Thực trạng an sinh xã hội ở việt nam - Pdf 13

Thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam năm 2001 - 2010
Giai đoạn 1986 đến nay, cũng như các nước có nền kinh tế thị trường, kinh tế thị
trường ở Việt Nam đã làm cho đời sống kinh tế – xã hội năng động hơn, đa dạng và
phong phú hơn. Người dân có nhiều cơ hội, điều kiện hơn để phát huy tiềm năng
sức sáng tạo của mình trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các hoạt động
xã hội. Mặt khác kinh tế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức như: Phá sản, thất
nghiệp là những nguy cơ luôn tiềm ẩn các tệ nạn xã hội, phân hóa giàu nghèo là
điều khó tránh khỏi… Những rủi ro này làm tăng nhu cầu về an sinh xã hội của
người dân. Đặc trưng cơ bản của an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam trong giai đoạn này là đã có sự chuyển giao dần “công việc” từ Nhà nước
sang cho xã hội, cho cộng đồng.
Khả năng tạo việc làm của nền kinh tế còn thấp, tỉ lệ thất nghiệp của lao động thanh
niên còn cao, tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc của lao động làm việc trong khu
vực ngoài nhà nước còn thấp, số lượng người được hưởng trợ giúp xã hội còn thấp
… Đó là một số “nét chính” trong bức tranh thực trạng an sinh xã hội ở nước ta
trong giai đoạn 2001-2010.
Song bên cạnh những “nét chính” đó bức tranh thực trạng an sinh xã hội ở nước ta
trong giai đoạn 2001-2010 cũng không thiếu những “điểm sáng”. Nhìn vào thực
trạng để tìm kiếm giải pháp khắc phục và phát huy hơn nữa những “điểm sáng”
trong hệ thống an sinh xã hội nước nhà là một trong những mục tiêu cốt lõi của
Chiến lược An sinh xã hội 2011 – 2020
1.Đối với việc hỗ trợ người dân tham gia bảo hiểm xã hội ( BHXH)
Mặc dù được luật tạo điều kiện nhưng thực tế cho thấy vẫn còn một bộ phận người
lao động chưa tham gia BHXH bắt buộc, đặc biệt tỷ lệ tham gia của lao động làm
việc trong khu vực ngoài Nhà nước còn thấp. Một trong những nguyên nhân đó là
do công tác tổ chức thực hiện các chế độ của BHXH còn nhiều bất cập dẫn đến việc
thực thi các qui định của Luật Bảo hiểm xã hội còn bị hạn chế.
1.1. thành tựu
Luật bảo hiểm xã hội (BHXH) hiện hành với 03 loại hình bảo hiểm, gồm BHXH
bắt buộc, BHXH tự nguyện, và bảo hiểm thất nghiệp đã tạo cơ hội cho người lao
động, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH.

còn yếu và lý do chính là do thu nhập hàng tháng thấp nên không đủ khả năng tham
gia.
Một bộ phận lớn người lao động (nam từ 45, nữ từ 40 tuổi trở lên) không có khả
năng tham gia BHXH tự nguyện do không có cơ hội được hưởng lương hưu khi
đến tuổi về hưu vì điều kiện phải có đủ 20 năm đóng BHXH.
Thiếu cơ chế để thu hút và chính sách hỗ trợ người lao động khu vực phi chính
thức, đặc biệt là người lao động nghèo, người không đủ điều kiện về tuổi tham gia
hệ thống.
Hệ thống quản lý BHXH:
Cơ sở hạ tầng của hệ thống quản lý BHXH vẫn còn yếu, mạng lưới các dịch vụ thu
và chi BHXH cũng như đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện các nghiệp vụ BHXH
vẫn còn bất cập.
Công tác theo dõi giám sát đối tượng tham gia còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt,
hệ thống BHXH sẽ gặp nhiều khó khăn khi số lượng đối tượng được dự báo là sẽ
tăng nhanh trong thời gian tới.
2. Đối với bảo hiểm y tế
2.1 . thực trạng
a) từ phía nhà nước
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống y tế Việt Nam đã nhanh chóng phát triển,
phục vụ tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Các cơ sở y tế, đặc biệt
là các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh, đã được đầu tư nâng cấp về trang
thiết bị và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ y tế. Tuy nhiên, hệ thống cung
ứng dịch vụ khám chữa bệnh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của
người dân.
Ông Phạm Lê Tuấn, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Y tế) cho hay,
tổng chi cho y tế hàng năm từ nguồn vốn ngân sách nhà nước có tăng, song vẫn ở
mức thấp, chỉ bằng 5 - 6% GDP, trong khi chi cho y tế tính bình quân đầu người ở
nước ta tăng đều hàng năm: năm 2000 là 21 USD/người/năm, năm 2005 là 38
USD, năm 2008 là 66 USD…
Như vậy, trong khi nhu cầu vốn đầu tư cho ngành y tế rất lớn, thì việc huy

2007 956 829 51 10851 710 41
2008 974 781 40 10917 710 38
2009 1002 682 43 10979 710 34
b) từ phía người dân
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra "nghịch lý" giữa nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) và
thực trạng sử dụng DVYT của người nghèo. Người nghèo có nhu cầu CSSK cao
nhưng khả năng tiếp cận và sử dụng DVYT của người nghèo khi mắc bệnh lại thấp
hơn các nhóm đối tượng khác
Chi phí cơ hội của nhóm nghèo khi đi khám chữa bệnh chiếm khoảng 2/3 chi
tiêu ngoài lương thực, thực phẩm trong một tháng, xấp xỉ với chi tiêu cho y tế. Chi
phí này cao hơn rất nhiều so với nhóm giàu nhất (chỉ chiếm khoảng 1/4 chi tiêu
ngoài lương thực, thực phẩm). Một đánh giá của Ngân hàng thế giới cho biết người
nghèo cũng phải chịu gánh nặng chi phí y tế cao hơn nhiều so với các nhóm khác.
. Tỷ lệ người nghèo sử dụng thẻ KCB trong điều trị ngoại trú chỉ chiếm 40%.
Các lý do chủ yếu của người nghèo không sử dụng thẻ BHYT là thiếu kiến thức
trong việc sử dụng thẻ cũng như hiểu biết về lợi ích của thẻ.
Các loại khám 2007 Tỷ lệ 2008 Tỷ lệ So sánh
SL % SL % %
Khám bệnh cho
NB có thẻ BHYT
39,065,511 39.5 42,363,874 40.8 108.4
Khám cho trẻ em
dưới 6 tuổi
9,727,605 9.8 10,980,468 10.6 112.9
Khám miên phí
cho người nghèo
3,423,756 3.5 3,490,899 3.4 102.0
Khám miên phí
cho các đối tượng
khác

không thể chu cấp hết toàn bộ). Đối với người nghèo, điều này đồng nghĩa với việc
thu nhập gia đình bị giảm và đời sống sẽ càng khó khăn hơn, nên họ có xu hướng
tự chữa bệnh, không đi bệnh viện.
3. về việc làm và bảo hiểm thất nghiệp
3.1 thành tựu
a)Tín dụng ưu đãi gắn với tạo việc làm
Những chính sách về tín dụng ưu đãi gắn với tạo việc làm, đào tạo nghề, phát triển
hệ thống thông tin thị trường lao động tại các vùng đã giúp nâng cao trình độ tay
nghề, đảm bảo sinh kế, tạo thêm nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Cụ thể đến nay Nhà nước đã ban hành khoảng 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử
dụng cơ chế vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể. Mục
tiêu của các chính sách tín dụng này rất đa dạng, tín dụng để phát triển sản xuất, tín
dụng cho học sinh, sinh viên…
Đối tượng hưởng lợi là người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật,
thanh niên, người đi xuất khẩu lao động, người lao động bị mất việc làm do tác
động của khủng hoảng kinh tế, người lao động có đất phải chuyển đổi mục đích sử
dụng, học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, thương nhân hoạt động thương
mại tại các vùng khó khăn, người có thu nhập thấp.
b) Đào tạo nghề
Công tác đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của
các doanh nghiệp và tăng cường cơ hội cho các nhóm lao động dễ bị tổn thương có
việc làm ngày càng được chú trọng.
Kết quả, hàng năm có trên 1 triệu người lao động được đào tạo chuyên môn kỹ
thuật. Trong giai đoạn 2006-2009, bình quân mỗi năm đã hỗ trợ cho trên 300 nghìn
lao động nông thôn học nghề ngắn hạn và sơ cấp nghề, bằng 2% tổng số thanh niên
nông thôn.
c) Dịch vụ việc làm
Bên cạnh các trung tâm giới thiệu việc làm công lập, các doanh nghiệp cũng được
phép hoạt động giới thiệu việc làm kể cả sự tham gia của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.

hưởng còn hẹp, cụ thể:
Việc thực thi các chính sách ưu đãi tín dụng còn nhiều khó khăn do có nhiều chính
sách chồng chéo trên cùng một đối tượng ; chính sách tín dụng chưa phù hợp về
điều kiện vay và mức vay. Thiếu gắn kết giữa cho vay vốn và hỗ trợ đầu vào tiếp
cận thị trường nên hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Việc làm chậm tổng kết, tập trung nhiều cho
hộ gia đình vay, ít hỗ trợ các doanh nghiệp để tạo thêm nhiều việc làm mới.
Các chính sách hỗ trợ về đào tạo và dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho nhóm
lao động dễ bị tổn thương còn chưa hiệu quả ; hệ thống thông tin tư vấn giới thiệu
việc làm còn thiếu, chưa phát triển đến các vùng nông thôn; đặc biệt thiếu các cơ sở
đào tạo ở các vùng nông thôn khó khăn (mới chỉ đáp ứng được khoảng 10% nhu
cầu ở những vùng khó khăn), đào tạo và tạo việc làm cho người khuyết tật.
Hệ thống thông tin dịch vụ việc làm còn thiếu, chưa phát triển đến các vùng nông
thôn; tỷ lệ người lao động cũng như doanh nghiệp sử dụng dịch vụ giới thiệu việc
làm còn thấp.
Hệ thống chính sách hỗ trợ lao động dịch chuyển đến các khu công nghiệp, khu đô
thị còn yếu và thiếu, một bộ phận người di cư không tiếp cận được các dịch vụ xã
hội tại nơi đến.
Hoạt động đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài chưa tương xứng với
tiềm năng và nhu cầu của thị trường lao động quốc tế; chất lượng nguồn lao động
thấp, các chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
còn chưa đồng bộ và chưa đủ mạnh, chưa có chính sách hỗ trợ người đi làm việc ở
nước ngoài trở về tái hòa nhập thị trường lao động trong nước.
Các chính sách hỗ trợ các nhóm lao động dễ bị tổn thương bị rủi ro trên diện rộng
còn chưa hiệu quả người nghèo thiếu việc làm, người thất nghiệp, người mất việc
làm do tác động của khủng hoảng, suy giảm kinh tế, thiên tai, dịch bệnh v.v…
4. đối với trợ giúp xã hội (TGXH) và giảm nghèo
4.1. đối với trợ giúp xã hội
TGXH với hai nhóm chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên đóng
vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thu nhập thường xuyên và đột xuất cho các đối

Chính phủ nước ta. Đã huy động được phong trào tương thân, tương ái của mọi
tầng lớp nhân dân, của các tổ chức quần chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc
tế và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhờ đó đã đóng góp được một phần
đáng kể cho những thiếu hụt từ ngân sách Nhà nước.
Tồn tại:
Phạm vi hỗ trợ còn hẹp, mới tập trung chủ yếu cho đối tượng bị rủi ro do thiên tai,
chưa bao gồm các đối tượng bị những rủi ro kinh tế và xã hội.
Mức trợ cấp còn quá thấp, mới chỉ bù đắp được khoảng 10% thiệt hại của hộ gia
đình.
Công tác quản lý hoạt động trợ giúp từ cộng đồng xã hội còn nhiều bất cập, khó
kiểm soát và điều phối các nguồn hỗ trợ từ cộng đồng và các đối tượng cần trợ cấp.
3.2. Các chương trình giảm nghèo
Các chương trình giảm nghèo đã hướng đến các địa bàn nghèo nhất. Người nghèo
đã dễ dàng tiếp cận với tín dụng ưu đãi, thủ tục vay đã được đơn giản. Chính sách
hỗ trợ y tế và giáo dục đã đem lại lợi ích thực sự cho người nghèo. Hỗ trợ nhà ở đã
góp phần quan trọng ổn định cuộc sống các hộ nghèo, đặc biệt là các hộ đồng bào
dân tộc thiểu số.
Nguồn lực huy động cho công tác xóa đói giảm nghèo ngày càng tăng. Môi trường
pháp lý để huy động sự tham gia của cộng đồng, xã hội và doanh nghiệp trong hỗ
trợ người nghèo ngày càng hoàn thiện.
Các chính sách đã tập trung hỗ trợ cả hộ cận nghèo nhằm thoát nghèo bền vững,
giảm thiểu tình trạng tái nghèo.
Kết quả là tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh, từ 29% năm 2002 giảm xuống còn 15,9%
năm 2006 và 11,3% vào cuối năm 2009 . Hộ nghèo được tăng cường tiếp cận chính
sách. Trong 3 năm 2006-2008, gần 4,2 triệu hộ được vay vốn; gần 2,1 triệu lượt
người nghèo được hướng dẫn làm ăn, chuyển giao kỹ thuật; 60 nghìn người nghèo
được miễn, giảm phí học nghề; mỗi năm hỗ trợ được 30 nghìn người học nghề;
khoảng 7,8 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí và các khoản đóng
góp xây dựng trường; 99,54% người nghèo được cấp thẻ BHYT năm 2008; 340
nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm. Hệ thống cơ sở hạ tầng ở những địa bàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status