BỘ CÔNG THƯƠNG TẬP ĐOÀN HÓA CHẤT VIỆT NAM CHƯƠNG TRÌNH KH&CN TRỌNG ĐIỂM QUỐC GIA
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA DƯỢC ĐẾN NĂM 2020 BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
TÁ DƯỢC TỪ NGUỒN NGUYÊN LIỆU XENLULOZA VÀ CÁC LOẠI
TINH BỘT SẴN CÓ TRONG NƯỚC
Mã số đề tài: CNHD.ĐT.002/08-11
Chủ nhiệm đề tài: Cơ quan chủ trì đề tài:
(ký tên) (ký tên và đóng dấu) Ban chủ nhiệm chương trình Bộ Công Thương 8944
Amidon TS qui mô phòng thí nghiệm (0.5-2kg/mẻ) 66
1.1.3. Nghiên cứu hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất Amidon TS
qui mô 20kg/mẻ 79
1.1.4. Nghiên cứu hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất Amidon TS
qui mô 200 kg/mẻ………………………………………………………………81
1.2. Đề xuất qui trình công nghệ sản xuất Amidon qui mô 200 kg/mẻ 82
1.2.1. Sơ đồ công nghệ 82
1.2.2 . Qui trình công nghệ sản xuất Amidon qui mô 200kg/mẻ 82
1.3. Sản xuất 5.000 kg sản phẩm Amidon 86
1.4. Thử nghiệm ứng dụng trong bào chế thuốc viên nén 86
2. Kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất tinh bột natri glycolat 86
2.1. Kết quả
khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng tạo
liên kết ngang 87
2.1.1. Khảo sát sự ảnh hưởng của pH 87
2.1.2. Khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố: nhiệt độ, thời gian
và tỷ lệ tác nhân 87
2.2. Khảo sát ảnh hưởng của các điều kiện phản ứng cacboximetyl hoá 92
2.2.1. Khảo sát sự ảnh hưởng của nhiệ
t độ 93
2.2.2. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian phản ứng 94
2.2.3. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ chất phản ứng. 95
2.2.4. Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố V
nước
/V
etanol
, n
NaOH
/n
AGU
3.1. Nghiên cứu sản xuất tinh bột gạo làm nguyên liệu cho sản xuất tá dược .115
3.1.1. Nghiên cứu lựa chọn loại gạo phù hợp cho sản xuất tá dược 115
3.1.2. Nghiên cứu công nghệ sản xuất tinh bột gạo đảm bảo
chất lượng làm tá dược 118
3.1.3. Nghiên cứu điều kiện kỹ thuật để sản xuất tinh bột g
ạo 119
3.1.4. Kiểm tra chất lượng tinh bột thành phẩm 124
3.1.5. Theo dõi bảo quản tinh bột 125
3.2. Nghiên cứu công nghệ biến tính tinh bột để sản xuất tá dược
dạng tinh bột hồ hoá trước 125
3.2.1. Nghiên cứu sản xuất tinh bột hồ hoá trước bằng
phương pháp sấy phun cho sấy phun 125
3.2.2. Nghiên cứu sản xuất tinh bột hồ hoá trước
trên thiết bị sấy tang trống 131
3.2.3. Phân tích chất lượ
ng sản phẩm tinh bột hồ hoá trước………………….133
3.2.4. Quy trình công nghệ sản xuất tinh bột hồ hoá trước……………… ….134
3.3. Nghiên cứu công nghệ sản xuất tinh bột hồ hoá trước một phần………138
3.3.1. Nghiên cứu lựa chọn nguyên liệu 138
3.3.2. Nghiên cứu tạo độ đồng đều và kích thước hạt cho sản phẩm………… 139
3.3.3. Nghiên cứu thu hồi và bảo quản sản phẩm 141
3.3.4. Phân tích chất lượng sản phẩm 142
3.3.5. Nghiên cứu lựa chọn thiết bị sản xuất cho sản xuất tá dược
dạng tinh bột hồ hoá trước một phần 142
4. Kết quả nghiên cứu công nghệ sản xuất tá dượ
c Dextrin 148
4.1. Nghiên cứu công nghệ tổng hợp Dextrin 148
4.1.1. Thuỷ phân tinh bột bằng axit 148
4.1.2. Nghiên cứu quá trình trung hoà 159
4.1.3. Nghiên cứu quá trình tinh chế sản phẩm đạt tiêu chuẩn dược dụng 160
giúp đỡ hiệu quả và tích cực của nhiều cơ quan, đơn vị, cá nhân.
Thay mặt cho tập thể cán bộ của đề tài xin bày tỏ lòng biến ơn chân thành
đến:
• Bộ Công Thương
• Ban Điều hành Chương trình Hóa dược
• Văn phòng Chương trình Hóa dược
• Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam
• Viện Hóa học – Viện Khoa học và Công nghệ Vi
ệt Nam
• Viện Công nghiệp Thực phẩm
Xin chân thành cảm ơn tất cả các bạn bè và đồng nghiệp đã tham gia tích
cực, góp phần thiết thực vào thành công của đề tài này! Chủ nhiệm đề tài
ThS. Vũ Văn Hà
2
MỞ ĐẦU
Nước ta nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho việc phát
cơ quan phối hợp:
Viện Hóa học Công nghiệp Việt Nam chủ trì thực hiện 03 đề tài
nhánh:
+ Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất tinh bột sạch
(Amidon TS) qui mô 200 kg/mẻ
+ Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ
sản xuất tinh bột natri
glycolat (Explotab) qui mô 20 kg /mẻ
+ Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất xenlulo vi tinh thể
(Avicel) qui mô 20 kg /mẻ
Viện Hoá học – Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam chủ trì 01 đề tài
nhánh:
+ Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất Dextrin qui mô
100 tấn/năm”.
Viện Công nghiệp thực phẩm chủ trì 02 đề tài nhánh:
+ Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất tinh bột hồ hoá
trước (Era-gel) qui mô 20 kg /mẻ
+ Nghiên cứu hoàn thiện quy trình công nghệ s
ản xuất tinh bột hồ hoá
một phần (Lycatab) qui mô 20 kg /mẻ. 4
5
2.3. Xây dựng qui trình công nghệ sản xuất xenlulo vi tinh thể quy mô 20
kg/mẻ.
- Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất xenlulo vi tinh thể làm tá
dược, tá dược dập thẳng đạt tiêu chuẩn sử dụng trong bào chế dược phẩm.
- Xây dựng qui trình công nghệ và triển khai sản xuất xenlulo vi tinh thể
công suất 20 kg/mẻ đạt tiêu chuẩn dược dụng.
- Phân tích kiểm định đánh giá chất lượng sản phẩm.
- Thử nghiệm các tính chất cơ
bản của sản phẩm.
2.4. Xây dựng qui trình công nghệ sản xuất tinh bột hồ hoá trước quy mô 20
kg/mẻ.
- Nghiên cứu sản xuất tinh bột từ gạo.
- Nghiên cứu công nghệ biến tính tinh bột để sản xuất tá dược tinh bột hồ
hoá trước
- Phân tích chất lượng tinh bột biến tính tinh bột hồ hoá trước .
- Xây dựng sơ đồ dây chuyền thiết bị sản xuất tinh bột hồ hoá trướ
c
- Sản xuất thử tinh bột hồ hoá trước qui mô 20 kg/mẻ
2.5. Xây dựng qui trình công nghệ sản xuất tinh bột hồ hoá trước một phần
quy mô 20 kg/mẻ.
- Nghiên cứu công nghệ sản xuất tá dược tinh bột hồ hoá trước một phần.
- Phân tích kiểm định đánh giá chất lượng sản phẩm.
- Nghiên cứu lựa chọn thiết bị sản xuất.
- Xây dựng sơ đồ dây chuyền thiết bị
sản xuất tinh bột hồ hoá trước một
phần.
- Sản xuất thử qui mô 20 kg/mẻ.
2.6. Xây dựng qui trình công nghệ sản xuất Dextrin quy mô 100 tấn/năm.
- Nghiên cứu biến tính tinh bột bằng phương pháp xử lí axit.
ệu để phục vụ cho các
cơ sở này đều phải nhập ngoại.
Theo thống kê năm 2008 nước ta nhập khẩu nguyên phụ liệu cho ngành
dược đạt 160 triệu USD. Cũng theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê thì
7
năm 2010 nước ta nhập khẩu 186,555 triệu USD nguyên phụ liệu phục vụ ngành
dược và dược phẩm nhập về là 1.242,958 triệu USD. [10]
Như vậy nhu cầu về nguyên phụ liệu cho sản xuất thuốc là rất lớn và ngày
càng tăng, tá dược Amidon, tinh bột natri glycolat, xenlulo vi tinh thể, Dextrin,
tinh bột hồ hoá trước , tinh bột hồ hoá trước một phần là thành phần quan trọng
trong sản xuất nhiều loại thuốc viên. Nó đóng vai trò là chấ
t độn, tá dược rã, tá
dược dính, tá dược trơn trong công thức viên uống.
2. Giới thiệu về tá dược có nguồn gốc từ tinh bột: Amidon TS, tinh bột natri
glycolat, tinh bột hồ hoá trước , tinh bột hồ hoá trước một phần, Dextrin
Đã từ lâu tinh bột với cấu trúc phân tử là các glucoza liên kết với nhau tạo
ra những polymer tự nhiên amyloza và amylopectin được dùng làm tá dược cho
rất nhiều dòng thuốc với các tác dụng làm chất độn, chất dính, gắn và chất tạ
o độ
rã nhanh trong các viên thuốc.
Khoa học phát triển đã tạo ra một dòng tá dược mới ưu việt hơn tinh bột
ban đầu đó là tinh bột biến tính. Ngày nay, tinh bột biến tính đã trở thành một
trong những tá dược có giá trị cao được sử dụng rộng rãi trong các công thức bào
chế thuốc. Tinh bột biến tính được sản xuất bằng các phương pháp khác nhau : lý
học, hoá học, sinh học làm thay đổi cấu trúc ban đầu của tinh bột t
ạo thành các
dẫn xuất tuyệt vời cho sản xuất thuốc. Các tính chất như : khả năng gắn kết cao,
chịu được lực nén mạnh, tạo màng bao, cho độ rã nhanh, làm bóng bề mặt viên
thuốc, thay thế được đường sacaroza đã làm cho tinh bột biến tính đang dần
xuất dược phẩm làm tá dược độn, tá dược rã, tá dược dính [61].
2.2. Tinh bột natri glycolat
Tinh bột natri glycolat là sản phẩm tinh bột cacboximetyl hóa liên kết
ngang một phần bở
i cầu photphat được sử dụng làm tá dược siêu rã trong dược
phẩm.
Hiện nay, tinh bột biến tính nói chung và tinh bột natri glycolat nói riêng
ngày càng được sử dụng rộng rãi làm tá dược thay cho tinh bột. Việc sử dụng
tinh bột làm tá dược có ưu điểm là rẻ tiền, dễ kiếm, không có tác dụng dược lý
riêng, không độc, dễ dập viên. Nhưng nhược điểm của tinh bột là độ trơn chảy và
9
chịu nén kém, dễ hút ẩm làm cho viên thuốc bở dần ra và dễ bị nấm mốc, khó
bảo quản. Khi dùng tinh bột, thường phải phối hợp với 30% bột đường để đảm
bảo độ chắc của viên. Tinh bột natri glycolat khắc phục được những nhược điểm
trên. Chúng chịu nén và trơn chảy tốt hơn tinh bột nguyên khai. Chúng tan từng
phần vào trong nước [17].
Tinh bột natri glycolat là tá dược gây rã viên rất nhanh do khả
năng trương
nở mạnh trong nước (tăng thể tích lên nhiều lần so với khi chưa hút nước), khả
năng rã ít bị ảnh hưởng bởi lực nén. Tỷ lệ thường dùng là 2 – 6%. [70].
Ngoài ra, khi bào chế những dược phẩm dạng hydrogel, viên nén, tinh bột
natri glycolat còn được sử dụng với những vai trò khác như chất kết dính hoặc
tác nhân làm bền nhũ hoặc huyền phù [69].
Trong dược phẩm dạng gel, tinh bột natri glycolat có tác dụng tạo huy
ền
phù do nó trương nở dễ dàng trong nước. Khả năng trương nở cao nhất trong
nước là ở môi trường pH 5,5 – 7,5. Tinh bột natri glycolat tan trong nước thành
dạng gel. Khả năng trương nở của nó giảm tỷ lệ với giá trị pH. Nhân tố xác định
giá trị nồng độ tạo gel của polime là hình dạng và tính đối xứng của các tiểu
chảy và tính chịu nén tốt hơn, vì vậy chất này có thể dùng làm tá dược dính trong
quá trình dập viên khô trực tiếp có bổ sung axit stearic. Ngoài ra tinh bột hồ hoá
trước một phần cũng có thể dùng trong quá trình tạo hạt ướt. Đây là tá dược
không độc và không kích ứng.[22], [48].
2.5. Dextrin
Dextrin là sản phẩm thu được của quá trình thủy phân tinh bột bởi axit
hoặc men. Dextrin có trong lượng phân tử thấp hơn tinh bột, chúng có khả năng
tan trong nước. Sản phẩm Dextrin được dùng làm tá dược độn và kết dính trong
tạo hạt thuốc viên tham gia vào thành phần bao viên để làm dẻo và dính và làm
ch
ất cố định cho hỗn dịch [16]. Ngoài ra, Dextrin được sử dụng làm tá dược dính
và tá dược độn. Dextrin tạo cho viên nén có độ bền rã cao hơn so với tinh bột tự
nhiên, độ bền rã tăng tuyến tính theo mức độ kết tinh. Tinh bột được thủy phân
trong khoảng thời gian phù hợp cũng tạo được viên nén có độ bền rã phù hợp mà
không cần áp dụng lực nén dư. Quá trình sấy phun cũng cho phép thu được tinh
11
bột biến tính có khả năng chảy phù hợp để nén trực tiếp. Sử dụng Dextrin làm tá
dược trong thuốc viên có thể làm tăng các tính chất của thuốc như độ bền va đập,
độ bền nén. Ngoài ra, Dextrin còn có thể điều khiển quá trình khuếch tán và nhả
thuốc trong các điều kiện khác nhau.
Có nhiều nghiên cứu cho thấy sử dụng Dextrin có lợi cho sức khỏe vì nó
có khả năng làm tăng số lượng l
ợi khuẩn trong ruột, đặc biệt là làm tăng
lactobacilli, một loại vi khuẩn có tác dụng làm tăng khả năng tiêu hóa của người.
Dextrin giúp loại vi khuẩn này phát triển trong ruột già. Khi các vi khuẩn có lợi
phát triển sẽ làm giảm số lượng các vi khuẩn có hại [7].
Dextrin còn có khả năng làm giảm lượng cholesterol trong tế bào và máu,
giảm béo phì vì Dextrin giúp cải thiện các quá trình chuyển hóa cacbohydrat làm
giảm mức cholesterol. Dextrin làm giảm cholesterol LDL (loại có hại) nhưng
lý học nên ít tương tác với dược chất vì vậy làm tăng tuổi thọ của thuốc. MCC
được đánh giá có khả năng chịu nén, hoà loãng tốt nhất trong các tá dược dập
thẳng nhờ cấu trúc tự nhiên của MCC. Khả năng tạo liên kết hidro giữa các
nhóm hydroxyl với nhau là nguyên nhân chính giải thích tính chị
u nén và khả
năng tạo kết cấu bền chắc cho viên thuốc của MCC. Khi bị nén các tiểu phân
MCC bị biến dạng dẻo do sự trượt trên các lớp bề mặt tinh thể, sự trượt này diễn
ra trên quy mô lớn trên toàn khối. Kết quả là một loạt các bề mặt mới, sạch, được
tạo thành và tiếp xúc với nhau, tại đó tạo nên các liên kết hidro mới.
Các nguyên nhân quyết định khả năng hoà loãng tố
t của MCC với các tá
dược khác là do tỷ trọng của chúng thấp và kích thước tiểu phân phân bố trong
một khoảng rộng. Tỷ trọng thấp thể hiện khả năng hoà loãng lớn theo tỷ lệ khối
lượng và kích thước tiểu phân phân bố trong một khoảng rộng cho một khả năng
tối ưu để bao phủ các tá dược khác.
Một ưu điểm nữa của MCC là hệ số ma sát nh
ỏ, nên bản thân chúng không
đòi hỏi phải thêm các chất làm trơn khi dập. Tuy nhiên nếu dược chất và các tá
dược khác được sử dụng hơn 20% thì cần thiết phải thêm tá dược trơn. Mặt khác,
khi trộn với các tá dược trơn, MCC ít bị tác dụng làm giảm độ chắc của viên do
chúng gây ra.
13
Nhược điểm của MCC khi dùng làm tá dược thuốc viên là viên bị giảm độ
cứng khi bảo quản trong môi trường độ ẩm cao, điều này là do MCC hấp thụ hơi
ẩm và làm giảm lực liên kết hydro, tuy nhiên viên có thể trở lại tình trạng ban
đầu khi chuyển sang môi trường mới có độ ẩm thấp hơn. Khi bảo quản luân
phiên trong môi trường ẩm và khô thì cân bằng về độ cứng của viên có thể thay
đổi, tăng ho
ặc giảm tuỳ theo từng công thức. Một nhược điểm khác là khi sử
thành phần bổ trợ trong thuốc viên có tác dụng tạo cho hỗn hợp ban đầu có
những tính năng công nghệ cần thiết để cung cấp một liều lượng chính xác, độ
bền cơ học, đặc tính phân rã và sự ổn định cho các viên nén trong quá trình bảo
quản. Tuỳ
thuộc vào các mục đích sử dụng khác nhau, các thành phần bổ trợ lại
được chia thành các nhóm nhỏ.
Bảng 1.1: Các thành phần tá dược cho thuốc viên
Chức năng Thành phần
Kết dính Tinh bột, tinh bột biến tính; nước cất, etanol, sirô,
cacboximetyl xenlulozơ, gelatin, hidroxymetyl
xenlulozơ, PVP, PVA, axit alginic
Chất làm trương nở
Tinh bột, tinh bột biến tính; pectin, gelatin, metyl
cenlulozo, aga- aga.
Chất tạo khí Natri hidrocacbonat trộn với axit xitric hoặc axit
tactaric.
Chất làm ướt Tinh bột, tinh bột biến tính; đường glucozơ.
Chất bôi trơn Axit steric, canxi sterat, magie sterat.
Chất chống dính Tinh bột, tinh bột biến tính, đá tan, axit steric.
Chất độn Tinh bột, tinh bột biến tính, glucozơ, lactozơ, gelatin,
cenlullozơ và dẫn xuất của nó, Dextrin, amylopectin,
sorbitol, mannitol, pectin.
Phân tích các dữ liệu trong bảng 1.1 cho thấy tinh bột và tinh bột biến tính
nằm ở hầu hết các nhóm tá dược, do đó nó đóng một vai trò cực kỳ quan trọng
trong ngành công nghiệp dược phẩm. Các loại tinh bột biến tính đang thu hút sự
chú ý của các nhà nghiên cứu để phát triển dược phẩm với thành phần và tính
15
bột ngô có cấu trúc hạt xốp hơn nên dễ bị phá huỷ hơn. Do đó rất nhiều phương
pháp đã được thử nghiệm để biến đổi cấu trúc của hạt tinh bột ngô nhằm t
ăng
16
khả năng ứng dụng trong công nghiệp dược. Tinh bột ngô biến tính bằng các
phương pháp vật lý như gia nhiệt khô hoặc dưới tác dụng của tải trọng đã được
Short [94] nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm làm thành phần tá dược. Quá trình
biến tính đã làm tăng độ trương cũng như độ tan trong nước lạnh của tinh bột
ngô, tuy nhiên khả năng tan vẫn tương đối thấp (dưới 10% khối l
ượng) do đó sản
phẩm tinh bột này phù hợp làm thành phần rã cho thuốc nhưng không thích hợp
làm thành phần kết dính. Một số phương pháp biến tính nhằm thay đổi cấu trúc
vật lý của tinh bột ngô như hồ hoá sơ bộ và tạo lưới cũng được áp dụng [55].
Cấu trúc hạt tinh bột ngô tự nhiên sẽ bị phá vỡ trong quá trình hồ hoá, tuy nhiên
nếu có mặt các tác nhân tạo lưới thì sự phá vỡ này sẽ không diễn ra vì các chất
tạo lưới có tác dụng làm bền cấu trúc và kìm hãm độ trương của hạt tinh bột. Khi
được thử nghiệm làm thành phần tá dược cho viên nén, sản phẩm tinh bột biến
tính này làm giảm đáng kể thời gian phân rã của thuốc so với tinh bột ngô tự
nhiên hoặc chỉ hồ hoá sơ bộ. Do đó loại tinh bột ngô biến tính theo phương pháp
này rất phù hợp làm thành phần rã cho thuốc. Paolo và các cộng sự [60] cũng đã
nghiên cứu chế t
ạo tinh bột ngô biến tính bằng axit và enzim làm thành phần kết
dính cho thuốc viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy tinh bột ngô biến tính bằng
dung dịch axit HCl 3-5% hoặc enzim 1% trong khoảng thời gian từ 8-24 tiếng
làm tăng đáng kể độ bền nén của thuốc viên do đó có thể sử dụng làm thành
phần kết dính cho thuốc.
Tinh bột khoai tây cũng đã được nghiên cứu ứng dụng trong ngành công
nghiệp dược từ lâu. Loại tinh bột này thường có khố
i lượng phân tử lớn, đặc biệt
phân tích thành phần cho thấy hàm lượ
ng amylozơ trong tinh bột khoai lang
chiếm 28,8 % khối lượng, các thành phần khác như protein, chất béo chiếm
không đáng kể. Về mặt cấu trúc thì hạt tinh bột khoai lang có dạng hình trứng
dẹt, khoảng phân bố kích thước hạt tương đối rộng từ 10 – 100 µm. Ngoài ra các
tác giả cũng tiến hành so sánh một số tính chất của tinh bột khoai lang với hai
loại tinh bột đã được ứng dụng nhiều trong sản xuất tá dược là tinh bột ngô và
khoai tây. K
ết quả so sánh cho thấy độ bền nén của ba loại tinh bột là tương
18
đương, và các tác giả cho rằng tinh bột khoai lang cũng có tiềm năng rất lớn để
sử dụng làm thành phần tá dược. Tuy nhiên các tác giả cũng đưa ra một số
phương pháp biến tính có thể áp dụng như thuỷ phân bằng axit hoặc enzim để cải
tiến một số đặc tính của loại tinh bột này như độ nhớt và độ trương cao cho phù
hợp với các ứng dụng làm thành phần tá dược.
Ngoài tinh b
ột khoai lang thì tinh bột sắn [93] và tinh bột gạo [31] cũng đã
được nghiên cứu thử nghiệm làm thành phần tá dược cho thuốc và đều cho thấy
những tiềm năng rất lớn.
Tinh bột sắn được sản xuất từ củ sắn có độ sạch lý hoá và vi sinh vật rất
cao. Tính chất của tinh bột sắn rất gần với tinh bột khoai tây và cũng được sử
dụng trong những ngành công nghiệp tương tự
như tinh bột khoai tây.
Tuy nhiên với một số đặc tính riêng tinh bột sắn vượt trội hơn tinh bột
khoai tây: do độ ẩm thấp (từ 6-7%) nên hàm lượng tinh bột trong sản phẩm cao
hơn, tinh bột sắn có độ tro thấp nên được coi là tinh bột sạch nhất. Độ nhớt của
dịch hồ tinh bột sắn cao hơn các tinh bột sản xuất từ các loại hạt như ngô, lúa mì.
Phạm vi ứng dụng vớ
i vai trò là tác nhân trương nở, rã, làm đặc và kết dính, chất
hình bao phủ bên ngoài hoặc xen lẫn giữa các lớp kết tinh. Sản phẩm tinh bột tạo
thành khi kết hợp đồng thời các tác nhân tạo lưới và thuỷ phân cho thấy nhiều
tính chất tốt hơn khi sử dụng làm tá dượ
c cho viên nén so với sản phẩm tạo thành
khi chỉ sử dụng một phương pháp như độ bền nén cao hơn (78,48 N so với
64,75N đối với sản phẩm chỉ sử dụng axit) và độ bở của viên nén thấp hơn.
Ngoài chức năng làm thành phần kết dính cho viên nén, sản phẩm tinh bột trên
cũng có thể được sử dụng làm thành phần độn hoặc rã.
4. Tá dược tinh bột natri glycolat và các phương pháp tổng hợp
Như
đã nói ở trên, tinh bột natri glycolat là sản phẩm tinh bột natri
cacboximetyl hóa liên kết ngang một phần bởi cầu photphat, được sử dụng làm
tá dược siêu rã trong bào chế thuốc dạng viên nén. Nếu sử dụng tinh bột
cacboximetyl chưa liên kết ngang thì nhược điểm lớn nhất là độ thấm nước
không đồng đều vì tinh bột cacboximetyl có đặc điểm là hút nước rất mạnh, cấu
trúc hạt tinh bột nhanh chóng bị phá vỡ khi tiếp xúc với n
ước. Hạt tinh bột
cacboximetyl khi gặp nước vỡ ra nhanh, tạo thành màng, ngăn không cho các hạt