Ảnh hưởng của khối lượng bố, mẹ và nuôi thâm canh đến khối lượng, sinh trưởng và sản xuất thịt của trâu - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN CHĂN NUÔI

NGUYỄN CÔNG ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA KHỐI LƯỢNG BỐ, MẸ VÀ NUÔI
THÂM CANH ĐẾN KHỐI LƯỢNG, SINH TRƯỞNG VÀ
SẢN XUẤT THỊT CỦA TRÂU Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số : 62.62.01.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. MAI VĂN SÁNHPGS. TS. NGUYỄN VĂN ĐỨC HÀ NỘI – 2012 i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung

này.
Tôi xin chân thành cám ơn đến Ban Giám đốc Viện Chăn nuôi, Phòng
Đào tạo và Thông tin, các Cô, Chú và anh chị em Bộ môn Di truyền Giống vật
nuôi – Viện Chăn nuôi đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án
Tôi hết sức cám ơn tới các GS, PGS, TS trong quá trình đọc luận án đã
có những nhận xét giúp tôi sửa chữa và bổ sung kịp thời các thiếu sót.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cơ quan, thầy cô giáo, bạn bè và
các đồng nghiệp đã có sự động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này.
Cuối cùng tôi xin dành tình cảm và lời cảm ơn đến gia đình, vợ và con tôi
đã cổ vũ, động viên, chia xẻ những khó khăn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho
tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
Hà Nội, tháng 8 năm 2012
Tác giả luận án NCS. Nguyễn Công Định iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN I
LỜI CẢM ƠN II
MỤC LỤC III
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT VI
DANH MỤC BẢNG VIII

3.1.1. Địa điểm nghiên cứu 43
3.1.2. Thời gian nghiên cứu 43
3.2. Vật liệu nghiên cứu 44
3.2.1. Gia súc thí nghiệm 44
3.2.2. Thức ăn thí nghiệm 44
3.3. Nội dung nghiên cứu 44
3.3.1. Nội dung 1: Sử dụng trâu đực Ngố khối lượng lớn nâng cao tầm vóc và
khả năng sinh trưởng của đời con 44
3.3.2. Nội dung 2: Nghiên cứu các khẩu phần có mức dinh dưỡng cao để nâng
cao khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của trâu 44
3.4. Phương pháp nghiên cứu 44
3.4.1. Phương pháp sử dụng cho nội dung 1: Sử dụng trâu đực Ngố khối lượng
lớn nâng cao tầm vóc và khả năng sinh trưởng của đời con 44
3.4.2. Phương pháp sử dụng cho nội dung 2: Nghiên cứu các khẩu phần có
mức dinh dưỡng cao để nâng cao khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của
trâu 48
3.5. Phương pháp xử lý số liệu: 54
3.5.1. Phương pháp sử dụng cho phần thí nghiệm về giống: 54
3.5.2. Phương pháp sử dụng cho phần thí nghiệm về nuôi dưỡng: 55
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 57
4.1. Ảnh hưởng của khối lượng trâu bố, mẹ đến khối lượng và tốc độ sinh
trưởng của đời con thế hệ 1 57
4.1.1. Hiện trạng đàn trâu trước thí nghiệm 57
4.1.2. Sinh trưởng của đàn trâu thí nghiệm 60
4.1.3. Kích thước một số chiều đo chính cơ thể trâu 70
4.1.4. Ảnh hưởng của khối lượng trâu bố, mẹ đến khối lượng con sinh ra 75
4.1.5. Mối tương quan giữa khối lượng trâu bố, mẹ và đời con 77 v

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

ABBH Axít béo bay hơi
CHC Chất hữu cơ
cs Cộng sự
ĐC Đối chứng
ĐVNS Động vật nguyên sinh
HCN Axit cyanhydric
KL Khối lượng
KLCT Khối lượng cơ thể
TB Trung bình
KPTN1 Khẩu phần thí nghiệm 1
KPTN2 Khẩu phần thí nghiệm 2
KPTN3 Khẩu phần thí nghiệm 3
Pth Protein thô
TĂ Thức ăn
NLTĐ Năng lượng trao đổi
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TLTH Tỷ lệ tiêu hoá
TLTHCHC Tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ
TLTHCK Tỷ lệ tiêu hoá chất khô
TN Thí nghiệm
NT1 Nghiệm thức 1
NT2 Nghiệm thức 2
NT3 Nghiệm thức 3
NTĐC Nghiệm thức đối chứng
TKL Tăng khối lượng
CV Cao vây
VN Vòng ngực
DTC Dài thân chéo

nghiệm thức đối chứng (%) 69
Bảng 4.6. Kích thước chiều đo cao vây của trâu ở các mốc tuổi (cm) 71
Bảng 4.7. Kích thước chiều đo vòng ngực của trâu ở các mốc tuổi (cm) 72
Bảng 4.8. Kích thước chiều đo dài thân chéo của trâu ở các mốc tuổi (cm) 74
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của khối lượng trâu bố, mẹ đến khối lượng con sinh ra (kg) 75
Bảng 4.10. Hệ số tương quan giữa khối lượng bố và con ở các mốc tuổi 77
Bảng 4.11. Hệ số tương quan giữa khối lượng mẹ và con ở các mốc tuổi 78
Bảng 4.12. Hệ số tương quan giữa khối lượng trâu sơ sinh và các mốc tuổi 80
Bảng 4.13. Khối lượng cơ thể trâu sinh ra qua các mốc tuổi (kg) 82
Bảng 4.14. Tăng khối lượng của trâu qua các giai đoạn tuổi (g/ngày) 85
Bảng 4.15. So sánh khối lượng trâu thế hệ 2 so với thế hệ 1 qua các mốc tuổi 87
Bảng 4.16. So sánh khối lượng trâu thế hệ 1 qua các mốc tuổi của trâu mẹ là cái
sinh sản lứa 2-5 và trâu mẹ là cái tơ (kg) 88
Bảng 4.17. Dự đoán khối lượng trâu thế hệ 2 qua các mốc tuổi nếu sử dụng trâu
mẹ là cái sinh sản lứa 2-5 (kg) 89
Bảng 4.18. So sánh khối lượng trâu thế hệ 1 với khối lượng dự đoán của trâu thế
hệ 2 nếu sử dụng trâu mẹ là cái sinh sản lứa 2-5 (kg) 91
Bảng 4.19. Kích thước chiều đo cao vây của trâu ở các mốc tuổi (cm) 92
Bảng 4.20. Kích thước chiều đo vòng ngực của trâuở các mốc tuổi (cm) 93 ix

Bảng 4.21. Kích thước chiều đo dài thân chéo của trâu ở các mốc tuổi (cm) 94
Bảng 4.22. Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của trâu 96
Bảng 4.23. Tăng khối lượng của trâu trong thời gian thí nghiệm 101
Bảng 4.24. Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng của trâu thí nghiệm 105
Bảng 4.25. Mức dinh dưỡng thu nhận thực tế so với tiêu chuẩn của Kearl (1982) 109
Bảng 4.26. Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của trâu thí nghiệm 112
Bảng 4.27. Tăng khối lượng của trâu trong thời gian thí nghiệm 115

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Con trâu có tầm quan trọng đặc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp, là
nguồn cung cấp sức kéo chính (cày bừa và vận chuyển ở nông thôn), cung
cấp lượng lớn phân hữu cơ cho trồng trọt và đóng góp một phần không nhỏ
thịt cho nhu cầu của con người. Ngoài ra sản phẩm phụ như da, sừng, lông
trâu còn được sử dụng để chế biến một số đồ dùng gia dụng và hàng mỹ
nghệ Thịt trâu ngày càng được đánh giá cao trên thị trường và được nhiều
người ưa chuộng, kể cả ở một số nước châu Âu và châu Mỹ vì nhiều nạc, ít
mỡ, ít cholesterol. Do vậy, phát triển chăn nuôi trâu ở nước ta trong những
năm tới là rất cần thiết.

Về công tác giống, do nước ta chưa có chương trình giống trâu, những
năm qua công tác giống trâu chưa được chú ý, đàn trâu không được chọn lọc dẫn
đến khả năng sinh trưởng và khả năng sản xuất thịt của trâu thấp, không có tiến
bộ di truyền. Trên thực tế ở một số địa phương, trâu đang bị chọn lọc ngược vì ở
nhiều vùng trâu đực to bị bán đi mổ thịt, trâu đực nhỏ được giữ lại và sử dụng
cho cày kéo là chính chứ không phải làm giống. Nhiều địa phương đàn trâu có
xu hướng giảm sút tầm vóc.
Những nghiên cứu xây dựng khẩu phần ăn hợp lý và hiệu quả để đáp ứng
nhu cầu sinh trưởng và phát triển của trâu còn ít, chế độ dinh dưỡng chưa đáp
ứng được nhu cầu phát triển của trâu, vì vậy tiềm năng sinh học của trâu chưa
được phát huy đầy đủ. Theo Vũ Duy Giảng và cs. (1999) tỷ lệ thịt xẻ trâu loại
thải là 39% thịt tinh là 28,6%. Tuy vậy, trâu có khả năng tăng khối lượng cao, tỷ
lệ thịt xẻ cũng khá (43-45%), chất lượng không thua kém gì thịt bò. Nếu được
nuôi dưỡng tốt và áp dụng kỹ thuật vỗ béo thích hợp thì năng suất và chất lượng
thịt trâu được nâng cao rõ rệt. 2


CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Tình hình chăn nuôi trâu Việt Nam
2.1.1. Số lượng và phân bố đàn trâu theo vùng sinh thái
Trong hơn 10 năm qua, mặc dù có nhiều thay đổi về kinh tế, văn hóa và xã
hội, nhưng số lượng trâu nước ta vẫn ổn định ở mức 2,8-2,9 triệu con (Bảng 2.1).
Bảng 2.1. Số lượng và sản lượng thịt trâu qua các năm
Năm
Số lượng trâu

(nghìn con)
Tăng/giảm so với
năm trước (%)
Sản lượng thịt

(tấn)
Tăng/giảm so với
năm trước (%)
2000 2.897,20 -2,00 48.415 4,20
2001 2.807,90 -3,10 51.380 6,12
2002 2.814,50 0,20 51.811 0,83
2003 2.834,90 0,70 53.061 2,41
2004 2.869,80 1,20 57.458 8,28
2005 2.922,20 1,80 59.800 4,07
2006 2.921,10 0,00 64.317 7,55
2007 2.996,40 2,60 67.507 4,96
2008 2.897,70 -3,30 71.543 5,98
2009 2.886,60 -0,38 74.960 4,78
2010 2.913,39 1,01 84.214 11,20


2000 1626,40 213,70 823,50 68,40 101,50 63,70 2897,20
2001 1644,87 136,94 813,23 55,52 125,19 50,73 2807,90
2002 1612,70 171,20 819,30 62,10 112,00 37,30 2814,50
2003 1623,50 165,00 838,80 65,80 106,00 35,80 2834,90
2004 1589,10 216,40 867,00 68,80 92,10 36,40 2869,80
2005 1616,30 209,10 894,60 71,90 91,50 38,80 2922,20
2006 1639,40 184,10 906,80 79,00 73,00 38,80 2921,10
2007 1697,20 176,90 931,90 84,70 67,60 38,10 2996,40
2008 1624,40 171,60 908,90 88,60 61,10 43,10 2897,70
2009 1690,17 106,75 880,70 89,76 75,87 43,34 2886,60
2010 1654,20 168,72 889,81 94,21 62,09 44,37 2913,39
Tỷ lệ %

2010
56,77 5,79 30,54 3,23 2,13 1,52 100
(Nguồn: Cục Chăn nuôi, 2010)
Trâu Việt Nam phân bố không đều trên tất cả các địa phương, tập trung chủ
yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và chiếm trên 50%, tiếp đến là các tỉnh Bắc
Trung Bộ và Duyên hải miền trung. Số lượng trâu tập trung ở khu vực Bắc Trung
Bộ, Đông Bắc và Tây Bắc, nhiều nhất ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Lạng Sơn,
Sơn La
Trâu Việt Nam có khối lượng trưởng thành thấp: trâu đực 400-450 kg/con
trâu cái 330-350 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ 43-45%. Do chăn nuôi trâu không được đầu
tư đúng mức và công tác giống hầu như chưa được thực hiện nên tầm vóc có xu
hướng giảm: Số liệu điều tra từ năm 1985 đến năm 2000 cho thấy tầm vóc của trâu
đực đã giảm 11,3%: từ 476 kg/con xuống còn 422,3 kg/con và trâu cái giảm 14,6%:
từ 406 kg/con xuống còn 346,5 kg/con. Đây là vấn đề rất đáng báo động về tình
trạng suy thoái giống trâu Việt Nam (Đỗ Kim Tuyên và Hoàng Kim Giao, 2009).


chuộng, đánh giá đúng vị trí của nó trên thị trường vì thịt trâu nhiều nạc, ít mỡ 6

và ít cholesterol. Hơn nữa, chất lượng thịt trâu không thua kém thịt bò, tỷ lệ
thịt xẻ đạt 43-45%, tỷ lệ nước, thành phần hóa học và các vitamin không thua
kém thịt bò vì vậy thịt trâu đã có chỗ đứng trên thị trường. Đời sống của người
dân ngày càng cao và nhu cầu về thịt đỏ trên thị trường ngày càng lớn. Tuy
nhiên thịt trâu trên thị trường hiện nay chiếm tỷ lệ rất thấp (2,4-3%) trong tổng
số thịt tiêu thụ hàng ngày. Gần đây nhiều địa phương và thành phố đã xuất hiện
nhiều cửa hàng thịt trâu với biển hiệu đặc sản đã chứng minh vai trò của thịt
trâu trong đời sống xã hội, dần xóa bỏ được định kiến sai về thịt trâu như hôi,
dai, tanh và không ngon.
Hiện nay, thịt trâu chất lượng cao đã được tiêu thụ ở các thành phố lớn
như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và đã được xuất khẩu sang một số nước
trong khu vực. Một số vùng trong nước đã có thói quen tiêu thụ thịt trâu từ lâu,
theo kết quả điều tra của Viện Chăn nuôi năm 1996, ở thị trường Hà Nội thịt trâu
chiếm 52,4% trong tổng số thịt trâu, bò và 96,6% ở Thái Nguyên. Hàng năm có
hàng vạn con trâu to được đưa từ vùng núi về miền xuôi để bán thịt hoặc xuất
khẩu. Như vậy, nhu cầu thịt trâu và thị trường tiêu thụ thịt trâu trong tương lai
còn rất lớn và mô hình chăn nuôi trâu thịt áp dụng những kỹ thuật thích hợp
nhằm đẩy mạnh chăn nuôi trâu thịt thành một ngành chăn nuôi đúng vị trí phát
huy tiềm năng vốn có của nó.
2.1.4. Công tác giống trâu
Các giống trâu hiện có trên thế giới được hình thành trải qua hàng ngàn
năm trong những điều kiện tự nhiên và kinh tế nhất định và gần như chúng được
chọn lọc một cách tự phát, ngẫu nhiên hơn là theo những hướng tạo giống. Xuất
phát từ quan niệm của con người về mục đích sử dụng trâu chủ yếu cho cày kéo
nên ít người quan tâm đến việc cải tiến nâng cao khả năng sản xuất của chúng.

trâu cái được tuyển chọn ở diện rộng, loại thải trâu xấu, không đủ tiêu chuẩn,
hình thành các vùng giống trâu, tận dụng tối đa các nguồn thức ăn sẵn có và sử
dụng các kỹ thuật sinh sản cần thiết để nâng cao tỷ lệ đẻ của trâu. Trâu Ngố khối
lượng lớn là nguồn gen bản địa quý, sẵn có ở các tỉnh miền núi nước ta. Tiềm 8

năng này cần được phát huy nhằm góp phần cải tạo tầm vóc trâu ngoại hình nhỏ
được nuôi phổ biến ở các tỉnh đồng bằng.
2.2. Đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của trâu
2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng của trâu
2.2.1.1. Khái niệm về sinh trưởng
Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng
bộ phận hay của toàn cơ thể con vật (Đặng Vũ Bình, 2007). Thực chất của sinh
trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể vật
nuôi. Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa,
là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn
bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước (Nguyễn Đức
Hưng và cs., 2009).
Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình phát triển của cơ thể đó là
sự hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn thiện tính chất và chức
năng của các bộ phận và trong cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở
tính di truyền.
2.2.1.2. Các quy luật của quá trình sinh trưởng
Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của gia súc, các tác giả Medendoocphơ
(1867), Kislopski (1930), Hammond (1937), Pơsennitxmơi (1964) đều cho rằng
sự phát triển của cơ thể trong các giai đoạn và các thời kì đó tuân theo thủ theo
các quy luật (trích dẫn theo Trần Đình Miên và cs., 1992), đó là:
- Quy luật theo giai đoạn

thuộc loài, giống gia súc. Tốc độ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là
phương thức hoạt động của gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể (Williamson
và cs., 1978; Wood và cs., 1987). Ta có thể chia giai đoạn này thành các thời kỳ:
thời kỳ bú sữa; thời kỳ thành thục; thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi, hoặc
có thể chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ bú mẹ và thời kỳ sau cai sữa.
+ Thời kỳ bú mẹ: Sự tăng trưởng của cơ thể gia súc non rất mãnh liệt, 10

nhiều cơ quan bộ phận trong cơ thể chưa phát triển hoàn thiện (cơ quan điều hòa
thân nhiệt, cơ quan tiêu hóa ), nguồn dinh dưỡng cung cấp cho gia súc non
hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cho sữa của mẹ. Thời kỳ này gia súc có tốc độ
tăng khối lượng cao nhất, nếu nuôi dưỡng tốt chúng có thể đạt 1.000 g/ngày.
Hệ số di truyền về sinh trưởng của gia súc trong giai đoạn này thường
thấp (ở bò sữa h
2
= 0,12). Hệ số di truyền thay đổi theo từng giống (Nguyễn Ân,
1972). Tuổi đẻ lần đầu, khối lượng sơ sinh, khả năng cho sữa và nuôi con của
con mẹ, sự đồng huyết, giới tính có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự tăng trưởng
của vật non (Trần Đình Miên và cs., 1994).
+ Thời kỳ sau cai sữa: Sự tăng trưởng của con vật biểu hiện rõ nét qua
kiểu hình, hệ số di truyền tính trạng sinh trưởng và khả năng cho thịt khá cao.
Tính giai đoạn trong sự phát triển không chỉ biểu hiện ở những đặc tính
chung như tăng sinh, tăng khối ở những đặc điểm riêng của từng thời kỳ mà còn
biểu hiện tăng tiến hoàn chỉnh dần, thời kỳ này nhất thiết nối tiếp thời kỳ kia,
không đi ngược lại.
* Quy luật sinh trưởng không đồng đều
Quy luật này thể hiện cường độ sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng của con
vật thay đổi theo độ tuổi. Khi cơ thể còn non, tốc độ sinh trưởng rất nhanh và

nhàng tạo nên một sự phát dục có tính chu kỳ và có thể chu kỳ nối tiếp chu kỳ
(Nguyễn Ân và cs., 1983).
Vì vậy, có thể nói sự phát triển của cơ thể gia súc không những chỉ tuân
theo hai quy luật: Quy luật phát triển theo giai đoạn và quy luật phát triển không
đồng đều mà còn tuân theo quy luật tính chu kỳ.
Tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý của cơ thể: hoạt động của thần kinh đi
theo một nhịp độ và cường độ nhất định. Tính chu kỳ trong hoạt động của hệ
thần kinh biểu hiện ở trạng thái khi thì hưng phấn khi thì ức chế. Sự hưng phấn
và ức chế đó cũng liên quan đến quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể. Trong
chăn nuôi, việc hiểu rõ chu kỳ tính rất quan trọng, từ đó lên kế hoạch thụ tinh
cho gia súc, điều khiển được thời gian đẻ, tránh hiện tượng vô sinh cho gia súc. 12

2.2.1.3. Đường cong sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng của trâu cũng như hầu hết các loại gia súc khác
đều thể hiện 2 pha rõ rệt:
- Pha tăng khối lượng cao, xảy ra từ sơ sinh đến khi trâu thành thục về
tính (khoảng 30 tháng tuổi).
- Pha tăng khối lượng thấp, xảy ra từ 30 tháng tuổi: Tỷ lệ sinh trưởng giảm
dần cho đến lúc trâu trưởng thành (khoảng 6-7 tuổi), khối lượng bắt đầu ổn định.
Le Đang Đanh và cs. (1995) nghiên cứu trên 1019 số liệu sinh trưởng của
trâu nội Việt Nam ở các lứa tuổi đã nhận xét: Trâu sau khi sinh có tốc độ tăng
trưởng khởi đầu rất cao (650 g/ngày), tăng khối lượng giảm dần xuống 300
g/ngày khi trâu đạt 1 năm tuổi, 200 g/ngày lúc trâu đạt 2 năm tuổi và tốc độ sinh
trưởng giảm nhiều, chỉ ở mức dưới 100 g/ngày khi đạt 3 năm tuổi.
2.2.1.4. Khối lượng sơ sinh
Trâu nội Việt Nam tuy nhỏ con, song vẫn có khối lượng sơ sinh tương đối
lớn, biến động từ 16 kg đến 25 kg, tuỳ thuộc vào loại hình của giống và điều

2002; Mai Văn Sánh, 1996).
Cường độ sinh trưởng phụ thuộc vào tuổi và khối lượng con vật. Gia súc
càng lớn tuổi thì cường độ sinh trưởng càng chậm. Tốc độ sinh trưởng cũng
phụ thuộc vào khối lượng thành thục thể xác và giới tính của con vật. Gia súc
có khối lượng trưởng thành lớn, thành thục muộn thì có cường độ sinh trưởng
lớn hơn gia súc có khối lượng trưởng thành nhỏ và thành thục sớm (Lê Viết
Ly, 1995).
Trâu sinh trưởng mạnh vào những tháng đầu sau khi sinh. Trâu đầm lầy đạt
tầm vóc trưởng thành tức là hết thời kỳ sinh trưởng lúc 6-7 năm tuổi (con cái), 8-9
năm tuổi (con đực). Khối lượng cơ thể khi trưởng thành trung bình là 300-400 kg
(con cái), 350-450 kg (con đực), cá biệt có con cái nặng trên 600 kg, con đực nặng
trên 800 kg.
Theo Agabayli (1977), tốc độ sinh trrưởng của trâu có thể đánh giá theo 14

hệ số sinh trưởng k và tính theo công thức:
y = A - D × 10 - kt
Trong đó: y là tốc độ sinh trưởng
A là trị số tối đa của độ sinh trưởng
D là tổng khối lượng từ sơ sinh đến hết thời kỳ sinh trưởng.
k là hệ số sinh trưởng.
t là thời gian có những biến đổi các tính trạng.
Hệ số sinh trưởng (k) trung bình hàng năm ở trâu cái (0,166-0,177) cao
hơn trâu đực (0,107-0,111), nghĩa là tốc độ sinh trưởng của trâu cái lớn hơn so
với trâu đực trong suốt thời kỳ sinh trưởng.
Với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt, trâu 24-26 tháng tuôi có thể đạt
65-70 % KL cơ thể của tuổi trưởng thành (Vũ Ngọc Tý và Lê Viết Ly, 1984).
Trâu cái có thể cho phối giống vào lúc khối lượng đạt 300-350 kg, còn trâu đực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status