nghiên cứu công nghệ sản xuất vắcxin chống dị ứng từ mạt bụi nhà acarien d pteronyssinus (DP) và ứng dụng trong chẩn đoán, điều trị một số bệnh dị ứng hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc xây dựng tiêu chuẩn cơ s - Pdf 13

Bộ khoa học và công nghệ
Công ty VC XIN pasteur Đà lạt
Báo cáo kết quả đề tài nhánh
KC 10-10/ 06-10/05
Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở của VC XIN dị nguyên
mạt bụi nhà Acarien D.pteronyssinus gây các bệnh
dị ứng: Hen phế quản, Viêm mũi dị ứng, Viêm kết mạc
Chủ nhiệm đề tài nhánh: TS.Lơng Hồng Châu.
Thời gian thực hiện: 01/07/2007 - 25/05/2009

7598-5
20/01/2010
Hà nội , 05 2009

Hà nội, 05 - 2009
1

T VN

Ngy nay d ng chim mt v trớ quan trng trong y hc hin i, trờn
th gii 15 - 20% dõn s b d ng, trong ú 20% bnh nhõn mn cm vi d
nguyờn ng khớ, 300 triu ngi hen. S ngi t vong trờn th gii l 20
vn ngi tớnh trung bỡnh l c 40-60 ngi/triu dõn, M > 6000 ngi,
Anh, c, Phỏp > 3000 ngi, Vit Nam > 3000 ngi. Ti nm 2015 cú th
cú ti 1/2 dõn s mc bnh d
ng. Bnh d ng ng th 3 sau tim mch,
ung th [13].
Do vy, cỏc bnh d ng l mt vn sc kho cng ng ln nhiu
khớa cnh khỏc nhau, bao gm c vic lm gim cht lng cuc sng, mt
nng sut lao ng, gim kh nng hc tp, chi phớ tn kộm iu tr, thm
chớ t vong khi chỳng ti
n trin thnh hen.
Ngày nay không còn ai nghi ngờ rằng nhiều bệnh dị ứng ( nh Hen phế
quản atopy, Viêm mũi dị ứng, mày đay, eczema atopy, và nhiều bệnh khác) do
tác động của bụi nhà là một trong những nguyên nhân thông thờng nhất
(Helk et al, 1986; Berardino et al,1987; Plátt-Mills et al, 1987; Bousquet et al,
1988; Saint-Remy et al, 1988).
Tuy nhiên, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh dị ứng trên thế giới rất cao, bản chất dị
nguyên của mạt bụi nhà cha đợc nghiên cứu đầy đủ.
Để chẩn đoán một bệnh dị ứng, trớc hết cần phải xác định nguyên nhân
gây dị ứng (một hoặc nhiều DN đặc hiệu). Vì vậy tiến hành test mẫn cảm
(sensitivity testing) với các DN điều chế đợc vẫn là phơng pháp chủ yếu để
tìm nguyên nhân của bệnh. Mặt khác, phơng pháp điều trị bằng DN còn gọi
là phơng pháp giảm mẫn cảm đặc hiệu hoặc liệu pháp miễn dịch là

bông, lông vũ đã đợc các tác giả Nguyễn Năng An, Nguyễn Văn Hớng,
Nguyễn Văn Sửu, Vũ Minh Thục, Phan Quang Đoàn, v.v thực hiện thành
công. Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các đặc tính sinh học, hóa sinh, miễn
dịch của các dị nguyên nói trên, sử dụng các dị nguyên này trong chẩn đoán
và điều trị các bệnh dị ứng đã mang lại hiệu quả tích cực. Song các tác giả
cha đi sâu nghiên cứu thành phần chính có khả năng tạo nên hoạt tính của dị
3

nguyên bụi nhà, đó là các loài mạt có trong bụi nhà và các sản phẩm thải của
chúng. Bụi nhà chỉ là môi trờng sống của mạt. Mặt khác, một số kết quả
nghiên cứu gần đây cho thấy sử dụng dị nguyên bụi nhà để điều trị cho bệnh
nhân hen phế quản và viêm mũi dị ứng cho kết quả thấp hơn so với dùng dị
nguyên mạt bụi nhà để điều trị.
Việt Nam là nớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng, nóng, có độ ẩm
cao. Đây là điều kiện thuận lợi cho mạt bụi nhà phát triển, đặc biệt đối với loài
phổ biến nh D. pteronyssinus. Do đó việc nghiên cứu nghiên cứu các đặc tính
sinh học của dị nguyên mạt bụi nhà D. pteronyssinus để có thể ứng dụng vào
thực tế y học nớc ta là một yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa khoa học. Xuất
phất từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
Xõy dng Tiờu chun c s ca Vcxin d nguyờn mt bi nh
Acarien D.pteronyssinus gõy cỏc bnh d ng: Hen ph qun, viờm mi d
ng, viờm kt mc
Nhằm mục tiêu:
Xây dựng Tiêu chuẩn về vc xin dị nguyên D. pteronyssinus về các đặc
tính
- Đặc tính Vật lý.
- Đặc tính Hoá học.
- Đặc tính Sinh học
- Đặc tính Miễn dịch


trẻ em và người lớn b
ị hen.
1987 - 35 bác sỹ, với sự hỗ trợ của tổ chức Y tế thế giới, mô tả mạt bụi
nhà là một nguyên nhân chủ yếu gây bệnh dị ứng trên toàn thế giới.
1988 - Phân tích DNA đầu tiên xác định dị nguyên chính của Mạt (Der
p1) là một enzym có hoạt tính.
5

1990 - Các Bác sỹ mô tả mối liên hệ giữa sự tiếp xúc với mạt, hen ở trẻ
em và 1 gen đặc trưng.
1990 - Các nhà khoa học cảnh báo rằng các enzym của mạt (các dị
nguyên) có thể chọc thủng sự bảo vệ phổi bằng cách phân huỷ các mô mềm.
1992 - Một nghiên cứu về tránh mạt sâu hơn ở trẻ em bị hen chứng minh
sự cải thiện sức khoẻ; ngoài ra các bác sỹ đã đưa ra các hướ
ng dẫn để hỗ trợ
việc tránh dị nguyên trong điều trị bệnh.
1995 - Một bài báo tổng hợp tất cả nghiên cứu về mạt, sinh học của mạt
và vai trò của mạt trong dị ứng được xuất bản; và có thêm bằng chứng khoa
học của sự phá huỷ tế bào gây ra do các thành phần từ mạt.
1996 - Có các bằng chứng mô tả các thành phần mạt có thể gây ra các
triệu trứng kiểu d
ị ứng trước khi phát triển thành dị ứng thực sự.
1997 - Các Hướng dẫn mới về hen khuyến cáo tránh dị nguyên mạt trong
điều trị hen.
1998 - Các nhà khoa học mô tả cách thức các dị nguyên mạt có thể gây
ra hen dị ứng.
2000 - Sự khẳng định về Y học rằng sự nhạy cảm với mạt bụi nhà ở trẻ
em phụ thuộc vào liều lượng, và ở trẻ nhỏ bị hen do m
ạt càng tiếp xúc với mạt
nhiều thì tình trạng hen càng nặng.

Các thống kê dịch tễ học gần đây ở trong và ngoài nước cho thấy, các
bệnh dị ứng đường hô hấp trên - ch
ủ yếu là VMDƯ và hen phế quản (HPQ)
chiếm tỷ lệ từ 10-15% dân số, tương ứng với 2,5% - 3,5% tổng số người bệnh
đến khám bệnh ở mọi chuyên khoa và chiếm một phần đáng kể trong kinh phí
dành cho y tế .
- Thụy Điển: 25,87% VMDƯ; 8,1% HPQ.
- Na Uy: 24,95% VMDƯ; 8,51% HPQ.
- Việt nam : 15 - 20% VMDƯ; 5 - 7 % HPQ.
- Một số nước Đông Nam Á: VMDƯ ở Thái Lan: 38,63%; Singapore:
39,58%; Indonexia: 41,45% [9], [11], [14], [28], [32], [41], [44].
Giống như phần lớn các môn hóa sinh, lịch sử thu
ật ngữ dị nguyên quay
trở về thời gian khi các dị nguyên phân lập được bằng cách sử dụng một số kỹ
thuật tách sinh hóa "kinh điển", và phần hoạt tính (phần lớn có tính dị nguyên)
thường được đặt tên theo ý nghĩ chợt nảy ra của nhà nghiên cứu. Đã có những
cố gắng sớm để tinh lọc dị nguyên phấn hoa và dị nguyên mạt bụi nhà, sử
dụng chiết phenol, kết tủa mu
ối và các kỹ thuật điện di trong những năm
7

1940-1950. Trong những năm 1960, sự trao đổi ion và môi trường lọc trong
gel đã được đưa vào sử dụng, và dị nguyên đầu tiên được tinh lọc là "kháng
nguyên E" của cỏ phấn hương. Dị nguyên này được King và Norman đặt tên
vì nó ở một trong năm phân đoạn kết tủa (đánh dấu từ A đến E).
Đỉnh cao phát triển đầu những năm 1970 là những nghiên cứu về các kháng
nguyên của Marsh, mô tả các tính chất phân tử của các dị
nguyên, các yếu tố
ảnh hưởng đến tính dị nguyên, đáp ứng miễn dịch với dị nguyên, và các
nghiên cứu miễn dịch di truyền của đáp ứng IgE với các dị nguyên phấn hoa

chuyên khảo nói về DN như một loại sinh phẩm không nhiều. Tuy nhiên,
những tiến bộ của dị ứng học ứng dụng, hóa miễn dịch và công nghệ sinh học
thường xuyên mở ra những triển vọng mới đối với việc tạo nên các chế phẩm
DN. Việc nghiên cứu sâu các thành phần DN phối hợp với những kết quả
nghiên cứu lâm sàng cho phép tách các thành phầ
n ít hoạt tính và để lại các
phân đoạn chính của DN [23], [25], [32], [41], [95].
Thực tiễn y học đã sử dụng rộng rãi các chế phẩm DN được chiết xuất
bởi nước - muối để chẩn đoán xác định tác nhân gây bệnh dị ứng và đặc trị
bằng MDĐH. Việc mở rộng danh mục các DN đã dẫn tới sự cần thiết phải
tiến hành một số lượng lớ
n các mẫu thử nghiệm chẩn đoán trên da, kết hợp
với việc tăng số lượng bệnh nhân đã làm phức tạp công việc của ngành dị ứng
học. Ngoài ra đi đôi với việc dùng các chiết xuất nước - muối để chữa bệnh
đôi khi gây nên các phản ứng quá mẫn tại chỗ, từng vùng và từng hệ thống ở
những người mẫn cảm cao, đặc biệ
t là khi sử dụng các mũi tiêm DN có nồng
độ lớn. Thời gian của đợt điều trị cũng là một vấn đề rất quan trọng đối với
bệnh nhân, đòi hỏi các bác sĩ lâm sàng phải mất nhiều thời gian chăm sóc.
Chính vì vậy mà trong thời gian vừa qua đã có nhiều đề xuất về cấu trúc các
dạng DN mới. Ví dụ, với mục đích chẩn đoán, người ta đã áp dụ
ng các hệ
thống hấp thu DN bằng phóng xạ RAST (Radio Allergosorbent Test) và
ELISA (Enzyme-linked Immunosorbent Assay). Trong nghiên cứu các thể
DN điều trị, một trong những xu hướng được chú ý là biến đổi những KN làm
mất đi khả năng phản ứng với những kháng thể đặc hiệu loại IgE mà vẫn duy
trì hoạt tính miễn dịch (hình thành trong cơ thể các kháng thể bao vây loại
9

IgG). Đã có dự tính sử dụng các kháng nguyên với nồng độ nhỏ nhất để chữa

10

Năm 1964, Voorhorst và cộng sự nhận thấy rằng mạt Dermatophagoides
(Bogdanov, 1894) có mặt trong bụi nhà là nguyên nhân gây HPQ; Voorhorst
và cộng sự (1969) kết luận rằng Dermatophagoides pteronyssinus
(Trouessart, 1897) là nguồn DN chủ yếu gây bệnh cơ địa dị ứng do bụi nhà.
Các tác giả đã chứng minh sự phụ thuộc trực tiếp của tần số phản ứng với chế
phẩm bụi nhà ở các bệnh nhân vào độ bão hòa mạt trong bụ
i nhà. Trong
nghiên cứu này, người ta đã xử lý đặc biệt một trong các phần bụi được thu
thập ở vùng núi cao Thụy Sĩ với số lượng mạt không đáng kể, sau đó làm cho
tất cả mạt đều chết. Tiếp theo chia nguyên liệu làm 2 phần, rồi đưa một lượng
nhỏ mạt sống vào 1 trong 2 phần đó. Cả 2 phần nguyên liệu giữ trong điều
kiện tối ưu cho mạ
t sinh sản trong 3 tháng. Sau đó tách chiết DN theo cùng
một kỹ thuật. Kết quả cho thấy chế phẩm tách chiết từ phần có mạt bụi nhà
sống có hoạt tính KN mạnh gấp 100 lần. Nghiên cứu này đã khẳng định cơ sở
tác dụng gây dị ứng của bụi nhà là D. pteronyssinus. Từ đó các nhà nghiên
cứu hướng vấn đề dị ứng vào MBN [9], [10], [11], [16], [18], [25], [47].
Hàng loạt các công trình nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới đ
ã
chứng minh chính MBN, đặc biệt là loài D. pteronyssinus - thành phần quan
trọng nhất của bụi nhà quyết định hoạt tính KN của nó và cho rằng DNBN chỉ
mang tính KN khi có mạt trong bụi [9], [11], [25], [43], [79], [100]. Hình 1.1. Mạt D. pteronyssinus
11

Nhận thức đợc vai trò quan trọng của dị nguyên trong chẩn đoán và điều

1993 : Nguyễn Văn Hớng và CS nghiên cứu về : Điều chế, tiêu chuẩn
hóa và ứng dụng trong lâm sàng của dị nguyên bụi nhà toàn phần.
12

1995 : Vũ Minh Thục : Miễn dịch liệu pháp trong điều trị Hen phế quản
(Luận văn TSKH)
1996 : Nguyễn Năng An, Vũ Minh Thục, Phan Quang Đoàn, Lê Văn
Khang, nghiên cứu độ mẫn cảm của dị nguyên bụi nhà và hiệu quả điều trị của
chúng.
2001 : Vũ Minh Thục, Phạm Quang Chinh, Lu Tham Mu nghiên cứu
điều tra 2 loài mạt bụi nhà gây bệnh dị ứng: D.pteronyssinus và G. domesticus
ở Hà Nội và các vùng phụ cận.
2002 : Vũ Minh Thục, Phạm Quang Chinh, Đái Duy Ban : Nuôi cấy mạt
bụi nhà D.pteronyssinus tạo nguồn dị nguyên góp phần chẩn đoán và điều trị
bệnh dị ứng do mạt bụi nhà.
ở nớc ta, theo công trình nghiên cứu của Vũ Minh Thục (1990) thấy rằng
Glycyphacus domesticus và Dermatophagoides pteronyssinus là 2 loài D.
pteronyssinus phổ biến nhất ở Hà Nội. Tần số phát hiện chúng trong các mẫu
bụi tơng ứng là 89,09% và 43,64%, tỷ lệ trên tổng số D.pteronyssinus tơng
ứng là 42,3% và 49,0%. Số lợng của chúng trong 1g bụi trung bình là
332,76163,1 và 385,24220,38 con [4].

1.3.2. VAI TRề CA MT BI NH TRONG BNH D NG
Khi bn hỳt bi, quột, lm sch bi nh v sinh nh ca (hoc cú mt
trong lỳc ú) m bn b chy nc mi, nga mi v ht hi tng hi, thỡ cú
th l bn ó d ng vi mt cht no ú trong bi nh. Thnh phn chớnh
xỏc no gõy ra d ng cho bn cú th c khng nh bng phn ng th d
ng tin hnh trờn da, hoc bng phn
ng huyt thanh ca bn [9], [10], [25].
Nu bn b d ng vi bi nh thỡ nhng triu chng ca bn thng

khi ở
trong nước tiểu và chỗ ẩm ướt [41], [43], [44], [52], [54].
Đối với bụi nhà, MBN chiếm hơn 70% tính dị ứng nguyên. Vì vậy người
ta đặt vấn đề xem xét lại thuật ngữ “dị ứng với bụi nhà”.
Theo Pepys và cộng sự, tần số phát hiện D. pteronyssinus trong các mẫu
bụi nhà là hơn 80%.
Nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện thành phần khu hệ mạt nhà ở và tỉ lệ
dị ứng do MBN ở các khu vực khác nhau và nhậ
n thấy rằng D. pteronyssinus
là loài mạt có hoạt tính gây dị ứng cao phổ biến nhất, chiếm từ 70 – 98% tổng
số mạt phát hiện được. Thành phần hệ MBN phụ thuộc nhiều yếu tố khác
14

nhau, chẳng hạn như mùa, vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu, điều kiện xã hội và
sinh hoạt [1, 19, 56, 57, 59, 73, 74].
Một số nghiên cứu nhận thấy rằng, phụ thuộc vào điều kiện sống của
bệnh nhân hoặc các đặc điểm nghề nghiệp của họ mà có những phản ứng dị
ứng khác nhau với các loài mạt khác nhau.
MBN là nguyên nhân gây các bệnh HPQ, viêm mũi, viêm kết mạc d

ứng. Ngoài ra, chúng còn là căn nguyên của bệnh mày đay mạn tính, viêm da
dị ứng. Nhiều nhà nghiên cứu đã xác nhận mối liên hệ của các bệnh dị ứng kể
trên với mạt D. pteronyssinus.
Tỉ lệ mạt trong bụi nhà là yếu tố bệnh căn của HPQ và các bệnh khác,
dao động lớn và phụ thuộc vào điều kiện địa lý-khí hậu. Ở nước có khí hậu
duyên hải ẩm, sự
mẫn cảm với DN D. pteronyssinus chiếm 70 – 100% số
trường hợp bệnh nhân HPQ dị ứng. Ở nước có khí hậu lục địa khô, tỉ lệ này
thấp hơn và dao động từ 14,1 đến 43,2% [1], [9], [10], [11], [20], [22], [25].
Tovey và cộng sự đã chứng minh các mẫu phân mạt cũng là một nguồn

quan trọng đối với dị ứng học thực hành, đặc biệt, nếu chú ý đến ý kiến của
Ado cho rằng bụi có tính đặc hiệu đối với từng bệnh nhân. Khi nghiên cứu
tính chất DN của bụi có nguồn gốc khác nhau, Ado và cộng sự nhận thấy ý
nghĩa của “bụi cá nhân” trong bệnh sinh HPQ.
Nhiều tác giả cho rằng ngoài con đường hít còn có thể có con đường tổn
thương do tiếp xúc v
ới mạt D. pteronyssinus. Chẳng hạn, các nhà nghiên cứu
Nhật Bản chỉ ra rằng giống mạt Dermatophagoides có thể đóng vai trò bệnh
sinh của mày đay. Các tác giả đã tiến hành thử nghiệm dưới da với DN D.
pteronyssinus và D. farinae ở 138 bệnh nhân mày đay mạn tính. Đã phát hiện
phản ứng dương tính với D. pteronyssinus ở 37 bệnh nhân (26,8%), còn với
D. farinae – ở 68 bệnh nhân (40,3%). Titova và cộng sự, Kanchurin,
Vaitsekauskaite đã chỉ ra vai trò củ
a mạt trong bệnh căn mày đay, chứng
minh sự mẫn cảm với D. pteronyssinus ở những bệnh nhân mày đay bằng các
thử nghiệm da và phản ứng phân hủy tế bào mast gián tiếp.
Đã có những tài liệu nói về vai trò bệnh căn của MBN trong các bệnh da
dị ứng của người như viêm da dị ứng và viêm da thần kinh.
Kể từ khi Voorhorst R (1964) chỉ ra vai trò của MBN trong việc phát
sinh HPQ dị ứng, đến nay nhờ tạo ra
được các KT đơn dòng người ta đã đo
16

được số lượng DN trong môi trường sống, mức độ DN có thể gây mẫn cảm
cũng như mức độ DN dẫn đến xuất hiện triệu chứng bệnh lý.
Các hạt phân của mạt chứa phần lớn DN Der p I, có kích thước trung
bình 20 µm, trong đó 4% Der p I có kích thước dưới 5 µm có thể được hít
thẳng vào phổi. DN MBN có hoạt tính enzym, do đó làm tăng tính thấm của
hàng rào biểu mô đường hô hấp. Các ph
ần tử DN này có nhiều trong bụi của

Mức độ DN mạt trong không khí thay đổi theo mùa và ảnh hưởng bởi sự

thông khí, nhiệt độ, độ ẩm nên mức độ mẫn cảm và triệu chứng của bệnh
cũng thay đổi theo.
Ở nước ta, theo Nguyễn Năng An , Nguyễn Văn Hướng, Vũ Minh Thục,
dị nguyên mạt bụi nhà chiếm vị trí lớn trong bệnh căn HPQ, Viêm mũi dị ứng
và nhiều bệnh dị ứng khác. Các nghiên cứu trong nước đã chú ý tới vai trò
mạt thuộc họ Pyroglyphidae, trong đó D. pteronyssinus – mộ
t loài MBN
thường gặp ở nước ta có ý nghĩa to lớn. Có thể là do độ ẩm không khí cao gần
như quanh năm, số ngày sương mù nhiều, nhiệt độ trung bình hàng năm
tương đối cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho mạt phát triển ở nước ta và làm
cho vấn đề dị ứng với MBN ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên, các
công trình nói trên mới chỉ đánh dấu bước khởi đầu trên con đường nhận thứ
c
vai trò của MBN trong bệnh căn và bệnh sinh của các bệnh dị ứng ở nước ta.
1.3.2.2.Vai trò của dị nguyên mạt trong cơ chế bệnh lý (quá mẫn typI)
a. Cái gì trong bụi nhà đã gây ra dị ứng:
Một cuộc tranh cãi đã nổ ra trong nhiều năm tại nhiều phòng thí nghiệm
trên thế giới là chỉ một chất kháng nguyên đặc biệt duy nhất có trong bụi nhà
gây ra dị ứng, hoặc triệu chứng do dị ứng gây ra có thể quy cho m
ột trong
những chất đã được thừa nhận là có trong bụi đáng nghi ngờ nhất, đó là
những con mạt trong bụi nhà. Tuy nhiên, mọi thành phần trong bụi nhà đều có
thể là nguyên nhân của những triệu chứng, các loại côn trùng khác và phân
của chúng, nhất là con gián, cũng như những mảnh vụn ở lông, da của các con
vật nuôi trong nhà (chó và mèo). Thật là không may vì nhiều người có cơ địa
dị ứng lại thường dễ bị cảm ứ
ng với nhiều thành phần trong bụi nhà của họ.
18

nơropeptit tại chỗ (chất P và tachykinin). Những chất này lại kích thích tế bào
19

mast thoát hạt. Ngoài ra, DN làm lympho bào T (CD4+Th0) hoạt hóa thành
lympho T (CD4+Th2).
+ Giai đoạn muộn: xảy ra từ 2 – 48 giờ. Đáp ứng tế bào chiếm ưu thế do
sự tương tác giữa các tế bào dưới ảnh hưởng của các cytokin. Tính chất đặc
trưng của HPQ, VMDƯ là sự tích tụ tại chỗ các tế bào viêm như lympho
TCD4, eosinophil, basophil, nơrophil. Trong đó, eosinophil giải phóng ra một
lượng rất lớn các protein cơ bản gây độc tế bào biể
u mô đường hô hấp và sự
có mặt của các ion kích thích tế bào mast thoát hạt.
Các biểu hiện trên đều do các cytokin điều biến. Ngoài các tế bào
lympho T, cytokin còn tiết ra từ các tế bào mast, basophil, đại thực bào và tế
bào biểu mô. IL-4 kích thích lympho B tăng sản xuất IgE, tăng bộc lộ các
phân tử kết dính (ICAM) ở thành mạch để thu hút eosinophil đến mô tổ chức,
chuyển lympho Th0 thành lympho Th2, bộc lộ các thụ thể IgE có ái lực thấp
(CD23), ức chế tạo thành IFNγ, kích thích tế
bào mono biệt hóa thành tế bào
trình diện kháng nguyên. IL-13 kích thích lympho B sản xuất IgE, bộc lộ thụ
thể IgE có ái lực thấp (CD23), hoạt hóa tế bào nội mô bộc lộ phân tử kết dính
để thu hút các tế bào viêm tới tổ chức. IL-5 có đặc tính chọn lọc đối với
eosinophil, gồm kích thích biệt hóa và trưởng thành của các eosinophil từ tủy
xương, hoạt hóa các eosinophil và làm tăng thời gian sống của nó ở tổ chức.
20 Hình 1.2. Vai trò của dị nguyên MBN trong cơ chế bệnh lý
1.3.3 . CÁC ĐẶC TÍNH HÓA SINH VÀ MIỄN DỊCH CỦA DỊ NGUYÊN
MẠT BỤI NHÀ

sự đã nghiên cứu phần gluxit của DN D. pteronyssinus đã tinh chế và ý nghĩa
của nó trong chẩn đoán mẫn cảm bằng phương pháp RAST. Tr
ước hết người
ta tinh chế DN, dùng phương pháp lọc gel trên sephadex G-100 và sắc ký trao
đổi ion (phương pháp sau không cho phép tách các hợp phần gluxit). Phần
gluxit của DN chủ yếu gồm có mannoza, galactoza, glucoza, N-
acetylglucozamin, N-acetylgalactozamin, polysaccarit. Polysaccarit gồm có
hexozamin với các mạch bên có nhóm tận cùng là galactoza. Sau khi xử lý
đường bằng các chất oxi hóa, khả năng của DN mạt kết hợp với IgE đặc hiệu
(trong test ức chế RAST) giảm rõ rệt. Như vậy, mặc dù chế phẩm nghiên cứu
chủ yếu là protein (65%), vai trò của ph
ần gluxit của nó biểu hiện rõ ràng.
Có tác giả cho rằng thành phần chủ yếu của DN mạt là protein, nhiều
công trình nghiên cứu định tính và định lượng thành phần axit amin của các
dịch chiết mạt và các phân đoạn của chúng, đã xác định được 16 axit amin
trong thành phần của DN mạt D. pteronyssinus: asparagin, glutamin, glycin,
alanin, valin, leucin, isoleucin, serin, threonin, cystein, prolin, phenylalanin,
tyrosin, histidin, lysin, arginin, trong đó các axit amin không phân cực chiếm
tỉ lệ lớn. Các số liệu thực nghiệm chứng tỏ khả năng KN tiềm tàng củ
a DN
mạt được quyết định bởi chính hàm lượng các axit amin không phân cực.
22

Thành phần axit amin tương tự cũng được phát hiện ở DN mạt D. farinae.
Tuy nhiên, trong trường hợp này các tác giả phát hiện có methionin, không có
isoleucin. Các hydroxi axit amin được phát hiện với tỉ lệ khá lớn (serin –
6,84%, threonin – 4,58%) [6], [9], [11], [21], [25], [30], [43], [49], [53], [55].
Romagnani và cộng sự đã tiến hành thẩm tách dịch chiết D.
pteronyssinus và D. farinae và thẩm tách DNBN bình thường ngược với dung
dịch NaCl đẳng trương (đã đệm hóa). Chỉ thẩm tách được một phần nhỏ DN.

nitroxenluloza nhờ điện di ngang). Các tác giả kết luận rằng hoạt tính của các
dịch chiết mạt phụ thuộc sự có mặt của cả 11 hợp phần KN đặc hiệu và có ý
nghĩa về lâm sàng. Hơn 80% số phản ứng ở bệnh nhân là với 2 trong số các
chế phẩm nói trên (với 5 chế phẩm khác được đánh giá trong lâm sàng, số
phản ứng là 50 – 22%). Điều này khẳng định quan điểm của Lowenstein về
tầm quan trọng của việc phân ra DN “chính” .
Krilis và cộng sự phản đối thuật ngữ “DN chính”, đề nghị thay nó bằng
“DN có ý nghĩa lâm sàng” mà đối với các bệnh nhân khác nhau nó có thể
khác nhau. Cần chú ý r
ằng theo quan điểm di truyền MD, mức độ đáp lại DN
hoặc phân đoạn của nó phụ thuộc nhiều vào kiểu gen bệnh nhân có thể phản
ứng cao hoặc thấp. Vả lại, vấn đề đang thảo luận tiếp tục được nghiên cứu
mạnh mẽ và được bổ sung những sự kiện mới. Stewart và cộng sự đã xác định
được 9 KN ở D. pteronyssinus có tính chất gây dị
ứng. Trong dịch chiết vỏ
cuticular của mạt hoặc môi trường sống của chúng chỉ có 5 KN như vậy. Các
dịch chiết chứa các enzim (esteraza, photphataza, aminopeptidaza,
glycosidaza), tuy nhiên, không một enzim nào trong số chúng có hoạt tính gây
dị ứng.
Bằng điện di MD chéo cho thấy dịch chiết MBN chứa hơn 50 KN khác
nhau, 13 trong số KN đó là DN.
Theo Platts-Mills, việc tinh chế DN mạt chỉ có thể thực hiện khi phương
pháp nuôi cấy MBN quy mô lớn phát triển. DN chính đầu tiên được tinh chế
có tên là DN
Dermatophagoides pteronyssinus I (hoặc Der p I). Đây là một
glycoprotein, KLPT 24.000 Da, có 2 chuỗi đồng nhất với papain và có hoạt
tính enzim. Kháng thể đơn dòng đối với Der p I được thông báo năm 1984.
Protein này được giải trình tự một phần năm 1985, được nhân dòng vô tính và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status