Đánh giá năng suất, chất lượng, khả năng chịu nóng của một số tổ hợp lai cà chua ở vụ xuân hè sớm và xuân hè muộn tại Vĩnh Phúc - Pdf 13

1. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Rau là một nhu cầu thiết yếu của mỗi người. Khi đời sống càng được nâng
lên thì nhu cầu về rau càng tăng cao và khắt khe hơn. Để đáp ứng được yêu cầu
tiêu dùng thì cần có những loại rau giàu dinh dưỡng, dễ chế biến, có thể sử dụng
lâu dài, liên tục. Cà chua là một trong những loại rau đáp ứng được các yêu cầu
trên.
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill), thuộc họ cà (Solanaceae), là loại
rau ăn quả có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Trong quả cà chua chín có chứa nhiều
đường, vitamin, khoáng chất quan trọng (Ca, Fe, Mg, P…) và các loại axit hữu cơ.
Cà chua có thể sử dụng dễ dàng từ ăn tươi, chế biến, làm nguyên liệu cho sản xuất.
Về mặt y học, cà chua có tính mát, vị ngọt giúp tạo năng lượng, tăng sức sống, cân
bằng tế bào, giải nhiệt, điều hoà bài tiết, tăng khả năng tiêu hoá. Không chỉ vậy, cà
chua còn có thể trồng dễ dàng ở nhiều khu vực trong nhiều điều kiện thời tiết khác
nhau và có thể cho thu sản phẩm trong một thời gian tương đối dài. Do đó, cà chua
là một trong những loại rau được nhiều người ưa dùng nhất.
Sản xuất cà chua ở Việt Nam tập trung nhiều ở đồng bằng bắc bộ và trồng
chủ yếu trong vụ đông nên hiệu quả kinh tế không cao. Để nâng cao hiệu quả từ
sản xuất cà chua và nhằm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng thì sản xuất cà chua
xuân hè đã được đưa vào cơ cấu mùa vụ từ những năm 70 của thế kỷ 20. Sản xuất
cà chua xuân hè có ưu điểm: tăng cao hiệu quả sản xuất, giải quyết vấn đề rau giáp
vụ, nguyên liệu cho các nhà máy chế biến cũng như nguồn lao động dư thừa… Tuy
nhiên, sản xuất cà chua xuân hè cũng gặp không ít khó khăn: điều kiện ngoại cảnh
không phù hợp cho sinh trưởng, phát triển, tạo năng suất và chất lượng cà chua.
Hơn nữa chúng ta chưa có một bộ giống phù hợp dành riêng cho sản xuất vụ xuân
hè. Để sản xuất cà chua xuân hè trở thành một vụ chính trong công thức luân canh
thì cần phải chọn tạo một bộ giống tốt với quy trình sản xuất riêng dùng vụ xuân
hè .
1
Với điều kiện ngoại cảnh ở vụ xuân hè, một giống được coi là tốt nếu có đầy
đủ các đặc tính sau: sinh trưởng, phát triển mạnh, cho năng suất, phẩm chất cao,

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học, đánh giá tính
thích ứng thông qua các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển, chống chịu một số loại
bệnh hại chính, khả năng cho năng suất, đặc điểm cấu trúc cây, hình thái và phẩm
chất quả với mục đích phục vụ nhu cầu ăn tươi, chế biến.
3
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nguồn gốc, phân loại và giá trị của cây cà chua
2.1.1. Nguồn gốc, phân bố của cây cà chua
Nhiều nghiên cứu cho rằng, cà chua có nguồn gốc ở Nam Mỹ và là một
trong những cây trồng quan trọng của người Anh Điêng [47]. Bên cạnh ấy, việc
tìm thấy họ hàng của nhiều loại cà chua hoang dại ở khu vực từ Chilê tới Ecuador
và vùng nội địa Thái Bình Dương bao gồm cả quần đảo Galapagos cũng khẳng
định cà chua có xuất xứ từ khu vực này.
Về nguồn gốc cũng có nhiều ý kiến khác nhau song tập trung chủ yếu vào
hai hướng:
Hướng thứ nhất cho rằng cây cà chua có nguồn gốc từ L.esculentum
varpimpine lliforme.
Hướng thứ hai cho rằng cà chua Anh Đào (L.esculentum var cerasiforme) là
tổ tiên của cà chua trồng ngày nay [13].
Cà chua tồn tại ở Pêru hàng nghìn năm nhưng nó chỉ thực sự được biết đến
khi người Tây Ba Nha thám hiểm ra khu vực này vào những thập niên đầu của thế
kỷ 16[47]. Nhiều bằng chứng về sự trồng trọt, ngôn ngữ và các phân tích về di
truyền đã chứng minh rằng cà chua đã được thuần hoá ở Trung Mỹ [41, 47, 63].
Theo tài liệu từ Châu Âu thì người Aztec và người Toltec là những người
phát tán cây cà chua đến các châu lục. Ở châu Âu, sự tồn tại của cà chua được
khẳng định thông qua tác phẩm giới thiệu về những giống cà chua có màu vàng và
đỏ nhạt được mang về từ Mêhicô của nhà nghiên cứu về thực vật Pier Andrea
Matthiolus vào năm 1544[10]. Đây cũng là thời điểm chứng minh sự tồn tại của cà
chua trên thế giới.
Theo Luck Will (1946) cà chua từ Nam Mỹ được đưa đến châu Âu vào thế

Chi phụ 1: Eriopersicon: Dạng cây một năm hoặc nhiều năm, quả không bao
giờ chín đỏ, luôn luôn có màu xanh, có sọc tía, quả có lông, hạt nhỏ. Chi phụ này
gồm 2 loài và các loài phụ:
1. Lycopersicon peruvianum Mill.
1
a
L.peruvianum var.Cheesmanii Riloey và Var Cheesmanii f.minor
C.H.Mill (L.esc.var.miror Hook).
5
1
b
L.peruvianum var. denta tum pun.
2. Lycopersicon hirsutum Humb. et. Bonpl.
2
a
. L. hirsutum var galabratum C.H.Mull.
2
b
. L. hirsutum var glandulosum C.H.Mull.
Chi phụ 2: Eulycopersicon: Dạng cây hàng năm, quả chín đỏ hoặc vàng. Chi
phụ này gồm 1 loài là Lycopersicon esculentum Mill, loài này gồm 3 loài phụ:
a. L.esculentum Mill. Ssp. Spontaneum Brezh - cà chua hoang dại, bao gồm
2 dạng sau:
+ L- Esculentum var pimpine lliforlium Mill (Brezh)
+ L- Esculentum var.race migenum (lange) Brezh.
b. L. esculentum Mill.SSp. Subspontaneum - cà chua bán hoang dại, gồm 5 dạng
sau:
+ L- Esculentum var cersiforme (AGray) Brezh - cà chua Anh Đào.
+ L- Esculentum var.pyriforme (C.H Mull) Brezh - cà chua dạng lê.
+ L- Esculentum var.pruniforme Brezh - cà chua dạng mận.

vitaminC, năng lượng đạt 30kJ/100g [5].
Bảng 1. Thành phần hoá học của 100g cà chua
Thành phần Quả chín tự nhiên Nước ép tự nhiên
Nước 93.76g 93.9g
Năng lượng 21Kcal 17Kcal
Chất béo 0.33g 0.06g
Protein o.85g 0.76g
Carbohydrates 4.46g 4.23g
Chất xơ 1.10g 0.40g
Kali 223mg 220mg
Photpho 24mg 19mg
Magie 11mg 11mg
Canxi 5mg 9mg
Vitamin C 19mg 18.30mg
Vitamin A 623IU 556IU
Vitamin E 0.38mg 0.91mg
Niacin 0.628mg 0.67mg
Nguồn : USDA Nutrient Data Base [73]
2.1.3.2. Giá trị sử dụng của cây cà chua.
Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng và có nhiều cách sử dụng.
Có thể dùng ăn tươi thay hoa quả, trộn Salat, nấu canh, xào, nấu sốt vang và cũng
có thế chế biến thành các sản phẩm như cà chua cô đặc, tương cà chua, nước sốt
7
nấm, cà chua đóng hộp, mứt hay nước ép. Ngoài ra, có thể chiết tách hạt cà chua
để lấy dầu.
Về mặt y học, cà chua được coi là dược liệu chữa bệnh sốt, lao phổi, nhuận
tràng. Người Tây Ba Nha dùng cà chua, ớt, dầu mỡ để chế biến thuốc chữa mụn
nhọt, lở loét. Lá cà chua non giã nát cùng muối dùng để trị mụn nhọt, viêm tấy.
Hợp chất tomatin chiết tách từ cây cà chua có khả năng kháng khuẩn, diệt nấm và
một số sâu bệnh hại. Nó cũng có tác dụng kích thích sinh trưởng đối với cây trồng

được 27.409.000 VNĐ (Bùi Thị Gia 2000)[9]. Theo TS. Ngô Quang Vinh-Viện
Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam: 1 ha cà chua ghép có thể đạt năng suất
tới 100 tấn và cho thu nhập khoảng 150-200 triệu đồng [14]. Theo Báo Nông
nghiệp Việt Nam,số ra ngày 29/5/2007: tại Lâm Đồng, sản xuất 1,7 ha cà chua kim
cương đỏ(Red Diamond) cho thu nhập là 100 triệu đồng. Theo số liệu điều tra của
Phòng nghiên cứu kinh tế thị trường (Viện nghiên cứu rau quả), sản xuất cà chua ở
ĐBSH cho thu nhập bình quân 42,0-68,4 triệu/ha/vụ với mức lãi thuần 15-26
triệu/ha, cao gấp nhiều lần so với trồng lúa. Cà chua là cây trồng thu hút nhiều lao
động. Một hécta cà chua cần 500-600 công lao động cho cà chua chế biến và 8020
giờ cho cà chua ăn tươi.
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây cà chua.
2.2.1. Nhiệt độ.
Nhiệt độ tác động đến tất cả các giai đoạn, sinh trưởng, phát triển của cây cà
chua. Nhiệt độ tối ưu cho hạt nảy mầm là 24-25
0
C, nhiều giống nảy mầm nhanh ở
nhiệt độ 28-32
0
C (Tiwari và Choudhury, 1993)[70]. Trong khoảng từ 15,5
0
C-29
0
C
thì nhiệt độ càng tăng, nảy mầm càng tăng. Nhiệt độ tối thiểu cho hạt nảy mầm là
10
0
C, tối đa là 35
0
C. Nhiệt độ quá cao sẽ làm hạt mọc chậm, dễ mất sức sống, mầm
bị dị dạng ( Kuo và cs, 1998)[52].

0

30
0
C. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn nhỏ lại chịu tác động khác nhau của yếu tố nhiệt
độ. Với thời kỳ phân hoá mầm hoa, nhiệt độ ảnh hưởng tới vị trí chùm hoa đầu tiên
và số lượng hoa/chùm[52]. Cũng ở giai đoạn này, biên độ nhiệt độ ngày/đêm ccòn
có tác động đến kích thước hoa, trọng lượng noãn, bao phấn và số ngăn hạt, số
lượng hạt phấn, sức sống của hạt phấn. Theo Ho.L.C [48] hạt phấn có thể nảy mầm
trong khoảng nhiệt độ từ 5
0
C-37
0
C. Ngoài ngưỡng nhiệt độ trên, tỷ lệ nảy mầm của
hạt phấn giảm rõ rệt. Dưới tác động của nhiệt độ cao thì khả năng giữ được sức
sống, khả năng thụ tinh của hạt phấn cà chua là khác nhau và phụ thuộc nhiều vào
kiểu gen[26]. Độ hữu dục của hạt phấn cà chua giảm đi ở nhiệt độ cao (35-50
0
C).
Các giống cà chua chịu nóng có ngưỡng đông đặc protein là 55
0
C. Tỷ lệ đậu quả
tối ưu là ở khoảng nhiệt độ từ 18
0
C-20
0
C. Trong giai đoạn 1-3 trước và sau khi hoa
nở, nhiệt độ ngày đạt 38
0
C kéo dài từ 5-9 ngày sẽ làm giảm sức sống hạt phấn và

C và để hình thành caroten là 15
0
C-38
0
C. Theo Kuo và cs, nhiệt độ tối ưu
để hình thành sắc tố lycopen là 18
0
C-24
0
C, ở nhiệt độ 30
0
C-36
0
C, quả có màu vàng
cam do lycopen không hình thành. Nhiệt độ không khí cao hơn 32
0
C sẽ làm quả
chín không đều. Khi nhiệt độ cao hơn 40
0
C thì quả sẽ có màu xanh do chlorophyll
không bị phân huỷ và lycopen không được hình thành. Nhiệt độ cao cũng làm cho
quả nhanh mềm hơn do quá trình hình thành pectin giảm [52].
2.2.2. Ánh sáng.
Ánh sáng có ảnh hưởng tới mọi quá trình sinh trưởng, phát triển của cây
trồng nói chung và cây cà chua nói riêng. Ảnh hưởng của ánh sáng là tổng hợp sự
ảnh hưởng của 3 thành phần: thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng và chất
lượng ánh sáng.
Về thời gian chiếu sáng: cây cà chua phản ứng không chặt với độ dài ngày
nhưng chúng đều thông qua “Giai đoạn ánh sáng”. Giai đoạn này bắt đầu khi phân
hóa mầm hoa và kết thúc khi mới vào phân hóa hạt phấn. Trong giai đoạn này, nếu

3
nước/ha.
Nhu cầu nước thay đổi theo từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cà
chua. Hạt có thể nảy mầm khi lượng nước đạt 325÷364% trọng lượng và độ ẩm đạt
70%. Trong quá trình cây sinh trưởng và phát triển yêu cầu ẩm độ đất là 70÷80%
còn ẩm độ không khí là 45÷55%. Theo Goxhy và Gerad (1971): Thời kỳ khủng
hoảng nước tính từ khi ra hoa đến đậu quả. Ở thời kỳ này nếu hạn vừa phải sẽ làm
giảm năng suất nhưng tăng về chất lượng và rút ngắn thời gian chín. Nếu giai đoạn
này thiếu nước sẽ gây ra hiện tượng thối đáy quả, quả bị rám do canxi bị giữ ở các
bộ phận già và không được vận chuyển đến bộ phận non. Tuy nhiên nếu độ ẩm
tăng đột ngột sẽ làm giảm chất lượng quả, dễ gây ra nứt quả.
2.2.4. Đất và dinh dưỡng
Cà chua có thể sinh trưởng, phát triển trên nhiều loại đất, nhưng cà chua sinh
trưởng phát triển thích hợp nhất trên các loại đất nhẹ, tơi xốp, tưới tiêu thuận lợi,
độ PH từ 6-6,5. Đặc biệt, cần thường xuyên luân canh cà chua với các cây trồng họ
hoà thảo. Tránh trồng liên tục nhiều vụ trên một chân đất hoặc trên các chân đất
mà cây trồng trước là những cây họ cà.
Về sinh dưỡng, cà chua có nhu cầu với nhiều nguyên tố nhưng quan trọng
nhất là 12 nguyên tố: Nitơ(N); Phốt pho(P); Kali(Mg); Lưu huỳnh(S); Magiê(Mg);
Bo(B); Sắt(Fe); Mangan(Mn); Đồng(Cu); Kẽm(Zn); Molipden(Mo) và canxi(Ca).
12
Đối với nhóm nguyên tố đa lượng thì nhu cầu đạm là cao nhất, thứ đến là
kali và lân. Theo More(1978), để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N; 0,4 kg P; 0,4 kg K;
0,45 kg Mg. Becseev cho rằng để tạo một tấn quả cà chua cần 3,8kg N; 0,6 kg
P
2
O
5
; 7,9 kg K
2

nhiều nhà khoa học trên thế giới. Các nghiên cứu về nó đều nhằm mục đích tạo ra
được các giống mới có đặc tính di truyền phù hợp với nhu cầu của con người. Để
13
đạt được mục đích chung ấy, mỗi nhà chọn giống có các phương pháp chọn tạo
khác nhau như: chọn lọc cá thể, lai hữu tính, sử dụng ưu thế lai hay ứng dụng công
nghệ sinh học và mỗi người lại chọn tạo theo những định hướng khác nhau,
nhưng tập trung chủ yếu theo 4 hướng nghiên cứu chính:
+ Tạo giống chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
+ Tạo giống chống chịu với sâu bệnh hại.
+ Tạo giống có chất lượng phục vụ cho ăn tươi, chế biến.
+ Tạo giống phù hợp với cơ giới hóa.
2.3.1.1. Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với
điều kiện bất thuận
Nhiều nghiên cứu cho rằng, sinh trưởng, phát triển và chất lượng cà chua
phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố ngoại cảnh. Chính vì vậy, chọn tạo giống cà chua có
khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận là một hướng đi được
nhiều nhà khoa học quan tâm. Các nhà chọn giống đã sử dụng nguồn gen của cà
chua hoang dại và bằng các con đường chọn giống khác nhau: lai tạo, chọn lọc
giao tử dưới điều kiện bất thuận, chọn lọc hợp tử (phôi non), đột biến nhân tạo
nhằm tạo ra các giống cà chua có khả năng chống chịu tốt với ngoại cảnh bất
thuận.
Chọn lọc nhân tạo hạt phấn trên cơ sở đa dạng hoá di truyền của chúng là
một trong những phương pháp chọn giống. Nhiều nghiên cứu cho thấy ở cà chua
bằng cách chọn lọc hạt phấn với nhiệt độ cao, có thể nâng cao sự chống chịu của
giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng [26].
Các nhà chọn giống cà chua của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau
Châu Á (AVRDC) đã phát hiện ra rằng: chất lượng quả của các giống cà chua chọn
tạo cho vùng khí hậu ôn đới sẽ kém khi đem trồng chúng trong điều kiện nhiệt đới.
Chính vì vậy, từ khi thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau Châu Á đã
đặt ra mục tiêu là chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với điều kiện bất

Các giống này đã được trồng rộng rãi ở nhiều vùng của Thái Lan (Nikompun và
Lumyong, 1989) [57].
Đánh giá về khả năng chịu nóng của 9 dòng cà chua, Abdul Baki (1991) [39]
đã rút ra những ưu thế của nhóm chịu nóng ở một loạt các tính trạng: nở hoa, đậu
quả, năng suất quả, số hạt/quả Nhiệt độ cao làm giảm độ nở hoa, tỷ lệ đậu quả và
năng suất. Đồng thời cũng làm tăng phạm vi dị dạng của quả như nứt quả, đốm
quả, mô mọng nước, quả nhỏ và không thành thục. Khả năng sản xuất hạt dưới
nhiệt độ cao(29
0
C/ 28
0
C giữa ngày và đêm) bị giảm hoặc bị ức chế toàn bộ.
Khi nghiên cứu về biến động của hạt phấn và tỷ lệ đậu quả ở các kiểu gen cà
chua dưới 2 chế độ: nhiệt độ cao và nhiệt độ tối ưu, Abdul và Stommel (1995)[30]
15
đã cho thấy: ở nhiệt độ cao các kiểu gen mẫn cảm nóng hầu như không đậu quả, tỷ
lệ đậu quả của các kiểu gen chịu nóng trong khoảng 45-65%. Như vậy phản ứng
của hạt phấn khi xử lý nóng phụ thuộc vào từng kiểu gen và chưa có quy luật
chung để dự đoán trước về tỷ lệ đậu quả ở điều kiện nhiệt độ cao.
Trong điều kiện mùa hè (biên độ nhiệt độ ngày/đêm là 40
0
C/25
0
C) tại Ấn
Độ, các nhà khoa học đã xác định được 8 dòng có tỷ lệ đậu quả cao (60-83%) dùng
làm vật liệu cho chọn tạo giống chịu nhiệt là: EC50534, EC788, EC455,
EC126755, EC276, EC10306, EC2694, EC4207 [30].
Trong chương trình về các dòng tự phối hữu hạn, vô hạn có khả năng cho đậu
quả ở giới hạn nhiệt độ cực đại 32
0

Trong quá trình chọn tạo giống, thu thập và đánh giá nguồn gen nói chung,
nguồn gen chịu nóng nói riêng được coi là công việc quan trọng và cần thiết cho
việc tạo nên giống mới. Việc thu thập này được nhiều nhà khoa học cũng như
nhiều cơ quan nghiên cứu quan tâm và cũng có những thành tựu nhất định. Cụ thể,
AVRDC đã thu thập được 48.723 mẫu giống cà chua từ 153 nước. Tập đoàn này
chủ yếu là các loài Lycopesicon esculentum; L.Cheesmaii; L.pimpinellfolium và
các dòng lai giữa Lycopesicon esculentum x L.pimpinellfolium; L.Cheesmaii x
L.minutum. Còn Viện nghiên cứu tài nguyên cây trồng Quốc tế(NBPGR) tại Ấn Độ
đã thu thập được 2.659 mẫu giống. Trong đó có 2.229 mẫu được thu thập từ 43
nước trên thế giới, còn 450 mẫu thu thập trong nước(Chu Jinping,1994)[40]. Theo
Metwally các nhà chọn giống Ai Cập cũng thu được trên 4000 mẫu giống thuộc
loài Lycopersicon esculentum, chi Lycopersicon từ 15 nước. Qua đánh giá cho
thấy, chỉ có dưới 1% mẫu của tập đoàn này có khả năng chịu nhiệt ở mức độ cao.
Điển hình như các giống Poter; Saladette; Gamad; Hoset [56].
Hiện nay, việc hợp tác giữa AVRDC với các công ty tư nhân ngày càng mở
rộng và có hiệu quả. Qua nghiên cứu 29 công ty giống của Châu Á cho thấy 33% các
giống sẽ đưa ra trong tương lai có sử dụng nguồn gen của AVRDC. Các nguồn gen có
nhu cầu cao là: gen kháng bệnh(33%); chịu nóng(20%); thích ứng rộng (17%); chất
lượng cao(15%); năng suất cao(14%).
2.3.1.2. Tình hình nghiên cứu, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với
bệnh hại
Song song với hướng chọn tạo giống cà chua chống chịu với điều kiện bất
thuận, chọn tạo giống cà chua có khả năng chống chịu với các loại bệnh hại cũng là
một hướng đi dành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học.
Trong chương trình nghiên cứu về mối quan hệ của cà chua trồng và cà chua
dại với bệnh virút xoăn lá cà chua, các nhà khoa học đã thử nghiệm, đánh giá khả
năng kháng bệnh virút xoăn lá của 1201 dòng, giống cà chua ở cả hai điều kiện:
trong phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng từ năm 1986-1989. Kết quả nghiên
cứu cho thấy có 4 dòng cà chua thuộc 2 loài (L.hirsutum và L.peruvianum) là:
PI390658; PI390659; PI127830; PI127831 có khả năng kháng với bệnh xoăn lá cà

Nghiên cứu & Phát triển Nông nghiệp Malaisia ( MARDI) với Trung tâm nghiên
cứu & phát triển rau Châu Á (AVRDC) và Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp
Nhiệt đới (TARC) đã đưa ra được 6 dòng có khả năng chịu nhiệt, chịu héo xanh vi
khuẩn là: TM1; TM2; TM3; TM5; TM6 và TM10 (Melor 1986)[55];
18
Nhiễm bệnh viruts xoăn lá (ToLCV) vào giai đoạn ra hoa sẽ làm giảm đáng
kể năng suất cà chua. Từ năm 2002-2004, các nhà khoa học của AVRDC đã tiến
hành thử nghiệm, đánh giá khả năng kháng bệnh ToLCV của 6 giống cà chua
(CHT1312, CHT1313, CHT1372, CHT1374, CHT1358 và Tainan-ASVEG No.6 -
đối chứng) ở bốn địa điểm: AVRDC, Annan, Luenbey, Sueishan. Kết quả cho
thấy, khả năng kháng của các giống CHT là rất tốt, tỷ lệ nhiễm bệnh chỉ từ 5-11%
trong khi tỷ lệ nhiễm bệnh của đối chứng luôn ở mức cao 74-100%(2002) và 86,5-
100% (2003) [31,32,34].
Dựa vào những kết quả nghiên cứu của PYTs, Đài Loan đã đưa các giống cà
chua lai CHT1200, CHT1201 vào sản xuất với tên gọi chính thức là Hualien-
ASVEG No.13 và Hualien-ASVEG No.14. Các giống này có quả dạng oval, chắc,
khi chín có màu vàng cam, hàm lượng ß-carotene cao, tỷ lệ nứt quả thấp, có khả
năng kháng ToMV và nấm héo rũ Fusarium chủng 1 và 2 [32, 34].
Tháng 8/2005, AVRDC giới thiệu 3 giống cà chua mới là CLN2026D;
CLN2116B; CLN2123A. Cả 3 giống này đều thuộc loại hình sinh trưởng hữu hạn,
có khả năng chống chịu với nhiều loại bệnh hại như héo xanh vi khuẩn, héo rũ,
xoăn lá, đốm lá, khảm lá, các giống này cũng có khả năng chịu nóng tốt [35]. Đến
tháng 1/2006, AVRDC tiếp tục đưa ra giống cà chua mới CLN2498. Đây là giống
sinh trưởng bán hữu hạn, có gen có chứa alen Ty-2 (được lấy từ giống H24 của Ấn
Độ) giúp giống này có khả năng chống chịu đặc biệt với virus xoăn lá cà chua
(ToLCVs) ở nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Ngoài ra, giống này còn có năng
suất khá (50 tấn/ha), chất lượng tốt [36].
Tháng 01 năm 2007 dòng cà chua quả nhỏ màu vàng CHT1417 đã được công
nhận là giống mới và với tên gọi là ‘Hualien Asveg 21’. Đây là giống sinh trưởng vô
hạn, quả dạng oval khi chín có màu vàng cam, quả chắc, hương vị tốt, tỷ lệ nứt quả

tăng sức khỏe. Loại cà chua này cà màu đỏ rực rất giàu vitamin, protein, nhất là
tiền vitaminA [62].
Ngoài việc tăng cường vitamin, hàm lượng đường các nhà khoa học cũng
bắt đầu chú ý đến việc đưa một số chất kháng sinh vào trong quả cà chua nhằm
góp phần trị bệnh, tăng cường khả năng miễn dịch cho con người. Với mục tiêu
này, sau 10 năm nghiên cứu, Trung tâm Nghiên cứu công nghệ sinh học thuộc
20
Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Trung Quốc đã cho ra đời giống cà chua có
khả năng chống lại sự xâm nhập của viruts gây bệnh viêm gan B vào cơ thể con
người (dẫn theo Nguyễn Thanh Minh, 2004)[24].
Các nhà khoa học Anh và Hà Lan đã thành công khi cấy một gene qui định
việc tạo ra chất Flavonol của loài hoa Dạ Yên Thảo vào cây cà chua để tạo ra
giống cà chua có khả năng chữa bệnh ung thư và tim [7].
Theo Bùi Chí Bửu, đến cuối năm 1997, có 48 sản phẩm chuyển gen của 12
loại cây trồng đã được thương mại hoá. Trong đó, cà chua biến đổi gen chiếm 13%
[4]. Với tỷ lệ thương mại hoá khá cao như vậy, các nhà khoa học ở Novosibirsk
đang phát triển việc nghiên cứu đưa loại vacxin chống bệnh AIDS vào cà chua
thông qua biến đổi gen. Nhiều nghiên cứu cho rằng các mầm gây bệnh ở người và
động vật (viruts, prion ) không sinh sản trong các tế bào thực vật nên khi sử dụng
các protein tổng hợp từ cây biến đổi gen an toàn hơn nhiều so với các sản phẩm có
nguồn gốc từ động vật [28].
Năm 2003, AVRDC đã đưa ra giống cà chua quả vàng có hàm lượng β-
caroten cao gấp 3-6 lần so với giống cà chua màu đỏ. Giống này còn có hàm lượng
axít, độ ngọt tương đương so với các giống cà chua quả đỏ. Giống cà chua này sẽ
góp phần làm giảm tỷ lệ quáng gà, mù cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em ở các nước
đang và kém phát triển [33].
Chất lượng quả cà chua còn phụ thuộc vào tỷ lệ giữa độ chắc và dịch quả
trong ngăn hạt. Dịch quả là nguồn axít quan trọng và giúp người sử dụng cảm nhận
hương vị của quả cà chua. Theo Stevens, việc tăng hàm lượng axít và đường trong
thành phần dịch quả là việc làm cần thiết để tạo hương vị tốt cho những giống cà

một số nước như Hungari (giảm 79%), Pháp (giảm 50%), Hi Lạp (giảm 17%), Mỹ
(giảm 13,4%). Tuy có sự tăng giảm về diện tích ở các khu vực khác nhau xong
nhìn chung là diện tích trồng cà chua hàng năm đều tăng dẫn đến sản lượng cà
chua hàng năm cũng tăng trong khi năng suất tăng không đáng kể.
Bảng 2.Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
1995 3.272,021 26,770 87.592,093
1997 3.566,252 25,044 89.313,832
1999 3.736,183 27,733 104.366,671
2000 3.968,508 27,299 108.339,598
22
2003 4.188,389 27,921 116.943,619
2005 4.570,869 27,222 124.426,995
Bảng 3. Sản lượng cà chua của thế giới và 10 nước dẫn đầu thế giới
trong 4 năm 1995, 2000, 2003, 2005 (nghìn tấn)
Quốc gia 1995 2000 2003 2005
Thế giới 87.592,093 108.339,598 116.943,619 124.426,995
Trung Quốc 13.172,494 22.324,767 28.842,743 31.644,040
Mỹ 11.784,000 11.558,800 10.522,000 11.043,300
Thổ Nhĩ Kỳ 7.250,000 8.890,000 9.820,000 9.700,000
Ấn Độ 5.260,000 7.430,000 7.600,000 7.600,000
Italia 5.182,600 7.538,100 6.651,505 7.187,016
Ai Cập 5.034,179 6.785,640 7.140,198 7.600,000
Tây Ban Nha 2.841,100 3.766,328 3.947,327 4.651,000
Braxin 2.715,016 2.982,840 3.706,600 3.396,767
Iran 2.403,367 3.190,999 4.200,000 4.200,000
Mehico 2.309,968 2.086,030 2.148,130 2.800,115
Hi lạp 2.064,160 2.085,000 1.830,000 1.713,580
(Nguồn FAO)[45]
Về mức tiêu thụ bình quân trên đầu người thì Hy Lạp là nước đứng vị trí số

giống HP5 (trọng lượng quả cao 80÷100g, có khả năng chịu nóng, nhanh cho thu
hoạch).
Bên cạnh hướng chọn tạo chính là năng suất, các nghiên cứu về khả năng
kháng bệnh của cà chua cũng được quan tâm. Bằng phương pháp đánh giá tập đoàn
gồm 100 mẫu giống cà chua trồng trong điều kiện vụ xuân hè với các mục tiêu: khả
năng kháng bệnh, năng suất, chất lượng. Tạ Thu Cúc(1985) kết luận rằng: khả năng
chống bệnh giảm dần theo thứ tự: cà chua dại L.racemigerum, Pháp số 7, BCA-5,
Cuba; Cho năng suất cao gồm các giống:BCA-5, Nhật số 2, BCA-1, Ruko 3, BCA 3
và một số giống cho chất lượng tốt như: Pháp số 7, Rutgers, Saintpierre, Nhật số 2,
Ogort, Triumph. Cũng bằng việc nghiên cứu trên nguồn giống cà chua nhập nội,
Trung tâm nghiên cứu cây trồng Việt Xô đã chọn tạo được một số mẫu giống chín
sớm, năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu bệnh như: Raketa, Salut,
Bogdannovskii(Trần Đình Long và CTV,1992) (dẫn theo Trần Thị Minh Hằng)[12].
24
* Giai đoạn 2 (1986-1995):
Các chương trình nghiên cứu đã được tập trung vào các chương trình khoa
học cấp nhà nước với nhiều mục tiêu: tạo giống chống chịu với điều kiện ngoại
cảnh bất thuận, giống kháng bệnh, giống chất lượng.
Bằng phương pháp chọn lọc, từ 17 mẫu giống nhập nội, trong thời gian 3
năm (1991÷1994), Viện nghiên cứu rau quả đã tìm ra giống cà chua quả nhỏ chịu
nhiệt VR2 [29].
Từ năm 1991-1995, với chương trình KN.01 “ Phát triển cây lương thực, cây
thực phẩm” đã có nhiều giống cà chua chất lượng được giới thiệu: Giống Hồng lan
(Giống được GS.VS Vũ Tuyên Hoàng và CTV tuyển chọn từ một dạng đột biến do
xử lý lạnh cây con của giống Ba Lan trắng. Đây là giống có năng suất cao, khả
năng thích ứng rộng, giống được công nhận giống quốc gia năm 1993)[2]; giống
SB2, SB3 (là các giống được Viện khoa học Nông nghiệp Miền Nam chọn lọc từ
tổ hợp lai giữa 2 giống Star x Ba lan)
Từ năm 1989, Trung tâm Kỹ thuật rau quả Hà Nội đã chọn lọc được giống
CS1 từ quần thể lai của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển rau Châu Á. Đây là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status