Nghiên cứu công nghệ sản xuất vắcxin chống dị ứng từ mạt bụi nhà acarien d pteronyssinus (DP) và ứng dụng trong chẩn đoán, điều trị một số bệnh dị ứng hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc nghiên cứu quy trình phân - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CÔNG TY VACCINE PASTEUR ĐÀ LẠT
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NHÁNH
KC10-10/06-10/01 NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH PHÂN LẬP GIÁM ĐỊNH
HÌNH THÁI HỌC LOÀI MẠT BỤI NHÀ ACARIEN
D.PTERONYSSINUS GÂY CÁC BỆNH DỊ ỨNG:
HEN PHẾ QUẢN, VIÊM MŨI DỊ ỨNG, VIÊM KẾT MẠC Chủ nhiệm đề tài nhánh: PGS. TS Nguyễn Đức Trọng
TS Nguyễn Văn Châu
Thời gian thực hiện: 01/4/2007- 28/5/2007
Chủ nhiệm đề tài nhánh
: PGS. TS Nguyễn Đức Trọng
TS Nguyễn Văn Châu
Cán bộ thực hiện
:
GS. TSKH Vũ Minh Thục
TS Nguyễn Văn Châu
TS Võ Thanh Quang
Ths Huỳnh Quang Thuận
KS Đinh Văn Minh HÀ NỘI-2009

1
Nghiên cứu quy trình phân lập giám định hình thái học loài
mạt bụi nhà Acarien D. pteronyssinus gây các bệnh dị ứng:
Hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Voorhorst và Spieksma 1964, lần đầu tiên chứng minh được rằng mạt sống
trong nhà là nguyên nhân gây ra hen phế quản do bụi nhà. Sau này Fain (1965,
1966) chứng minh trong bụi nhà có 3 loài gây ra dị ứng và viêm phế quản là:

quản thuộc các giống loài sau: Dermatophagoides pteronyssinus (Trouessart), D.
farinae Hughes và Euroglyphus maynei (Cooreman). Ba loài mạt này được công bố

lần đầu tiên do Fain, 1965 và 1966. Các phát hiện trên mở đầu cho các công trình
nghiên cứu sau này về vai trò của mạt bụi nhà với bệnh dị ứng và hen phế quản.
Mạt sống trong bụi nhà gồm một số họ, nhưng quan trọng nhất là họ
Pyroglyphidae vì nó gồm nhiều loài mạt gây ra hội chứng hen phế quản. Họ
Pyroglyphidae hiện nay trên thế giới đã phát hiện được 18 giống và 46 loài, trong
số này có 13 loài đã được phát hiệ
n trong bụi nhà. Một số trong các loài này đã
phân bố trên toàn thế giới, một số loài chỉ phân bố ở một số nước. Các công trình
nghiên cứu về phân loại mạt bụi nhà phải kể đến các tác giả: Bogdanov (1864) đã
mô tả giống Dermatophagoides với loài D. scheremetewskyi, ông phát hiện loài này
ở da một bệnh nhân ở Mạc Tư Khoa.
Đến năm 1928, Oudemans phát hiện Dermatophagoides trên cây cảnh của một
gia đình ở Hà Lan, sau này được xác định chính là loài
D. pteronyssinus (Fain,
1964).
Năm 1947, Sasa đã phát hiện ra mạt ở nước tiểu và đờm của bệnh nhân ở Nhật
Bản. Ông đã đưa ra giống Visceroptes có 2 loài: V. saitoi và V. takeuchii. Sau này
năm 1950, chính ông hiệu đính lại giống của ông đã phát hiện chính là
Dermtophagoides. Đến năm 1958 ông lại phát hiện ra loài D. scheremetewskyi ở
một kho dược phẩm. Tuy nhiên khi xem xét về hình vẽ thì chính là D. farinae.

3
Năm 1956, Baker và cộng sự phát hiện D. schemerementeskyi ở ghế sofa, đệm,
gối long vũ, tổ chim sẻ, thức ăn ngũ cốc cho khỉ.
Năm 1964, Voorhorst và Spieksma đã khám phá ra Dermatophagoides rất phổ
biến ở Hà Lan và là nguyên nhân gây ra hen phế quản ở nước đó.
Colloff MJ 1987, nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm đến sự phát

hóa và ứng dụng trong lâm sàng của dị nguyên bụi nhà tòan phần.
Năm 1996, Nguyễn Văn An, Vũ Minh Thục, Phạm Quang Đoàn, Lê Văn
Khang đã nghiên cứu độ mẫn cảm của dị nguyên b
ụi nhà và hiệu quả của chúng.
Nhìn chung nhóm các tác giả kể trên ít đề cập đến điều tra các loài, hình thái
sinh học của mạt bụi nhà. Mãi tới năm 2001 trở đi mới có các công trình công bố
về một số loài mạt bụi nhà ở nước ta.
Năm 2001, Vũ Minh Thục, Phạm Quang Chinh, Lưu Tham Mưu, Đái Duy
Ban đã điều tra, nghiên cứu 2 loài mạt bụi nhà gây bệnh dị ứng: D. pteronyssinus
và Glycyphacus domesticus ở Hà Nộ
i và các vùng lân cận.
Năm 2002, Vũ Minh Thục, Phạm Quang Chinh, Đái Duy Ban đã nuôi cấy mạt
bụi nhà D. pteromyssinus tạo nguồn dị nguyên góp phần chẩn đoán và điều trị bệnh
dị ứng do mạt bụi nhà. Các tác giả điều tra thu thập mạt bụi nhà tại Hà Nội và vùng
phụ cận, đã rút ra nhận xét: ở Hà Nội và vùng phụ cận 91,59% số mẫu bụi đều có
mạt bụi nhà; hai loài D. domesticus
và D. pteronyssinus phổ biến nhất ở đây, tỉ lệ
của chúng là 52,19% và 40,93% so với tổng số mạt cho mỗi loài. Mật độ D.
domesticus và D. pteronyssinus trong bụi nhà nông thôn nhiều hơn trong bụi nhà
thành phố. Mùa phát triển thuận lợi nhất của mạt bụi nhà ở Hà Nội và vùng phụ cận
là mùa xuân và thu đông[1].
Các công trình công bố ở trong và ngoài nước là cở sở cho chúng tôi nghiên
cứu phân loại D. pteronyssinus và sinh học, sinh thái để nhân nuôi loài này trong
phòng thí nghiệm vớ
i quy mô đủ để sản xuất dị nguyên.
3. Thời gian, địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Thời gian thực hiện : từ tháng 4/2007 đến tháng 3/2008. 5


6
Cách thu thập mạt bụi nhà: dùng máy hút bụi lần lượt hút khắp hai bề mặt
chiếu, đệm, chăn, gối, giường của từng gia đình; sau đó tháo tụi đựng bụi ra và
dùng chổi quét bụi vào tấm ni lon; nhặt bỏ hết rác chỉ còn bụi cho vào lọ có nắp
vặn chặt, hay túi ni lông buộc chặt miệng túi bằng dây chun và ghi nhãn cẩn thận
(thời gian, tên chủ nhà, tên địa phương). Bụi của từng nhà bỏ riêng từng l
ọ.

Tách chiết mạt từ bụi nhà trong phòng thí nghiệm
Trước hết sàng lọc bụi nhà qua rây có mắt lưới 0,1mm để loại bỏ những chất
thô, sau đó tách khỏi bụi bằng hai phương pháp:
- Theo phương pháp Berlese: Cho bụi vào phểu thủy tinh có lót 2 lớp vải màn
để bụi không rơi; đặt phểu vào bình nón (0,5-1lit), trên phểu chiếu một bóng
đèn điện công suất 60w, trong thời gian 24h, do tác dụng của nhiệt từ bóng
đèn mạt b
ụi nhà sẽ từ từ chui xuống đáy phểu và xuống bình nón, sau đó ta
lấy mạt trong bình nón ra đếm, phân loại và nuôi cấy.
- Phương pháp Hart và Fain (196; 1 g bụi mịn ngâm trong cồn 80
0
qua đêm,
nhẹ nhàng gạn phần nổi trên ra cốc và cho dung dịch NaCl bão hoà vào và để
yên trong 10 phút. Nhẹ nhàng rót phần nỗi lên trên giấylọc trong phểu Boc ơ.
Dùng nước cất rửa cặn rồi cũng rót lên giấy lọc. Chuyển mạt ừ giấy lọc sang
lam kính để đếm.
- Phương pháp nhân giống mù (của chúng tôi):
Cho khoảng 1-2g bụi mịn sau khi đã rây lọc cho vào lọ nhựa 0,5 lít có nắp đậy
và cho khoảng 1g môi trường thức ă
n nuôi mạt vào, để trong phòng thí nghiệm 2-3
tuần. Do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thuận lợi, nên mạt sẽ phát triển gia tăng về số


8
Bảng 2. Mật độ mạt chung các loài trong 1g bụi nhà tại các địa phương
Địa điểm Số mẫu có
mạt
Số lượng mạt trung bình
/1g bụi
Ghi chú
Hà Nội 83 23 ±25 giường đệm sạch
Vĩnh Phúc * 152 52±34 2/3giường đệm bụi bẩn
Hòa Bình* 56 58±17 1/3giường đệm bụi bẩn
Sơn La 58 42±43 2/3giường đệm bụi bẩn
Hải Dương 63 32±11 1/3giường đệm bụi bẩn
Tổng cộng 412 40±24
Ghi chú : * : địa phương hàng năm có phun và tẩm màn hoá chất diệt muỗi
Nhìn chung, số lượng ca sthể mạt chung các loài trong bụi nhà tại các địa
phương điều tra không cao, trung bình 40±34 con/1g bụi. Mật độ mạt thấp nhất ở
khu vực Hà Nội (23 con/1g bụi) và cao nhất ở Sơn La (42 con/1g bụi). Mật độ mạt
trong bụi nhà tại các địa phương điều tra thấp do tác động của nhièu yếu tố, trong
đó có yếu tố
vệ sinh (giặt chăn màn, vệ sinh giường đệm…) và tác động của hoá
chất diệt côn trùng mà trực tiếp là hoá chất diệt muỗi.
Bảng 3. Thành phân loài và tỷ lệ % cá thể các loài mạt bụi nhà tại các điểm
Địa điểm và Tỷ lệ % các thể các loài mạt
TT Tên loài mạt

Nội
Vĩnh
Phúc
Hòa Bình Sơn

9
Rhizoglyphus sp.**
1,25 2,13 3,46 1,09 0
10
Thyreohagus**
0 1,15 2,13 0,56 0
Cộng 100 100 100 100 100

Ghi chú :
Sau khi điều tra thu thập mạt bụi nhà, chúng tôi định loại và gửi mẫu đi giám
định tại Viện Y học nhiệt đới – Vương Quốc Bỉ (người định tên mạt là Andre’ Bochkov* ngày,
14.V.2008; mẫu mạt được Marc Coosemons chuyển giúp từ Việt Nam sang) và Viện Vacxin
Mechnhikop Mạc Tư Khoa (người định danh mạt là Emelianova O.J**).

Điều tra mạt bụi nhà ở 5 địa phương (mỗi tỉnh 1-2 điểm), chúng tôi đã phân
tích xác định được 10 loài mạt bụi nhà. Trong đó hai loài phổ biến là
Dermatophagoides pteronyssinus (Trouessart) và Glycyphagus domesticus (De
Geer) đều thu thập ở năm địa phương. Loài D. pteronyssinus chiếm tỷ lệ các thể so
với các loài ở các điểm từ 31,25% - 43,54%. Loài Glycyphagus domesticus chiếm
tỷ lệ các thể so với các loài ở các điểm từ 21,34% - 40,59%. Số loài m
ạt bụi nhà thu
thập ở các điểm không giống nhau; tại Hà Nội 8 loài, ở Vĩnh Phúc được 10 loài,
Hoà Bình và Sơn La đều 9 loài, Hải Dương chỉ thấy 6 loài (bảng 3).


Acacridae Glycyphagidae Carpoglyphidae
Pyrroglyphidae
Sarcoptidae
Glycyphagus
domesticus
- Dermatophagoides
Pteronyssinus
- D. sp
Ph©n líp Acari
Acaridae
Tyrophagus
putrescentiae
11
Bộ Acariformes
Phân lớp Acarina
Lớp nhện Arachnida
Ngành chân đốt Arthropoda
4.2.2. Đặc điểm hình thái một số loài mạt bui nhà phổ biến
4.2.2.1. Loài Dermatophagoides pteronyssinus (Trouessart, 1897) (H. 1, 2,3)
Mạt đực và mạt cái đều có có dạng hình cầu, kích thước chiều dài 420 µm và
rộng là 250-320µm. Thân có màu trắng kem và các nếp nhăn cuticul, giai đoạn
trưởng thành và sau ấu trùng có 8 chân, giai đoạn ấu trùng có 6 chân. Có thể nhìn
thấy mạt dưới kính lúp tay khi đặt mạt trên nền màu đen.
+ Phần miệng (Gmathosoma) gồ
m 2 phần: mép sau miệng ở phía bụng, kết
thúc ở phía bên trong của đôi chân xúc giác (pedipalps) và một cặp kìm ở lưng.
+ Phần đầu bụng (Idiosoma): mang 4 cặp chân ở con trưởng thành và 3 cặp

13

Mặt bụng con đực Mặt lưng con đực

D. pteronyssinus: chân I và IV (từ trái sang phải) (3 đốt cuối ở con cái)

Hình 2. D. Pteronyssinus đực:
25. măt bụng, 26. mặt lưng, 27. 3 đốt cuối ở con cái

14 Hình 3. D. Pteronyssinus đực: Bàn chân I (a, b), II (c, d) III (e) và IV (f, g, h). 15
4.2.2.2. Loài Glycyphagus domesticus (De Geer) (Hình 4).
Là loài mạt trong kho thuộc họ Glycyphagidae family. Trong nhà thường gặp
chúng trong các chạn thức ăn. Mạt dài 0.3 – 0.7mm, mềm, thân màu trắng kem,
chân màu vừng kem. Cả mạt dực và cái, lông trên cơ thể rất dài, mềm mại.Mạt phát
trioển từ trứng đến con trưởng thánh trong 22 ngày ở nhiệt độ trong phòng. Mạt
trưởng thành sống khoảng 50 ngày. Thức ăn của mạt có nguồn gốc chủ yếu là bột
mì, ngũ cốc và n
ấm.


Hình 7. Tyrophagus putrescentiae (Schrank)

(a) và Acarus siro L (b); c¸c con ®ùc nh×n tõ bông, d−¬ng vËt cña m¹t Tyrophagus putrescentiae
(Schrank) nh×n tõ bªn (c)

18
5. Thảo luận

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi nhìn chung phù hợp với kết quả nghiên cứu
của các tác giả trước đay. Tuy nhiên về tỷ lệ nhiễm mạt trong bụi nhà tại 5 điểm
điều tra chúng tôi tiến hành trong năm 2007-2007 là Hà nội, Vĩnh Phúc, Hoà Bình,
Sơn La và Hải Dương đều dưới 50%; Vũ Minh Thục (2001) điều tra tại Hà Nội và
Hà Tây cho kết quả trên 80% mẫu bụi có mạt.
Mật
độ mạt chung (con/1g bụi) từ 23 – 58 con; kết quả này cũng thấp hơn so
với kết quả điều tra của Vũ Minh Thục (2001) ( từ 55- 68 con/1g bụi).
Điều này có thể giả thích rằng: có thể hiện nay điều kiện môi trường, vệ sinh
của nhân dan đã được cải thiện và một phần do sử dụng hoá chất diẹt côn trùng
(các loại bình xịt) khá nhiều trong nhân dân, nhất là vùng nông thôn, nên đã làm
giảm tỷ
lệ và mật độ nhiễm mạt trong bụi nhà.
Về thành phần loài mạt bụi nhà chúng tôi thu thập được tại 5 địa phương gàn
giống với kết quả nghiên cứu của Vũ Minh Thục và Pariadin (1981-1984). Chúng
tôi đã phát hiện bổ sung 2 loài là Cheyletus malaccensis Oudemans, 1903 ở Hà
Nội, Vĩnh Phúc, Hoà Bình và Sơn La; và loài Dermanyssus sp. Vĩnh Phúc, Hoà
Bình và Sơn La và Hải Dương.

6. Kết luận
Bụi nhà ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Sơn La và Hải Dương nhiếm m

Việt Nam. Tuyển tập các báo cáo khoa học, chủ biên: Poriadin GV, Xalaxi
JM. Matxcơva, tr.7-9 (bản tiếng Nga)
5. Anderson A (1988). “Populations growth and development stages of the
house dust mite, Dermatophagoides pteronyssinus (Acarina:
pyroglyphidae)”. J.Med.Entomol., 25,pp.370-373.
6. Chapman MD., Platts-Mills T.A.E. 1980. “Purification and characterization
of the major allergen from Dermatophagoides pteronyssinus-antigen P
1
”.
J.Immunol.125, pp.587-592.

20
7. Colloff MJ.,1987. Effects of temperature and relative humidity on
development times and mortality of eggs from laboratory and wild
populations of European house-duust mite. Dermatophagoides pteronyssinus
(Acarina: pyroglyphidae). Website:www.ncbi.nlm.nih.gov
8. Chua K.Y., Doyle C.R., Dilworth R.J. et al, 1980. “Expression and analysis
of cDNA coding for the house dust mite allergens Der p I and Der p II”,
NER Allergy Proceeding, 667, pp.415 (abstract).
9. Colloff and F.Th.M.Sieksma, 1992. Pictorial keys for the indentification of
domestic mites. Clininal and Experimetal Allergy, vol 22: 823-830.
10. Eraso E., Guisantes J.A., Martisnez J., Sasenz-de-santamaria M., Mar-tisnez
A., Palacios R., Cisterna R., 1997. “Kinetic of allergen expression in culture
of house dust mites, Dermatophagoides pteronyssinus (Acarina:
pyroglyphidae)” J.Med.Entomol. 34(6), pp.684-689.
11. Fain A, Guerin B, Hart BJ. Mites and allergic discase. Varennes-en-
Argonne: Allerbio, 1990.
12. http://www.pneumologiamo/it/allergia_acari.htm

13. Bchkov, Klimov, 2005. Three new species of the predaceous cheyletidae

BV Tai Mũi Họng TW Chủ nhiệm đề tài Nhánh KC10-10/06-10/01

TS. Nguyễn Văn Châu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status