Website: Email : Tel : 0918.775.368
PHẦN I:
GIỚI THIỆU VỀ SỞ KẾ HOẠCH VÀ
ĐẦU TƯ TỈNH HÀ TĨNH
1. GIỚI THIỆU SƠ BỘ VỀ TỈNH HÀ TĨNH
Hà Tĩnh là tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, mảnh đất địa linh nhân kiệt,
giàu truyền thống cách mạng và văn hóa, với diện tích 6.019 Km2, dân số gần
1,3 triệu người. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An; phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình;
phía Đông giáp biển Đông với 137 km bờ biển, 18.000 km2 mặt biển và nhiều
bãi biển đẹp như Thiên Cầm, Xuân Thành. Phía Tây giáp nước CHDCND
Lào với 145km đường biên giới.
Hà Tĩnh có đường Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắt Bắc
Nam chạy qua; Có đường Quốc lộ 8A, đường 12A theo trục hành lang Đông
Tây kết nối cảng Vũng Áng với nước Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan,
MiAnMa qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo và Cha Lo. Hà Tĩnh có đồng bằng,
có rừng, biển với nhiều nông, lâm, hải sản và động vật quý hiếm. Đặc biệt có
nhiều khoáng sản quý, nhất là quặng Sắt (544 triệu tấn), Titan.... Hà Tĩnh là
vùng đất học, đất thơ; là quê hương của Đ/c Trần Phú, Đ/c Hà Huy Tập -
Tổng bí thư của Đảng, quê hương của cụ Nguyễn Du danh nhân văn hóa thế
giới... Con người Hà Tĩnh giàu nhân ái, sống thủy chung, nghĩa tình.
Đảng bộ và nhân dân Hà Tĩnh đang tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế
của đất và người Hà Tĩnh để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, phấn
đấu đến năm 2015 trở thành tỉnh có công nghiệp, dịch vụ phát triển, là trung
tâm công nghiệp lớn của vùng bắc Trung bộ và của cả nước.
Hà Tĩnh có 3 vùng kinh tế trọng điểm gồm:
- Vùng kinh tế phía Nam với trọng tâm là Khu kinh tế Vũng Áng thuộc
huyện Kỳ Anh - Khu kinh tế tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung là
Công nghiệp luyện kim, khai thác cảng biển, nhiệt điện...
- Vùng kinh tế phía Tây - Bắc có Khu kinh tế cửa khẩu Quốc tế Cầu
Treo thuộc huyện Hương Sơn là khu kinh tế mở với trọng tâm là thương mại,
dịch vụ; gắn với vùng kinh tế đường Hồ Chí Minh, đường 8A và KCN Gia
kinh doanh trong phạm vi địa phương về các dịch vụ công thuộc phạm vi
quản lý của Sở theo quy định của pháp luật. Thực hiện một số nhiệm vụ,
quyền han theo uỷ quyền của UBND tỉnh.
Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Tĩnh chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp
của UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn và kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2.2. Nhiệm vụ và quyền hạn:
2.2.1- Trình UBND tỉnh ban hành các quyết định, chỉ thị về quản lý
các lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch và đầu tư thuộc phạm vi quản lý của Sở
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
theo quy định của pháp luật, phân cấp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và chịu
trách nhiệm về nội dung các văn bản đã trình.
2.2.2- Trình UBND tỉnh quyết định việc phân công, phân cấp quản lý
về các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư cho UBND cấp huyện và các Sở, Ban,
Ngành của tỉnh theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm hướng dẫn,
kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quy định của phân cấp đó.
2.2.3- Tổ chức, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm việc tổ chức
thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kế hoạch và đầu tư ở địa
phương; trong đó có chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã
hội của cả nước trên địa bàn tỉnh và những vấn đề có liên quan đến việc xây
dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng các nguồn lực để phát triển
kinh tế- xã hội của tỉnh.
2.2.4- Về quy hoạch và kế hoạch:
2.2.4.1. Chủ trì tổng hợp và trình UBND tỉnh quy hoạch tổng thể, kế
hoạch dài hạn, kế hoạch 5 năm và hàng năm, bố trí kế hoạch vốn đầu tư thuộc
ngân sách địa phương; các cân đối chủ yếu về kinh tế- xã hội của tỉnh trong
đó có cân đối tích luỹ và tiêu dùng, cân đối vốn đầu tư phát triển, cân đối tài
chính.
Công bố và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển
tiêu khác.
2.3.4. Chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và các Sở, Ban, Ngành có liên
quan giám sát, kiểm tra, đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án xây dựng cơ
bản, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình dự án khác do tỉnh
quan lý.
2.3.5. Thẩm định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của
UBND tỉnh, cấp giấy phép ưu đãi đầu tư cho các dự án đầu tư vào địa bàn
tỉnh theo phân cấp.
2.3.6. Làm đầu mối giúp UBND tỉnh quản lý hoạt động đầu tư trong
nước và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào địa bàn tỉnh theo quy định của
pháp luật; tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư và cấp phép đầu tư thuộc thẩm
quyền.
2.4. - Về quản lý vốn ODA và các nguồn viện trợ phi chính phủ:
2.4.1. Là cơ quan đầu mối vận động thu hút, điều phối quản lý vốn ODA
và các nguồn viện trợ phi chính phủ của tỉnh; hướng dẫn các Sở, Ban, Ngành
xây dựng danh mục và nội dung các chương trình sử dụng vốn ODA và các
nguồn viện trợ phi chính phủ. Tổng hợp các danh mục, các chương trình dự
án sử dụng vốn ODA và các nguồn việ trợ phi chính phủ trình UBND tỉnh
phê duyệt và báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
2.4.2. Chủ trì, theo dõi và đánh giá thực hiện các chương trình dự án
ODA và các nguồn viện trợ phi chính phủ; làm đầu mối xử lý theo thẩm
quyền hoặc kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh xử lý những vấn đề vướng mắc
giữa Sở Tài chính với Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc bố trí vốn đối ứng;
giải ngân thực hiện các dự án ODA và các nguồn viện trợ phi chính phủ có
liên quan đến nhiều Sở, Ban, Ngành, cấp huyện và thị xã; định kỳ tổng hợp
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
báo cáo về tình hình và hiệu quả sử dụng vốn ODA và các nguồn viện trợ phi
chính phủ.
2.5.- Về quản lý đấu thầu:
quản lý thông tin về đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.
2.7.4. Phối hợp với các Sở, Ban, Ngành tổng hợp các mô hình và cơ chế,
chính sách phát triển kinh tế hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình; hướng dẫn theo
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dõi, tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh và Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình
phát triển kinh tế hợp tác xã, kinh tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh.
2.8. - Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công chức
làm công tác kế hoạch và đầu tư trong tỉnh. Chỉ đạo, hướng đẫn về chuyên
môn, nghiệp vụ cho cơ quan chuyên môn của UBND các huyện, các Sở, Ban,
Ngành cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư
trên địa bàn, theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
2.9. - Tổ chức và chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa
học, công nghệ; thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư
theo quy định của pháp luật; tổ chức quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các
tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công thuộc Sở quản lý.
2.10. - Thanh tra, kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm trong
việc thực hiện chính sách, pháp luât về lĩnh vực kế hoạch và đầu tư thuộc
phạm vi quản lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
2.11. - Tổng hợp báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện
nhiệm vụ được giao theo quy định đối với UBND tỉnh và Bộ Kế hoạch và
Đầu tư.
2.12. - Trình UBND tỉnh chương trình, biện pháp cải cách hành chính
của đơn vị theo yêu cầu nhiệm vụ được giao.
2.13. - Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên
chức theo quy định của pháp luật và phân cấp của UBND tỉnh; tổ chức đào
tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên
chức, nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý và phát triển nguồn nhân lực ngành
kế hoạch và đầu tư ở địa phương.
2.14. - Quản lý tài chính, tài sản được giao và thực hiện ngân sách được
lập Uỷ ban kế hoạch quốc gia.
Thông tư nêu rõ “Trong chế độ kinh tế dân chủ nhân dân của chúng ta ở
Miền Bắc việc khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá phải được dần dần kế
hoạch hoá. Uỷ ban kế hoạch Quốc gia sẽ thực hiện từng bước công việc kế
hoạch hoá đó”.
Từ đó hệ thống kế hoạch từ Trung ương đến địa phương được thành lập
bao gồm Uỷ ban kế hoạch Quốc gia, các bộ phận kế hoạch của các bộ và cơ
quan ngang bộ ở Trung ương và Ban kế hoạch khu, tỉnh, huyện và tương
đương nằm trong Uỷ ban hành chính địa phương các cấp là xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế văn hoá, đồng thời tiến hành công tác thống kê, kiểm
tra việc thực hiện kế hoạch hàng năm.
Ban kế hoạch tỉnh Hà Tĩnh lúc này, bộ máy được biên chế 07 cán bộ
nhân viên lập thành một bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ nằm trong Uỷ ban
hành chính tỉnh do đồng chí Chủ tịch tỉnh trực tiếp phụ trách. Nhiệm vụ của
Ban kinh tế kế hoạch tỉnh lúc bấy giờ chủ yếu cùng với các ban, ngành và các
huyện, thị xã tổng hợp kế hoạch hàng năm, chuẩn bị tài liệu, số liệu kinh tế,
xã hội cho các kỳ họp Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính tỉnh và HĐND tỉnh. Đồng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thời giúp Uỷ ban hành chính tỉnh giải quyết những công việc hàng này như
chỉ đạo thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội.
Ngày 09/10/1961, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 159/CP quy định
nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức bộ máy Uỷ ban kế hoạch Nhà nước. Đây là
Nghị định mang tính pháp quy của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy
định rõ nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan Kế hoạch Trung ương cho đến địa
phương.
Nghị định nêu rõ “Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan của Hội đồng
Chính phủ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hàng năm, 5 năm và kế hoạch
dài hạn về phát triển kinh tế, văn hoá quốc dân theo đường lối chính sách của
Đảng và Chính phủ. Uỷ ban kế hoạch Nhà nước có trách nhiệm quản lý công
được tăng cường nhiều hơn và tách ra khỏi Uỷ ban hành chính tỉnh, có trụ sở
làm việc riêng. Bộ máy thành lập gồm các phòng chuyên môn nghiệp vụ do
đồng chí Chủ tịch tỉnh phụ trách và cơ cấu một đồng chí Tỉnh uỷ, uỷ viên Uỷ
ban hành chính tỉnh làm Phó chủ nhiệm thường trực.
Bước sang những năm của thập kỷ 70, cơ cấu tổ chức bộ máy có sửa đổi
do sự phát triển và trưởng thành của công tác kế hoạch nói chung và kế hoạch
tỉnh nói riêng. Tầm quan trọng đó như Bác Hồ thường nói: “ Công tác kế
hoạch là cương lĩnh thứ 02 của Đảng”. Trong bộ máy lãnh đạo của Tỉnh cơ
cấu 01 đồng chí Phó Chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh phụ trách kinh tế trực
tiếp làm chủ nghiệm Uỷ ban kế hoạch.
Tuy số lượng cán bộ còn ít, trình độ chuyên môn đào tạo còn hạn chế.
Năm 1965 chỉ có 05 đồng chí cán bộ có trình độ Đại học mới ra trường đến
năm 1971 tăng 03 đồng chí. Trong điều kiện khó khăn, vất vả của hoàn cảnh
thời chiến song các đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong
những năm chiến tranh ác liệt Uỷ ban kế hoạch tỉnh đã thực sự tham mưu cho
Tỉnh uỷ và Uỷ ban hành chính tỉnh xây dựng kế hoạch kinh tế thời chiến phục
vụ tốt các kỳ Đại hội Đảng gắn việc phát triển kinh tế - xã hội với công tác an
ninh quốc phòng góp phần tích cực vào việc thực hiện 02 nhiệm vụ chiến
lược.
Ngày 30/4/1975 miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất,
non sông thu về một mối. Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có vị trí xứng
đáng trên trường quốc tế, lúc này nhiệm vụ cấp bách là tổ chức lại nền sản
xuất, phân bố lại lao động trong cả nước. Trong điều kiện thực trạng nền kinh
tế sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá. Để đạt được mục
tiêu trên, Chính phủ chủ trương sáp nhập một số tỉnh có truyền thống về mọi
phương diện. Từ đó, tỉnh Nghệ Tĩnh được thành lập trên cơ sở 02 tỉnh Nghệ
An và Hà Tĩnh hợp nhất lại.
Uỷ ban Kế hoạch tỉnh Nghệ Tĩnh ra đời trong điều kiện của một tỉnh đất
rộng, người đông, tiềm năng dồi dào nhưng chưa có điều kiện khai thác, xuất
phát điểm rất thấp. Với thực trạng trên tập thể cán bộ công nhân viên đã cùng
chỉ đạo của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Cơ quan Uỷ ban Kế hoạch tỉnh đã
sớm khắc phục khó khăn thiếu thốn, ổn định công tác để tham mưu cho Tỉnh
uỷ, HĐND, UBND rà soát lại kế hoạch quý IV của năm 1991, chuẩn bị khẩn
trương kế hoạch năm 1992 và nội dung cho Đại hội Tỉnh Đảng bộ khoá 13.
Công tác kế hoạch lúc này chủ yếu là dự báo, định hướng và hoạch định các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội để làm cơ sở xây dựng hệ thống dự án
chuẩn bị đầu tư và tham gia xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội. Uỷ ban
Kế hoạch tỉnh phối hợp với các ngành, các huyện, thị xã tranh thủ sự giúp đỡ
của Trung ương xây dựng tốt kế hoạch hàng năm và làm tròn trách nhiệm vai
trò Thường trực của Ban chỉ đạo thực hiện Nghị định 388/CP. Ban đổi mới
doanh nghiệp, Ban thực hiện chương trình 327, 773 của Chính phủ, thành
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
viên Hội đồng thẩm định dự án chuẩn bị đầu tư, cung cấp số liệu, tài liệư và
báo cáo kịp thời các kỳ họp Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh. Phối hợp với
Viện chiến lược của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các ngành, huyện, thị xã
trong tỉnh khảo sát, đánh giá, hoàn thành báo cáo quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế - xã hội từ năm 2000 đến 2010. Tham mưu giúp UBND tỉnh chỉ
đạo một số công việc như: Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, tham gia nghiên
cứu, rà soát sắp xếp lại hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước trong tỉnh.
Phương hướng chủ yếu của Kế hoạch 5 năm 1991-1995 là đổi mới toàn diện
hệ thống quản lý, kế hoạch 5 năm 1995- 2000, trọng tâm giải phóng sức dân,
mở rộng khoán quản hộ gia đình trong nông nghiệp, sắp xếp nâng cao hiệu
quả kinh tế quốc doanh. Khuyến khích phát triển kinh tế Hợp tác xã, kinh tế
hộ gia đình, kinh tế tư nhân, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn,
đô thị, phúc lợi công cộng. Thực tế đã chứng minh đúng đắn công tác kế
hoạch hoá trong công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế nước nhà.
Tháng 11 năm 1994, được Uỷ ban nhân dân tỉnh giao thêm nhiệm vụ
Đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thuộc Trọng
tài kinh tế chuyển sang. Tháng 6 năm 1996 được UBND tỉnh giao thêm nhiệm
hầm hố, kho tàng, kế hoạch sơ tán, phân tán các cơ sở kinh tế, trường học,
bệnh viện, thiết bị máy móc, khoa học kỷ thuật về nơi an toàn. Trong kế
hoạch chú trọng phát triển công nghiệp, địa phương sản xuất hàng tiêu
dùng.v.v...Hình thức chủ yếu là kế hoạch ngắn hạn năm, quý và vào những
lúc cao điểm của chiến tranh lại phải thực hiện kế hoạch tháng để điều hành
sự hoạt động kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực giao thông vận tải tuyển quân,
hậu cần lương thực, súng đạn,v.v. và kế hoạch tranh thủ viện trợ giúp đỡ của
các nước bạn trong phe XHCN lúc bấy giờ, nhằm nghiên cứu, chuẩn bị những
dự án khả thi để chiến tranh kết thúc có thể triển khai đầu tư xây dựng.
4. Thời kỳ 1976-1980: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch 05 năm lần thứ hai,
đó là kế hoạch tái thiết kinh tế sau chiến tranh. Dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của
Đảng và Chính phủ, các cơ quan kế hoạch từ Trung ương đến địa phương
khẩn trương đánh giá, khảo sát tình hình kinh tế - xã hội đất nước để chuẩn bị
những dự án đầu tư phát triển với hai mục tiêu cơ bản là: “Xây dựng đất nước
về cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hình thành”, “Cơ
cấu kinh tế mới trong cả nước”, “ Cơ cấu công - nông nghiệp” và cải thiện
một bước về đời sống vật chất, văn hoá nhân dân.
5. Thời kỳ 1981-1985: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch 05 năm lần thứ ba,
đó là kế hoạch đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất nhằm ổn định đời sống cho
nhân dân. Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, nhằm thúc
đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu hoàn thành công cuộc
cải tạo xã hội chủ nghĩa ở Miền Nam, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất ở
Miền Bắc; đáp ứng các nhu cầu của công cuộc phòng thủ đất nước, củng cố
quốc phòng, giữ vững an ninh, trật tự xã hội.
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
6. Thời kỳ 1986-1990: Là thời kỳ thực hiện kế hoạch 05 năm lần thứ tư,
nhằm ổn định và cải thiện một bước đời sống của nhân dân, đồng bộ hoá sản
xuất và tăng cường một bước cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng, củng cố quan
hệ sản xuất mới XHCN; Sử dụng tốt các thành phần kinh tế, hình thành cơ
động hạng ba.
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đảng bộ năm nào cũng đạt Đảng bộ trong sạch vững mạnh, tổ chức
Công đoàn, Đoàn thanh niên đạt vững mạnh. Phòng kế hoạch các ngành và
các huyện, thị xã, thành phố đều đạt cá nhân lao động tiên tiến và tập thể lao
động giỏi.
Giờ đây chúng ta có quyền tự hào rằng qua các thời kỳ đội ngũ làm kế
hoạch đã phát triển, đã trưởng thành về chất lượng và số lượng, đảm đương
tốt nhiệm vụ được giao, hàng trăm cán bộ từ các phòng kế hoạch ở cấp huyện,
thị xã, thành phố, của các ngành đã trở thành những cán bộ lãnh đạo chủ trì ở
các huyện, thị xã, thành phố và các Sở, Ngành. Có hàng chục cán bộ ở cơ
quan kế hoạch cấp tỉnh qua các thời kỳ đã trở thành những đồng chí cán bộ
cao cấp giữ những cương vị trọng trách của bộ máy Đảng và chính quyền tỉnh
như các đồng chí: Nguyễn Tiến Chương, Trần Quang Đạt, Nguyễn Kỳ Cẩm,
Trần Quốc Thại, Lê Thể...Chúng ta xin trân trọng cảm ơn các lớp cán bộ kế
hoạch lão thành đã nêu những tấm gương sáng cho các lớp cán bộ kế tiếp học
tập nhằm phát huy hơn nữa truyền thống của ngành và làm tròn chức trách
nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó.
Nhìn lại chặng đường đã qua và nghĩ đến chặng đường sắp tới chúng ta
càng thấy trách nhiệm thật nặng nề trong việc tham mưu cho Đảng, chính
quyền cấp tỉnh hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Ngành Kế
hoạch của chúng ta đang đứng trước những thử thách lớn lao mà chúng ta cần
phải phấn đấu để vượt qua, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
4. CƠ CẤU TỔ CHỨC
Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh tham
mưu giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực Kế
hoạch và Đầu tư bao gồm: Tổng hợp về quy hoạch, kế hoạch phát triển Kinh
tế - xã hội, xúc tiến kêu gọi Đầu tư trong và ngoài nước, quản lý nguồn hỗ trợ
phát triển chính thức ODA, tổ chức thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu,
UBND tỉnh về nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong mọi hoạt động của cơ quan,
trước Bộ Kế hoạch và Đầu tư về nhiệm vụ chuyên môn trên địa bàn tỉnh.
4.2.2. Giám đốc là người đứng đầu cơ quan về mặt quản lý Nhà nước,
lãnh đạo nhiệm vụ chung và trực tiếp phụ trách một số lĩnh vực chuyên môn,
nghiệp vụ cụ thể: Công tác tổ chức Cán bộ, công tác tổng hợp Kế hoạch - Quy
hoạch, công tác thẩm định dự án và đầu tư XDCB, công tác thanh tra, làm chủ
tài khoản cơ quan và chịu trách nhiệm triển khai thực hiện quy chế dân chủ
trong hoạt động của cơ quan.
Thực hiện một số nhiệm vụ khác do UBND tỉnh giao.
4.2.3. Phó giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc chỉ đạo điều hành
một số nhiệm vụ do Giám đốc phân công và chịu trách nhiệm trước Giám
đốc, trước pháp luật về những lĩnh vực công việc đã được phân công phụ
trách:
Kế hoạch phát triển kinh tế ngành, Đăng ký kinh doanh, hợp tác đầu tư
với nước ngoài, nguồn vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế (ODA, FDI,
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NGO) kế hoạch phát triển văn hoá - xã hội, giải quyết, việc làm, đào tạo dạy
nghề. Tham gia thành viên các uỷ ban không chuyên trách của tỉnh và công
tác văn phòng Cơ quan.
Trưởng phòng là người giúp việc cho lãnh đạo sở, quản lý về mặt hành
chính Nhà nước đối với phòng chuyên môn, nghiệp vụ đã được phân công
phụ trách; chịu trách nhiệm trước lãnh đạo sở về lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ
công chức, viên chức trong phòng hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.
Lập kế hoạch công tác tháng, quý, năm của phòng và tổ chức thực hiện. Báo
cáo kết quả theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo Sở.
Phó phòng là người giúp việc cho Trưởng phòng, được Trưởng phòng
phân công phụ trách một số nhiệm vụ của phòng sau khi đã được thống nhất
với lãnh đạo sở và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng, về những việc đã
được phân công phụ trách.
sách kế toán ghi chép đầy đủ, kịp thời, báo cáo đúng thời gian quy định, thực
hiện quá trình hạch toán trên máy vi tính. Thực hiện công khai tài chính trong
cơ quan.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Những tiến bộ và tồn tại của hợat động đầu tư XDCB
1.1. Những tiến bộ:
- Nhiều thủ tục trong đầu tư XDCB đã được cải tiến nhằm tăng cường sự
quản lý của nhà nước trong đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả đầu tư,
chống thất thoát lãng phí trong XDCB.
- Nhà nước đã kịp thời ban hành các văn bản qui phạm pháp luật phù
hợp với từng thời kỳ giúp cho việc thực hiện các chính sách trong XDCB
được đúng hơn, đầy đủ và triệt để hơn. Cụ thể: trong vòng 04 năm, điều lệ
quản lý đầu tư và xây dựng được thay đổi từ điều lệ ban hành kèm theo Nghị
định đến 42/NĐ - Chính phủ ( ban hành ngày 11/7/1996) đến 92/ NĐ-CP (23 /
8/ 1997) và sau đó được chuyển thành Qui chế quản lý đầu tư và xây dựng
ban hành kèm theo nghị định 52/1999/NĐ-CP (18/7/1999) và sửa đổi, bổ
sung theo 12/2000/NĐ-CP (19/5/2000).Qui chế đấu thầu được thay đổi từ Qui
chế ban hành kèm theo Nghị định 43/NĐ-CP sang 88/1999/NĐ-CP và sửa đổi
bổ xung theo 14/2000/NĐ-CP (19/5/2000), hiện đang có dự kiến ban hành
Pháp lệnh về đấu thầu. Các bộ ngành ở trung ương cũng đã ban hành các
thông tư hướng dẫn, các quyết định nhằm cụ thể hoá các quy định của Chính
phủ về thủ tục đầu tư XDCB như: Bộ kế hoạch và đầu tưcó các thông tư
06/1999/TT-BKH ngày 24/11/ 1999 và Thông tư số 11/2000/TT-BKH ngày
11/9/2000 hướng dẫn về nội dung Tổng mức đầu tư; Thông tư 01/2000/TT-
BKH ngày 10/1/2000 hướng dẫn về nội dung tổng mức đầu tư; Thông tư
04/2000/TT-BKH ngày 01/9/2000 về hướng dẫn thực hiện Qui chế đấu thầu.
Bộ xây dựng, Bộ tài chính, bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ giao t hông vận t ải
và các bộ ngành khác cũng ban hành rất nhiều các văn bản hướng dẫn, quy
định một số nội dung về thủ tục trong đầu tư XDCB.
phủ và các bộ, ngành ở trung ương và phù hợp với điều kiện của tỉnh như: Đã
ban hành đơn giá XDCB ( theo quyết định 952/QĐ - Uỷ ban nhân dân ), chỉ
thị số : 10/CT-UB ngày 10/5/2005 nhằm tăng cường quản lý đầu tư và xây
dựng, chỉ thị về ưu tiên sử dụng vật liệu địa phương,...
- Kiểm tra thực tế các địa phương có nhu cầu đầu tư, chỉ đạo các ngành
có liên quan hoàn tất các thủ tục để UBND tỉnh ban hành các văn bản về chủ
trương đầu tư.
- Quan tâm chỉ đạo các ngành, các huyện thị tập trung giải quyết các
vướng mắc, tôn tại về thủ tục của các dự án nhất là các dự án trọng điểm. Đi
sát thực tế, trực tiếp giải quyết hoặc chỉ đạo các sở, ban, ngành, huyện, thị,
giải quyết kịp thời các đòi hỏi của thực tế.
- Kiểm tra thực tế, giải quyết ngay các phát sinh trong quá trình thi công
như: Cho phép các chủ đầu tư lập điều chỉnh, bổ sung hoặc duyệt lại các dự
án, chấp thuận các khối lượng phát sinh, thay đổi một số các thiết kế để phù
hợp với thực tế...
- Đôn đốc việc hoàn tất các thủ tục thanh quyết toán đối với các dự án đã
hoàn thành. Đề ra biện pháp xử lý đối với các dự án chây ì không chịu làm
quyết toán.
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Một số ngành cải cách các thủ tục hành chính, công khai các thủ tục,
qui đih thời gian bắt buộc đối với các công việc phải hoàn thành, như sở kế
hoạch và đâu tư đã tiến hành cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian
thực hiện so với qui định của nhà nước ở một số công tác: thẩm định dự án,
thẩm định kế hoạch đấu thầu và kết quả đấu thầu, cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh, thủ tục để cấp giấy phép đầu tư nước ngoài.
1.2. Tồn tại:
-Các văn bản qui phạm pháp luật thay đổi nhiều, thời gian áp dụng ngắn
đã cho công tác quản lý đầu tư va xây dựng không ít khó khăn. Có văn bản,
qui định mới ban hành chưa kịp tập huấn ở địa phương đã bị thay đổi. Sự thay