của các giao dịch thương mại chủ yếu
của ngân hàng thương mại trên ba lĩnh vực, đó là: lĩnh vực huy động vốn, cấp tín
dụng, mở tài khoản tiền gửi thanh toán và cung ứng dịch vụ thanh toán.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứư tổng hợp như hệ thống hoá,
phân tích, thống kê, sưu tập tài liệu và luận giải ngoài ra phương pháp so sánh cũng
4
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO DỊCH THƢƠNG MẠI
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
I. Khái niệm và những đặc trƣng cơ bản của giao dịch thƣơng mại của ngân
hàng thƣơng mại
1. Khái niệm giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại
1.1. Quan niệm về giao dịch thương mại
Theo quy định chung của Hiệp định GATS, không có một khái niệm riêng
cho dịch vụ ngân hàng mà trên thực tế, dịch vụ này (giống như dịch vụ về bảo hiểm
và chứng khoán) được coi như một loại hình dịch vụ tài chính. Cũng theo Hiệp định
này, dịch vụ tài chính là bất kì dịch vụ nào có tính chất tài chính, do một nhà cung
cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi
dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch
vụ tài chính khác.
Dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm) được chia
thành các tiểu ngành dưới đây:
1) Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công
chúng;
2) Cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao
tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại;
3) Thuê mua tài chính;
4) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và
gồm tất cả các hoạt động ngân hàng của một tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng
trên thị trường vì mục tiêu lợi nhuận.
1
1.2. Khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm ngân hàng thương mại
a. Sự ra đời của ngân hàng 1
Tạp chí Luật học số 12/2007 6
Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho
những người chủ sở hữu nó, tránh gây mất mát. Đổi lại, người chủ sở hữu phải trả
cho người giữ một khoản tiền công. Khi công việc này mang lại nhiều lợi ích cho
những người gửi, các đồ vật cần gửi ngày càng đa dạng hơn, và đa đại diện cho các
vật có giá trị như vậy là tiền, dần dần, ngân hàng là nơi giữ tiền cho những người có
tiền. Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn, tức
là phát sinh nhu cầu vay tiền ngày càng lớn trong xã hội. Khi nắm trong tay một
lượng tiền, những người giữ tiền nảy ra một nhu cầu cho vay số tiền đó, vì lượng
tiền trong tay họ không phải bao giờ cũng bị đòi trong cùng một thời gian, tức là có
độ chênh lệch lượng tiền cần gửi và lượng tiền cần rút của người chủ sở hữu. Ngân
hàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và
dùng chính tiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng
cùng một lúc tất cả chủ tiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ
bản đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng. Từ đó phát sinh nghiệp vụ đầu tiên
nhưng cơ bản nhất của ngân hàng nói chung, đó là huy động vốn và cho vay vốn.
Căn cứ vào chức năng, ngân hàng được chia làm hai loại: ngân hàng thương mại và
của ngân hàng thương mại trong pháp luật nước ngoài cũng như trong hệ thống
pháp luật hiện hành của Việt Nam. Tuy nhiên trong các đạo luật về thương mại các
nước đã từng có nhiều điều khoản cụ thể ghi nhận hoạt động kinh doanh của ngân
hàng như là những hành vi thương mại (hay giao dịch thương mại) mang tính bản
chất. Điều 632 Bộ luật thương mại Pháp quy định các hoạt động ngân hàng và hối
đoái chính là những hành vi thương mại bản chất. Bộ luật thương mại Đức năm
1897 cũng quy định như vậy tại điểm 4 khoản 2 điều 1. Bộ luật thương mại Nhật
Bản quy định về các giao dịch thương mại trong đó có giao dịch thương mại tại
khoản 8 điều 502. Riêng đối với Bộ luật dân sự và thương mại tuy không có điều
khoản nào quy định rõ các hoạt động của ngân hàng là hành vi thương mại nhưng
trên thực tế bộ luật này đã thừa nhận những hoạt động giống như hoạt động của
ngân hàng bao gồm việc nhận ký gửi tiền và cho vay tiền là những giao dịch thuộc
phạm vi của Bộ luật dân sự và thương mại.
Ngoài việc khẳng định các hoạt động ngân hàng hay hoạt động kinh doanh
ngân hàng là giao dịch thương mại trong các bộ luật thương mại như một quy tắc
pháp lý chung, các đạo luật về ngân hàng một số nước còn quy định cụ thể mang
tính liệt kê các hành vi pháp lý được coi là hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại. Ví dụ như tại khoản 3 Luật ngân hàng thương mại của nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa có hiệu lực kể từ ngày 1/7/1995 quy định về các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng thương mại; khoản 1 điều 11 Luật ngân hàng Ba Lan
8
(ban hành ngày 31/11/1989) quy định về các hoạt động ngân hàng của ngân hàng
thương mại trên lãnh thổ Ba Lan …
Ở Việt Nam pháp luật thương mại hiện hàng chưa có quy định nào trực tiếp
khẳng đinh hoạt động ngân hàng là một loại hành vi thương mại (giao dịch thương
mại). Tuy nhiên một cách gián tiếp các nhà làm luật Việt Nam đã thừa nhận hoạt
động kinh doanh ngân hàng như là một loại hình kinh doanh đặc thù, chịu sự điều
chỉnh của pháp luật dân sự, thương mại nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng
bằng cách đưa ra khái niệm hoạt động ngân hàng tại khoản 7 điều 20 cuả Luật các
giao dịch bảo hiểm Trong số các loại hình giao dịch này, có những giao dịch được
mọi ngân hàng thương mại thực hiện như một nghề nghiệp chính mang tính chức
năng nên có thể gọi là giao dịch thương mại chủ yếu, ví dụ như giao dịch trong lĩnh
vực huy động vốn, giao dịch trong lĩnh vực cấp tín dụng và giao dịch dịch vụ ngân
hàng. Có những giao dịch không được mọi ngân hàng thực hiện như một nghề
nghiệp chính mang tính chức năng của nó nên có thể gọi là giao dịch thương mại
không chủ yếu của ngân hàng thương mại, ví dụ như giao dịch đầu tư tài chính ra
bên ngoài, giao dịch mua bán nợ, giao dịch chứng khoán, giao dịch bảo hiểm…
3
Do tính đa dạng, phức tạp của các loại hình giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại nên khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại có
nội hàm rất rộng. Vì thế, trong khuôn khổ của bài khóa luận này, em chỉ tập trung
nghiên cứu những giao dịch thương mại chủ yếu do ngân hàng thương mại xác lập
và thực hiện đối với khách hàng của họ.
2. Những đặc trưng cơ bản của giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại
Có thể nhận thấy các đặc trưng cở bản của giao dịch thương mại của ngân
hàng thương mại như sau:
Đặc trưng thứ nhất: chủ thể xác lập và thực hiện giao dịch thương mại trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng chủ yếu là các ngân hàng thương mại. Theo điều
14 Luật các tổ chức tín dụng quy định về quyền hoạt động ngân hàng: “Mọi tổ chức
có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật
được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động thì được thực hiện một phần
hoặc toàn bộ hoạt động ngân hàng tại Việt Nam”. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các 3
4
Nguyễn Văn Tuyến, “Giao dịch thương mại của các ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị
trường”, NXB Tư Pháp
11
Xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay đang là một trong số các nhân
tố ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh
ngân hàng nói riêng ở nước ta. Sự tác động khách quan của yếu tố này có tác dụng
định hướng cho việc điều chỉnh của Nhà nước đối với các giao dịch thương mại
ngân hàng trong giai đoạn hiện nay bằng công cụ chính sách kinh tế vĩ mô và hệ
thống luật pháp.
3.1. Cơ hội đối với ngành ngân hàng khi hội nhập kinh tế thế giới
Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt
Nam, nhất là trên thị trường tài chính khu vực.
Hội nhập quốc tế sẽ tạo cơ hội cho NHNN nâng cao năng lực và hiệu quả
điều hành và thực thi chính sách tiền tệ, đổi mới cơ chế kiểm soát tiền tệ, lãi suất, tỉ
giá theo nguyên tắc thị trường. Hội nhập cũng là cơ hội để NHNN tăng cường phối
hợp với các NHTW và các tổ chức tài chính quốc tế về chính sách tiền tệ, trao đổi
thông tin và ngăn ngừa rủi ro, qua đó hạn chế biến động của thị trường tài chính
quốc tế và đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Hệ thống NHTM và
thị trường tiền tệ hoạt động an toàn và hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao
hiệu lực và hiệu quả của chính sách tiền tệ. Hội nhập quốc tế sẽ thúc đẩy cải cách
thể chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực hoạt động của các cơ
quan quản lý tài chính, loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp vốn, tài chính đối với
các NHTM trong nước, hạn chế tình trạng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của NHNN
và Chính phủ.
Hội nhập quốc tế là động lực thúc đẩy cải cách, buộc các ngân hàng trong
nước phải hoạt động theo nguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm còn
nghiệp vụ do ngân hàng nước ngoài được phép đầu tư mua cổ phần của các ngân
hàng thương mại Việt Nam.
Các ngân hàng trong nước có một lợi thế, đó là sự am hiểu về văn hoá và
truyền thống của người Việt Nam, sự đồng cảm về văn hoá kinh doanh - điều mà
các ngân hàng nước ngoài khó có thể nắm bắt một cách sâu sắc.
5
5
Sổ tay Việt Nam hội nhập WTO – NXB Hà Nội
13
3.2. Thách thức
Thị trường ngân hàng của Việt Nam tuy đã phát triển và đang đứng trước
một cơ hội phát triển mới nhưng ngành mới chỉ thực sự phát triển trong vài năm
gần đây, lúc này họ phải đối mặt với một áp lực cạnh tranh gay gắt.
Vốn của toàn bộ hệ thống ngân hàng trong nước là rất nhỏ so với các ngân
hàng nước ngoài, đây là một thách thức lớn về cạnh tranh khi thị trường tài chính
ngân hàng được mở cửa.
Các ngân hàng trong nước cũng không chú trọng đến việc đa dạng hoá dịch
vụ của mình, thậm chí nguyên nhân không phải từ lượng vốn hạn chế. Các ngân
hàng thương mại trong nước vẫn chỉ tập trung vào các dịch vụ huy động vốn và cho
vay truyền thống. Ngoài ra, các ngân hàng trong nước cũng chưa đảm bảo được
chất lượng dịch vụ tốt cho khách hàng, thủ tục đôi khi còn rườm rà gây khó khăn
cho khách hàng.
a. Những thách thức từ môi trường kinh tế
Bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động cũng chịu tác động của các yếu tố
thuộc về môi trường kinh tế vĩ mô như chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng
thời kì, môi trường pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp Trong điều kiện hội
hoãn.
Đối với hoạt động ngân hàng, vấn đề này càng trở nên cấp bách. Trong khi
đó môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng của chúng ta còn chưa hoàn thiện,
còn nhiều vấn đề phải chỉnh sửa, bổ sung, mà việc này lại liên quan đến nhiều cấp,
nhiều ngành, vào sự thay đổi nhận thức pháp luật và ý thức pháp luật của người dân,
do vậy việc thực hiện không phải dễ dàng. Nó đòi hỏi phải có thời gian và phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở hạ tầng kinh tế, trình độ của người làm luật
Đây thực sự là một thách thức lớn đối với ngành ngân hàng nói chung và hệ
thống NHTM VN nói riêng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Biến động của môi trường kinh tế thế giới
Như đã nói ở trên, hội nhập là một xu thế tất yếu của mọi quốc gia. Vì vậy,
cách tốt nhất để hạn chế những bất lợi của hội nhập cũng như tận dụng được cơ hội
do hội nhập đem lại là chủ động đón nhận và có những đối sách hợp lý trong hội
nhập, nâng cao tính tự chủ cũng như thế mạnh của kinh tế đất nước. Tuy nhiên,
15
trong điều kiện toàn cầu hoá, rủi ro của một doanh nghiệp, một ngành hay một quốc
gia không còn là vấn đề đơn thuần của doanh nghiệp đó, ngành đó hay quốc gia đó
nữa mà nó có tính lan truyền rất lớn. Đây chính là mặt trái của hội nhập. Sự phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các nước khiến cho sự biến động kinh tế của một
quốc gia, một khu vực sẽ nhanh chóng lan ra toàn cầu. Sự phát triển của công nghệ
thông tin, của Internet, một mặt trợ giúp đắc lực cho sự phát triển kinh tế và thương
mại, mặt khác lại đẩy nhanh sự lan truyền của rủi ro kinh tế. Chính vì thế mà trong
điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, các nền kinh tế đều phải chấp nhận rủi ro và sẵn
sàng đối mặt với rủi ro.
Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, lại mới đi
vào kinh tế thị trường được gần 15 năm, có thứ hạng cạnh tranh rất thấp. Trong nền
kinh tế đó, ngân hàng và doanh nghiệp lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau,
đúng như nhiều NHTM VN đã nói: Sự thành đạt của khách hàng là sự thành đạt của
ngân hàng. Điều này cũng đồng nghĩa với rủi ro của khách hàng cũng là rủi ro của
hồi được vốn vay. Khả năng chi trả của các NHTM VN rất thấp (tỷ lệ giữa tài sản
Có có thể thanh toán và tài sản Nợ phải thanh toán ngay của nhiều NHTM VN
thường nhỏ hơn 1, thấp xa so với tỷ lệ này ở các nước trong khu vực và thế giới).
Vấn đề quản trị chiến lược của các NHTM VN cũng còn rất hạn chế. Thực tế
cho thấy một chiến lược quản lý kinh doanh tiền tệ của các NHTM Việt Nam
thường không vượt ra ngoài phạm vi quốc gia. Nợ quá hạn của các NHTM vẫn ở
mức cao.
- Vốn điều lệ và vốn tự có thấp
Vốn điều lệ và vốn tự có có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nói chung và đặc biệt đối với NHTM - loại hình doanh
nghiệp kinh doanh tiền tệ, thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp khác và dân cư.
Vốn điều lệ là tiềm lực tài chính, là điều kiện đảm bảo an toàn trong hoạt
động tài chính của NHTM, là uy tín của NHTM để tạo lòng tin với công chúng. Vậy
mà hiện nay vốn điều lệ của NHTM VN còn nhỏ bé, kể cả các NHTM Quốc doanh,
khoảng từ 2.000 - 3.000 tỷ đồng, tương đương với khoảng 130 - 150 triệu USD.
Một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức an toàn của ngân hàng là tỷ trọng
vốn tự có so với tổng tài sản có rủi ro. Điều 81 - Luật các tổ chức tín dụng 12/1997
17
đã quy định tổ chức tín dụng phải duy trì tỷ lệ đảm bảo an toàn này. Theo thông lệ
quốc tế, tỷ trọng này tối thiểu là 8%. Vậy mà các NHTM VN mới chỉ đạt mức cao
nhất là gần 5%.
Mức vốn tự có nhỏ bé còn làm hạn chế khả năng mở rộng cho vay bảo lãnh
do quy định của Điều 79 Luật các tổ chức tín dụng: “Tổng dư nợ cho vay đối với
một khách hàng không được quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng”. Điều này
hạn chế NHTM cho vay bảo lãnh các dự án lớn.
- Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ
chế thị trường:
Phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khi yêu cầu về chất lượng và trình đổ
cán bộ là một yếu tố quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh, các NHTM,
hàng khác trong khu vực và trên thế giới.
- Tính liên kết, hợp tác giữa các ngân hàng trong nước để tạo nên sức mạnh
cạnh tranh còn nhiều bất cập
Việc liên kết, hợp tác sẽ cho phép phát huy được hiệu quả của hệ thống máy
móc thiết bị, nâng cao sức cạnh tranh, tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, hợp tác của các
NHTM trong nước mới chỉ dừng lại ở phạm vi cho vay hợp đồng tài trợ mà chưa
đẩy mạnh sang các phạm vi khác. Như thế sẽ làm giảm thế mạnh của hệ thống ngân
hàng trong nước, giảm sức cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài.
- Nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh
Trong quá trình hội nhập, chúng ta không tránh khỏi việc bắt gặp những đối
thủ cạnh tranh mạnh trên thị trường. Họ là các ngân hàng nước ngoài hơn hẳn chúng
ta về vốn, công nghệ, năng lực tổ chức quản lý cũng như kinh nghiệm…
Điều này buộc NHTM VN phải đối mặt và đề ra các biện pháp chính sách
hợp lý nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
Như vậy khó khăn đối với NHTM VN trong quá trình hội nhập là rất nhiều
buộc các ngân hàng của chúng ta phải có những biện pháp, chính sách hợp lý để
khắc phục và đưa NHTM VN phát triển hơn nữa trong tương lai, bắt kịp với các
NHTM trong khu vực và trên thế giới.
6
II. Một số vấn đề pháp lý cơ bản của giao dịch thƣơng mại của ngân hàng
thƣơng mại 6
19
1. Tư cách chủ thể của ngân hàng thương mại trong giao dịch thương mại
1.1. Năng lực pháp luật của ngân hàng thương mại